Tiểu thuyết việt nam thập niên đầu thế kỷ XXI từ góc nhìn phân tâm học (TT) - Pdf 38

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

VĂN THỊ PHƯƠNG TRANG

TIỂU THUYẾT VIỆT NAM THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI
TỪ GÓC NHÌN PHÂN TÂM HỌC

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ:

62 22 01 21

HUẾ, 8/ 2016


Công trình được hoàn thành tại ……………………………
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hồ Thế Hà

Phản biện 1:............................................................................
Phản biện 2:............................................................................
Phản biện 3:............................................................................
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tại hội đồng
chấm luận án Đại học Huế họp tại
……………………………………………………………………...

Vào hồi…… giờ…………ngày………tháng……năm 201……….
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện…………………......................



Học thuyết phân tâm học gồm nhiều vấn đề. Trong luận án này,
chúng tôi chủ yếu sử dụng học thuyết của Freud (lý thuyết về tâm thần
bộ, thuyết tính dục và mặc cảm), lý thuyết cổ mẫu của Jung, G.
Bachelard làm cơ sở lý thuyết để triển khai những nội dung có liên
quan với luận án.

1


4. Phương pháp nghiên cứu
Để đáp ứng mục tiêu, nội dung luận án, chúng tôi sử dụng những
phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân loại
- Phương pháp cấu trúc – hệ thống
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp tiếp cận vấn đề từ lí thuyết phân tâm học
5. Đóng góp khoa học của đề tài
Chúng tôi sẽ trình bày một cách hệ thống, ngắn gọn về lý thuyết
phân tâm học ở những vấn đề cơ bản như thuyết tâm thần bộ, thuyết
tính dục, phức cảm cũng như vấn đề cổ mẫu làm cơ sở để soi chiếu
vào tiểu thuyết đương đại.
Từ góc nhìn phân tâm học, luận án khảo sát, nghiên cứu về giá trị
tiểu thuyết Việt Nam thập niên đầu thế kỷ XXI trên hai phương diện
nội dung và hình thức nghệ thuật. Về nội dung, luận án đi sâu làm nổi
bật về vấn đề các kiểu nhân vật qua lăng kính của phân tâm học. Về
phương thức biểu hiện, luận án tìm hiểu các vấn đề về biểu tượng, thời
gian - không gian nghệ thuật cũng như ngôn ngữ nhằm nổi bật giá trị
nghệ thuật của tác phẩm. Từ đó, luận án sẽ mang đến một cái nhìn mới
về diện mạo tiểu thuyết Việt Nam thập niên đầu thế kỷ XXI.
6. Cấu trúc luận án

đối với khuynh hướng phê bình này là Carl Gustav Jung với phê bình
siêu mẫu, Bachelard với phân tâm học vật chất và J. Lacan với phân
tâm học ngôn ngữ. Đây là phương pháp phê bình tạo điều kiện mở
rộng sự liên tưởng, giúp nhà phê bình có thêm khả năng diễn giải văn
bản.
1.1.3. Phê bình phân tâm học người đọc
Lý luận văn học hiện đại đã có những khám phá mới hơn về đặc
trưng bản thể của văn bản văn học trong mối quan hệ với người đọc,
đề cập đến vấn đề vô thức của người đọc trong quá trình tiếp nhận văn
học. Norman Holland là đại diện tiêu biểu của khuynh hướng này. Ông
quan tâm đến liên chủ thể của sự hiểu văn bản, khi những người đọc
khác nhau khám phá những nghĩa mới, và hướng tiếp cận mới.
1.2. Tình hình nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam từ góc nhìn phân
tâm học
Phân tâm học dù đi vào Việt Nam từ rất sớm nhưng cả một thời
gian dài không thể tìm được sự hoà nhập. Quá trình tiếp nhận lý thuyết
phân tâm học vào nghiên cứu văn học Việt Nam quả là chặng đường
3


gian nan với những thăng trầm đứt nối. Giai đoạn văn học trước 1986,
việc vận dụng lý thuyết phân tâm học chưa thực sự là một trào lưu phổ
biến trong sáng tác và phê bình văn học. Bạn đọc cũng như giới phê
bình cũng chưa có cái nhìn toàn diện và khách quan về phân tâm học,
chủ yếu chỉ nhận thức phân tâm học như một học thuyết về tính dục.
Sau năm 1986, với khuynh hướng đổi mới toàn diện và hội nhập, phân
tâm học đã được vận dụng khá nhiều vào nghiên cứu văn học, chủ yếu
là tham chiếu vào các tác phẩm đương đại từ vấn đề ẩn ức tính dục,
phức cảm, cũng như lý thuyết cổ mẫu của Jung. Nhìn chung, từ sau
năm 1986, vấn đề phân tâm học được vận dụng và soi chiếu tác phẩm

Thạch….
Điểm qua tình hình nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn
1986 đến 2000 từ góc nhìn phân tâm học, có thể nhận thấy một điều,
tuy chưa có một công trình nghiên cứu nào mang tính quy mô, nhưng
hầu như những bài viết cũng đã đề cập được vấn đề trọng tâm của tiểu
thuyết giai đoạn này. Giới phê bình đã bắt đầu quan tâm đến sự ảnh
hưởng của phân tâm học trong tiểu thuyết Việt Nam 1986 - 2000.
1.2.2. Tình hình nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam thập niên đầu thế
kỷ XXI từ góc nhìn phân tâm học
Sang đầu thế kỷ XXI, vấn đề về vô thức, tính dục... nếu chỉ mới
manh nha ở giai đoạn trước thì sang thập niên đầu thế kỷ, đã được các
nhà tiểu thuyết phát huy như một thế mạnh của mình. Giới phê bình
lại một lần nữa có dịp nghiên cứu tìm kiếm nét mới, sự không trùng
lặp của tác phẩm tiểu thuyết Việt Nam thập niên đầu thế kỷ XXI.
Vấn đề vô thức, tâm linh, tính dục trở thành yếu tố không thể
không nói đến khi nhắc đến tiểu thuyết giai đoạn này. Các tác giả như
Trần Thanh Hà, Hoàng Thị Huế, Nguyễn Thành, Đào Tuấn Ảnh,
Hoàng Cẩm Giang, Đỗ Ngọc Thạch, Bùi Việt Thắng... đã nhận thấy
sức hấp dẫn của tác phẩm chính là sự ảnh hưởng thuyết phân tâm học
của Freud, sức ảm ảnh về con người bản năng. Nhà văn đã mạnh dạn
coi tính dục như ngả rẽ dẫn vào tâm linh, thể hiện khát khao giải phóng
bản thể.
Bên cạnh đó, cũng có vài bài viết quan tâm đến phương thức biểu
hiện trong tác phẩm như ngôn ngữ, biểu tượng... nhằm hướng đến một
cách cảm nhận riêng, đa chiều hơn. Vận dụng lý thuyết về mẫu gốc
của Jung, nhiều nhà phê bình đã soi chiếu vào tiểu thuyết giai đoạn
này để khám phá thế giới nghệ thuật của tác phẩm như Đào Vũ Như
An, Trần Thị An, Bùi Thanh Truyền…
Nhìn chung, nhiều công trình đã vận dụng học thuyết phân tâm
học để lý giải các hiện tượng văn học một cách có hiệu quả. Tuy nhiên,

và phương thức nghệ thuật.

6


CHƯƠNG 2: PHÂN TÂM HỌC VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG PHÂN
TÂM HỌC TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM THẬP NIÊN
ĐẦU THẾ KỶ XXI (25 trang)
2.1. Một số lý thuyết căn nền của phân tâm học
2.1.1. Lý thuyết về tâm thần bộ
Phân tâm học nghiên cứu về những vấn đề bên trong con người.
Vô thức - Tiềm thức - Ý thức là những phạm trù cơ bản xây dựng nên
học thuyết phân tâm học, là đối tượng nghiên cứu của phân tâm học.
Một trong những vấn đề trọng tâm khi nói đến phân tâm học chính
là khái niệm vô thức. Vô thức là khái niệm dùng để chỉ tập hợp các
cấu tạo, quá trình và cơ chế tâm lý mà sự vận hành và ảnh hưởng của
chúng chủ thể không ý thức được. Người đầu tiên khai phá ra mảnh
đất vô thức chính là S. Freud. Trước ông cũng đã có nhiều người
nghiên cứu về vô thức như Descartes, nhà tư tưởng Đức thế kỷ XVIII
Leibniz, Hegel, Schopenhauer hay Nietzsche... nhưng chỉ đến Freud
vấn đề về vô thức được đề cập một cách có hệ thống như một khoa
học về vô thức. Sau Freud, một người học trò - một người bạn của
Freud - C.G. Jung cũng nhận thấy một thế giới tách rời, biệt lập với ý
thức. Xuất phát từ việc nghiên cứu đời sống tâm hồn con người thông
qua các vấn đề về huyền thoại, tôn giáo..., Jung đã khám phá ra nhiều
điều thú vị về vô thức. Jung đã phân chia vô thức thành hai nhóm: vô
thức cá nhân và vô thức tập thể (phi cá nhân). Bàn về vô thức, không
thể không nhắc đến phạm trù giấc mơ, khi vô thức được xem như trạng
thái tâm lý gắn liền với hoạt động của giấc mơ. Giấc mơ là nơi những
ẩn ức, dồn nén được bộc lộ. Giấc mơ bộc lộ một cách không rõ ràng

nên những hành vi, những xung đột trong tâm lý người.
Con người luôn có ham muốn và đồng thời có phức cảm. Không
phải ngẫu nhiên mà Freud quy mọi hoạt động của con người từ bản
năng tính dục. Bản năng tính dục với những ham muốn cần thỏa mãn
mà bị kiềm nén dẫn đến dồn nén những phức cảm. Phức cảm là trạng
thái tâm lý phức tạp của con người, và là đối tượng nghiên cứu của
phân tâm học. Khi tự ý thức về chính mình, đặc biệt là những khuyết
điểm của mình, con người ta thường hay rơi vào trạng thái phức cảm,
đố kỵ, tự ti, ham muốn. Freud cũng từng nghiên cứu về phạm trù lo âu
của con người. Cảm giác này có thể do hiện thực, do đạo đức, hay do
ám ảnh về thần kinh, có thể gây ra những phức cảm.
2.1.3. Lý thuyết về cổ mẫu và phân tâm học về lửa
Cổ mẫu, một thuật ngữ do nhà tâm lý học phân tích người Thuỵ
Sĩ - Carl Jung (1875 – 1961) đề ra đầu thế kỷ XX. Trong quá trình tìm
hiểu về vô thức tập thể, từ việc nghiên cứu các huyền thoại, cổ tích,
nghiên cứu giấc mơ, tôn giáo, điều trị y học…và ông đã phát hiện ra
cổ mẫu. Với Jung, cổ mẫu là đúng và hữu ích bởi vì nó cho ta biết rằng
những nội dung vô thức tập thể có liên quan khi chúng ta xem xét
những hình thức cổ xưa, hoặc đúng hơn, những hình thức nguyên thuỷ,
tức là những hình ảnh chung tồn tại từ những thời đại xa xưa nhất. Cổ
mẫu vốn có khuynh hướng bản năng, được tạo nên từ sự kết hợp giữa
bản năng và lý trí - nơi kinh nghiệm cộng đồng được tích luỹ, truyền
8


từ thế hệ này đến thế hệ khác. Ở đó, còn mang dấu ấn của yếu tố văn
hoá - lịch sử, dấu ấn của tâm thức cộng đồng. Theo Jung, ứng với mỗi
trạng thái người sẽ có một cổ mẫu. Số lượng cổ mẫu là rất nhiều. Mỗi
cổ mẫu thường có cấu trúc và ý nghĩa riêng nhưng chúng thường có
mối liên hệ, tương quan với nhau. Trong quá trình tìm kiếm cổ mẫu,


9


con đường dẫn đến vô thức sáng tạo của người nghệ sỹ - chủ thể quá
trình sáng tạo.
2.3. Sự ảnh hưởng phân tâm học trong tiểu thuyết Việt Nam thập
niên đầu thế kỷ XXI
2.3.1. Những tiền đề cơ bản của việc vận dụng phân tâm học trong
tiểu thuyết Việt Nam thập niên đầu thế kỷ XXI
Việc đổi mới cái nhìn, đổi mới trong cách khám phá cuộc sống
và con người của tiểu thuyết Việt Nam thập niên đầu thế kỷ XXI là
một thành tựu đáng kể. Bao gồm các cơ sở như: cơ sở thực tế trong
hành trình đổi mới về quan niệm và sáng tác văn học của nước ta, cơ
sở lý luận cũng như thực tiễn tiếp nhận lý thuyết phân tâm học ở Việt
Nam, và ý thức cách tân văn học của các nhà văn giai đoạn này.
2.3.2. Khái quát về sự ảnh hưởng phân tâm học trong tiểu thuyết
Việt Nam thập niên đầu thế kỷ XXI
Tiểu thuyết Việt Nam thập niên đầu thế kỷ XXI đã có sự cách tân
đáng kể về quan niệm nghệ thuật cũng như phương thức thể hiện. Từ
thời kỳ đổi mới, tiểu thuyết Việt Nam thực sự có sự chuyển mình
không thể phủ nhận. Các tác phẩm đã mang đến cho văn học một luồng
gió mới, bàng bạc màu sắc phân tâm. Đọc các tác phẩm tiểu thuyết của
Nguyễn Đình Tú, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Y Ban..., người
đọc có thể nhận thấy một cách nhìn toàn diện hơn, đa chiều về cuộc
sống, con người, cách thể hiện cũng phong phú, đặc sắc hơn. Từ học
thuyết phân tâm học, quét một cái nhìn khắp dòng chảy tiểu thuyết
thập niên đầu thế kỷ XXI, người đọc có thể nhận ra sự ảnh hưởng học
thuyết từ đề tài, cốt truyện, nhân vật đến các yếu tố như không gian,
thời gian nghệ thuật, ngôn ngữ... Sự ảnh hưởng các học thuyết phương

- Kiểu nhân vật với đời sống tính dục
3.1. Kiểu nhân vật với đời sống vô thức, tâm linh
3.1.1. Nhân vật với sự quẫy đạp của vô thức
Freud đã làm nhân loại choáng váng khi đề cao vị trí của vô thức
trong hoạt động của con người. Theo Freud, hành vi của con người do
vô thức mà thành. Sự phủ nhận vai trò của ý thức trong hoạt động
người là một tuyên bố tưởng chừng vô lý, trái ngược với quan niệm
thường thấy. Vô thức là nơi ẩn chứa ham muốn bị kìm nén, nơi tồn tại
xung năng libido, nơi hữu thức bị dồn nén trở thành vô thức. Đó là cõi
mênh mông vô định trong sâu thẳm tâm lý người, ẩn chứa bản năng
dục vọng của con người. Các nhà phân tâm học xem vô thức như một
hầm trú ẩn cá nhân chứa đầy những ước muốn chính đáng hoặc không
chính đáng, không được thoả mãn. Vô thức càng bị dồn nén thì càng
có khuynh hướng tìm cách thoát ra để được giải toả, bộc lộ mình giữa
trời đất, cỏ cây. Nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam thập niên đầu thế
kỷ XXI thường bị ảm ảnh bởi vô thức. Nỗi ám ánh vô thức và sự sợ
hãi chập chờn đã khiến con người nhiều lúc như chạy vụt ra khỏi thực
tại, quấn chặt mình giữa hư vô.
Giấc mơ cũng là dạng biểu hiện khác của vô thức, là địa hạt của
thế giới kỳ ảo, nơi mọi khát khao như vỡ ra. Nói như Freud, đó là lúc
bản chất dã thú vô pháp lộ ra trong giấc ngủ, là sự diễn đạt trá hình và
bị bóp méo về một mong muốn bị dồn nén, bị cấm đoán. Tìm về huyền
11


thoại, tái hiện giấc mơ, các nhà văn đương đại đã tìm một ngả rẽ đi sâu
vào đời sống gần như bản năng của con người. Mỗi nhà văn có một
cách thể hiện giấc mơ với dụng ý nghệ thuật riêng... nhưng điều gặp
gỡ vẫn là sự giải thoát ẩn ức, là ám ảnh, là điềm báo. Với Freud, lý giải
giấc mơ chính là ngã rẽ đi vào cõi vô thức mông lung của con người.


12


3.2. Kiểu nhân vật với các phức cảm
Trong quá trình nghiên cứu về vô thức, Freud cũng đã khám phá
ra trong cõi sâu thẳm con người luôn tồn tại những phức cảm. Freud
đã gọi tên những mặc cảm ấy là mặc cảm thân phận, mặc cảm tàn phế,
mặc cảm Oedipe.
3.2.1. Nhân vật với phức cảm hoạn - phức cảm thân phận
Học trò của Freud - Alfried Adler cũng đã tìm hiểu về phức cảm
hoạn - phức cảm liên quan đến bộ phân sinh dục nam. Từ đó, người
vận dụng có thể mở rộng ra những trạng thái tâm lý, cảm xúc của con
người khi nhu cầu bản năng của con người bị kiềm nén, là mâu thuẫn
mặc cảm về thân phận, về những sự tồn tại của mình trong cuộc đời
khi sự tồn tại ấy không thể mang lại cho con người sự thỏa mãn trong
ý thức. Rất nhiều nhân vật trong tiểu thuyết thập niên đầu thế kỷ XXI
luôn mang trong mình cảm giác về sự bất hạnh, sự thiệt thòi khi chính
họ cũng đã chịu nhiều mất mát từ hoàn cảnh.
3.2.2. Nhân vật với phức cảm Oedipe
Xuất phát từ thần thoại Hy Lạp, câu chuyện vua Oedipe bị buộc
vào lời nguyền số phận, nên đã giết cha và lấy mẹ, Freud đã nghiên
cứu về mặc cảm tính dục ấu thơ của con người và cho rằng, mỗi người
đều có những ham muốn Oedipe dù từ ý thức, họ sợ hãi trước điều đó.
Phức cảm Oedipe là sự lặp lại những mặc cảm thuở ấu thơ trước cha
hoặc mẹ, luôn tồn tại trong mỗi con người ở dạng vô thức. Nhân vật
trong tiểu thuyết giai đoạn này thường tự giam hãm mình trong những
ám ảnh như thế.
3.3. Kiểu nhân vật với đời sống tính dục thường ngày
Học thuyết Freud ra đời nhằm hướng đến cuộc giải phóng cái tôi

trong cảm xúc và rung động, nhưng có khi chỉ là lối thoát của cô đơn
và bế tắc. Buông xuôi mình trước cám dỗ của tính dục cũng là một
biểu hiện thường thấy của con người. Sự vỗ về cảm giác thường có
khả năng xoa dịu những vết thương tâm hồn đang đẩy con người vào
quằn quại. Chính vì thế, các tiểu thuyết Việt Nam thập niên đầu thế kỷ
XXI thường khắc họa con người cô đơn tuột dài trong tính dục.
*
*
*
Vận dụng yếu tố phân tâm học để khai thác hiện thực đời sống và
hiện thực tâm hồn nhân vật, các nhà tiểu thuyết đương đại đã phơi bày
cả những mặt trái xã hội và nỗi đau trong mỗi nhân vật. Những vấn đề
về vô thức, tâm linh, vấn đề mặc cảm hay cả những vấn đề về tính dục
đã thể hiện một cách chân thực, sinh động. Đó là bức tranh toàn cảnh
về hiện thực tâm hồn, đằng sau một hiện thực ngổn ngang về đời sống.
Từ góc nhìn phân tâm học, bao nhiêu trăn trở, tâm tư của con người
như được phơi bày, bộc bạch cùng những buồn vui, ẩn ức...

14


CHƯƠNG 4: PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN CỦA TIỂU
THUYẾT VIỆT NAM THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI TỪ GÓC
NHÌN PHÂN TÂM HỌC (40 trang)
4.1. Biểu tượng
Tìm hiểu biểu tượng là con đường đi vào một trong những ngả rẽ
của nền văn hóa. Tìm hiểu về biểu tượng có vai trò quan trọng trong
việc nghiên cứu đời sống con người. Biểu tượng có liên quan tổng hợp
đến các yếu tố về tâm lý, xã hội, thần thoại, tôn giáo... và là đối tượng
nghiên cứu của phân tâm học. Tiếp nhận học thuyết phân tâm học, các

nóng, có khả năng thiêu hủy, tái sinh. Trong tiểu thuyết đương đại, lửa
xuất hiện khá nhiều, được biến thể qua nhiều hình ảnh khác nhau như
bếp lửa, đèn dầu, khói, mặt trời..
- Lửa còn là hình ảnh của đam mê, nhiệt huyết và cảm xúc,
khao khát tính dục. Đó là ngọn lửa vô hình với sức thiêu hủy không
kém, nó có thể thiêu đốt và làm bừng sáng cõi tăm tối nhất của tâm
hồn. Lửa đóng vai trò quan trọng trong đời sống thì lửa tâm hồn càng
có ý nghĩa đối với con người.
4.1.2. Biểu tượng Nước
Lửa thường gắn với bản nguyên đối lập là nước. Nước thuộc cái
lạnh, thuộc về ngày Đông chí... nhưng vẫn có sự liên hệ với lửa. Nước
cũng là một biểu tượng có những điểm tương đồng với lửa. Theo Tự
điển biểu tượng văn hóa thế giới, sự tẩy uế bằng lửa bổ sung cho sự
tẩy uế bằng nước. Biểu tượng nước có ba ý nghĩa cơ bản, nước vừa là
nguồn sống, vừa là phương tiện thanh tẩy, là trung tâm tái sinh.
- Nước bao giờ cũng gợi lên sự tinh khiết, mát lành như sức
mạnh huyền diệu, trong lành của thể xác và tâm hồn, tưới mát lên vạn
vật khiến vạn vật trở nên sinh sôi nảy nở, mang lại nguồn sống nơi
nơi. Nước có ý nghĩa như một sự tái sinh, được xem như biểu tượng
của sự “phì nhiêu và khả năng sinh sản dồi dào”.
- Nước cũng là “công cụ thanh tẩy”. Nước không chỉ có tính
chất thanh khiết, mà còn có khả năng làm mọi vật trở nên thanh khiết.
- Nước còn được xem như tượng trưng cho “sự khởi đầu thế
giới” và đồng thời tượng trưng cho nước cảm tính: đây là mẹ và tử
cung. Là nguồn gốc của muôn vật, nước biểu hiện cái siêu tại và do đó
phải được coi là một dạng thần hiện. Với những ý nghĩa như vậy, nước
còn được xem là nơi của “niềm hoan lạc, kỳ thú”, nơi gặp gỡ, hò hẹn,
nơi tình yêu ươm mầm.
- Nước là nơi “tái sinh, cứu sinh” nhưng chính nước cũng giống
như lửa, có khả năng hủy diệt và nhấn chìm vạn vật.

Bên cạnh kiểu không gian, thời gian phi thực, các nhà tiểu thuyết
thập niên đầu thế kỷ XXI cũng sử dụng kiểu không gian, thời gian hiện
thực. Đó là không gian thực và thời gian vật lý, có tác động đến tâm
trạng nhân vật.
Không gian nghệ thuật thường được sử dụng trong tiểu thuyết
giai đoạn này là:
- Không gian bóng đêm.
- Không gian trăng.
- Không gian mưa.
- Không gian buồng, phòng...
Thời gian nghệ thuật có thể kể đến là thời gian đêm, thời gian
giấc mơ...

17


4.3. Ngôn ngữ
Văn học là nghệ thuật của ngôn từ khi người nghệ sĩ với sự tài
hoa của mình đã biến hóa ngổn ngang từ ngữ thành tinh hoa chắt lọc.
Tiếp xúc với tác phẩm nghệ thuật, yếu tố đầu tiên tác động đến người
đọc, đó chính là ngôn ngữ. Ngôn ngữ trong tác phẩm vượt lên trên lớp
từ ngữ thông thường để mang trong mình những dấu ấn thời đại cùng
phong cách cá nhân. Vận dụng phân tâm học để thể hiện hiện thực
phức tạp trong tâm lý người cũng như những ngột ngạt, dồn nén trong
xã hội, các nhà tiểu thuyết đương đại đều có ý thức sử dụng hệ thống
ngôn ngữ đặc sắc, mang màu sắc phân tâm. Ngôn ngữ trong hầu hết
các tiểu thuyết đương đại đều gợi ám ảnh về dục tính, giàu sắc thái
biểu cảm, gợi nhiều liên tưởng, đồng thời ngôn ngữ ám gợi như một
dòng chảy từ trong vô thức.
4.3.1. Ngôn ngữ nhuốm màu sắc dục tính

văn hóa. Bên cạnh những biểu tượng lớn có ý nghĩa như cổ mẫu, ngôn
ngữ tiểu thuyết còn trở nên huyền ảo, hư vô hơn bởi những hệ thống
ngôn từ có ý nghĩa như biểu tượng, có tính chất như những ký hiệu lặp
đi lặp lại nhiều lần trong tác phẩm. Có thể kể đến những từ như: hang
đá, hồn ma, máu, sống, chết….
Người đọc đứng trước thế giới mênh mông của ngôn từ không
tránh khỏi ám ảnh bởi ẩn số mà tự mình phải tự đi tìm. Nó giống như
một trò chơi ngôn ngữ, mà người đọc vừa chủ động vừa lúng túng giữa
mê cung từ ngữ ấy. Điều này đã tạo nên sự lạ hóa trong ngôn ngữ văn
chương, cũng như sự bí ẩn trong từng câu chữ... để rồi mỗi trang văn
gợi trong người đọc nhiều suy tư, ngẫm nghĩ đa diện, đa chiều!
*
* *
Thành tựu nghệ thuật về ngôn ngữ, không gian - thời gian hay
biểu tượng đã mang đến cho tiểu thuyết Việt Nam thập niên đầu thế
kỷ XXI những sáng tạo mới. Để khắc họa ẩn ức sâu kín trong vô thức
nhân vật, các nhà tiểu thuyết đã sử dụng các biểu tượng, hệ thống ngôn
ngữ đậm sắc màu tính dục cũng như mang tính ký hiệu. Ngôn ngữ là
chất liệu góp phần dệt nên tác phẩm nghệ thuật. Bản thân ngôn ngữ
mang hơi hướng phân tâm học cũng đã thể hiện được thế giới nghệ
thuật độc đáo, mới lạ, phù hợp với dụng ý của nhà văn. Đọc tiểu thuyết
Việt Nam đương đại, người đọc như bị cuốn hút bởi ngôn từ nghệ thuật
cũng như cách xây dựng các kiểu không gian, thời gian. Con người
bao giờ cũng bị chi phối bởi hoàn cảnh. Từ góc nhìn phân tâm học,
con người trong tác phẩm hiện lên đầy ám ảnh bởi vô thức, bản năng.
Chính việc sử dụng những phương thức nghệ thuật đặc sắc, các nhà
tiểu thuyết đương đại đã thể hiện nổi bật cõi sâu tâm trạng, góp phần
làm nên thành tựu đáng kể của tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI.

19

Chính Freud cũng đã tìm thấy mối liên hệ giữa phân tâm học và
văn học, khi từ văn học, ông xác định hệ thống lý thuyết của mình. Từ
phân tâm học, với các trường phái phê bình khác nhau, người đọc có
thể hiểu hơn về văn bản văn học, dựa vào các phạm trù về vô thức,
tính dục, huyền thoại cá nhân, biểu tượng…. Mối quan hệ giữa lý
thuyết phân tâm học và nghiên cứu văn học đã mở ra phương pháp
20


nghiên cứu tập trung vào mối quan hệ giữa tác giả - văn bản - người
đọc. Chính vì vậy, phương pháp phê bình phân tâm học được giới phê
bình rất quan tâm. Ở nước ta, học thuyết phân tâm học đã được tiếp
nhận từ những năm ba mươi của thế kỷ XX, nhưng do rào cản quan
niệm chi phối, mãi đến sau đổi mới (1986), quá trình tiếp biến và vận
dụng các lý thuyết văn học hiện đại phương Tây, trong đó có phân tâm
học, mới thực sự tạo nên một diện mạo mới trong văn học, đặc biệt là
thể loại tiểu thuyết. Xét riêng mảng tiểu thuyết Việt Nam thập niên
đầu thế kỷ XXI, người đọc có thể nhận thấy, tác phẩm không chỉ đi
vào diện rộng về đề tài, không chỉ sao chép tất cả ngồn ngộn bể dâu
của cuộc đời, mà đã nhìn những mấp mô hiện thực ấy bằng một cái
nhìn riêng. Qua nhiều trang viết tưởng như tưng tửng, chơi chơi, phảng
phất mùi tính dục, người đọc vẫn nhận ra bao khát vọng dồn nén đầy
nhân văn như muốn mở toang cửa ngõ, vốn đã ngàn năm phong kín
trong tâm thức. Với muôn mặt đời thường hiện lên từ góc nhìn thế sự,
tình yêu, tâm linh, người viết đã làm nên những mẩu kí hoạ về bức
tranh cuộc đời đa chiều, đa sắc, đan xen những nội tâm đầy náo nức,
xung năng giữa cõi tạm.
Nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam thập niên đầu thế kỷ XXI từ
phạm trù vô thức, tình dục của S. Freud, người đọc có cảm nhận chung
về một thế giới nhân vật dồn nén giữa những khát khao, ham muốn và

người càng tự day dứt mình bởi phức cảm. Sự đấu tranh muôn thuở
giữa khát khao hướng về cái đẹp, cái thiện và sự bủa vây trì trệ của
hoàn cảnh, số phận đã gây ra những phức cảm Hoạn, phức cảm
Oedipe. Con người phức cảm cũng là một kiểu nhận vật xuất hiện khá
nhiều trong tiểu thuyết đầu thế kỷ XXI.
Bên cạnh đó, tiểu thuyết đương đại đã mạnh dạn phá toang cửa
ngõ bản năng để phơi bày trên trang viết. Các cây bút đã không còn e
dè, ngần ngại khi đề cập yếu tố sắc dục, tình yêu nhục thể - vấn đề khá
nhạy cảm, riêng tư của mỗi cá nhân. Từ sau đổi mới văn học năm
1986, con người tính dục cũng được nhắc đến khá nhiều trong văn học
với nhiều góc nhìn khác nhau. Đó có thể là khát khao tính dục đầy
nhân bản, là cảm xúc tính dục buông tuồng, cả nỗi cô đơn, ẩn ức.
Thuyết tính dục được xem như lõi của phân tâm học. Chạm đến vấn
đề tính dục, các nhà tiểu thuyết đã thể hiện một cái nhìn cảm thông và
trân trọng. Những gì thuộc về con người phải đều không xa lạ đối với
văn học. Nhà văn phải nói lên tiếng nói của khát khao và ẩn ức, phơi
trần điều đằng sau lớp phông màn một thời giấu kín. Tuy nhiên, từ
trong cô đơn bế tắc, con người hiện đại nhiều lúc cũng không giữ được
mình. Lối sống hiện đại vượt rào đạo đức cũng được bóc trần trong
22


nhiều tiểu thuyết. Sự sa đọa về nhân cách và lối sống trở thành tiếng
kêu, hồi chuông thức tỉnh về cõi người tận thế.
Tiểu thuyết đương đại là bức tranh sống động về một xã hội trần
trụi. Giá trị của tác phẩm không chỉ dừng lại ở góc nhìn Đẹp về con
người và cuộc sống, mà ngược lại, đó còn là sự lên án và hướng Thiện.
Văn học hoán cải con người ngay trong cái Ác, cái Xấu, cái nhỏ nhen
và sa đọa. Trong tiểu thuyết đương đại, các kiểu nhân vật được khắc
họa một cách đa dạng như chính sự tồn tại của nó giữa cuộc đời. Con


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status