ĐẠI HỌC HUẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
VĂN THỊ PHƢƠNG TRANG
TIỂU THUYẾT VIỆT NAM THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI
TỪ GÓC NHÌN PHÂN TÂM HỌC
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ:
62 22 01 21
HUẾ, 8/ 2016
Công trình được hoàn thành tại ……………………………
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hồ Thế Hà
Phản biện 1:............................................................................
Phản biện 2:............................................................................
Phản biện 3:............................................................................
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tại hội đồng
chấm luận án Đại học Huế họp tại
……………………………………………………………………...
Vào hồi…… giờ…………ngày………tháng……năm 201……….
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện…………………......................
chúng tôi chủ yếu sử dụng học thuyết của Freud (lý thuyết về tâm
thần bộ, thuyết tính dục và mặc cảm), lý thuyết cổ mẫu của Jung, G.
Bachelard làm cơ sở lý thuyết để triển khai những nội dung có liên
quan với luận án.
1
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để đáp ứng mục tiêu, nội dung luận án, chúng tôi sử dụng
những phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân loại
- Phương pháp cấu trúc – hệ thống
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp tiếp cận vấn đề từ lí thuyết phân tâm học
5. Đóng góp khoa học của đề tài
Chúng tôi sẽ trình bày một cách hệ thống, ngắn gọn về lý thuyết
phân tâm học ở những vấn đề cơ bản như thuyết tâm thần bộ, thuyết
tính dục, phức cảm cũng như vấn đề cổ mẫu làm cơ sở để soi chiếu
vào tiểu thuyết đương đại.
Từ góc nhìn phân tâm học, luận án khảo sát, nghiên cứu về giá
trị tiểu thuyết Việt Nam thập niên đầu thế kỷ XXI trên hai phương
diện nội dung và hình thức nghệ thuật. Về nội dung, luận án đi sâu
làm nổi bật về vấn đề các kiểu nhân vật qua lăng kính của phân tâm
học. Về phương thức biểu hiện, luận án tìm hiểu các vấn đề về biểu
tượng, thời gian - không gian nghệ thuật cũng như ngôn ngữ nhằm
nổi bật giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Từ đó, luận án sẽ mang đến
một cái nhìn mới về diện mạo tiểu thuyết Việt Nam thập niên đầu thế
kỷ XXI.
6. Cấu trúc luận án
hưởng lớn đối với khuynh hướng phê bình này là Carl Gustav Jung
với phê bình siêu mẫu, Bachelard với phân tâm học vật chất và J.
Lacan với phân tâm học ngôn ngữ. Đây là phương pháp phê bình tạo
điều kiện mở rộng sự liên tưởng, giúp nhà phê bình có thêm khả
năng diễn giải văn bản.
1.1.3. Phê bình phân tâm học người đọc
Lý luận văn học hiện đại đã có những khám phá mới hơn về đặc
trưng bản thể của văn bản văn học trong mối quan hệ với người đọc,
đề cập đến vấn đề vô thức của người đọc trong quá trình tiếp nhận
văn học. Norman Holland là đại diện tiêu biểu của khuynh hướng
này. Ông quan tâm đến liên chủ thể của sự hiểu văn bản, khi những
người đọc khác nhau khám phá những nghĩa mới, và hướng tiếp cận
mới.
1.2. Tình hình nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam từ góc nhìn phân
tâm học
3
Phân tâm học dù đi vào Việt Nam từ rất sớm nhưng cả một thời
gian dài không thể tìm được sự hoà nhập. Quá trình tiếp nhận lý
thuyết phân tâm học vào nghiên cứu văn học Việt Nam quả là chặng
đường gian nan với những thăng trầm đứt nối. Giai đoạn văn học
trước 1986, việc vận dụng lý thuyết phân tâm học chưa thực sự là
một trào lưu phổ biến trong sáng tác và phê bình văn học. Bạn đọc
cũng như giới phê bình cũng chưa có cái nhìn toàn diện và khách
quan về phân tâm học, chủ yếu chỉ nhận thức phân tâm học như một
học thuyết về tính dục. Sau năm 1986, với khuynh hướng đổi mới
toàn diện và hội nhập, phân tâm học đã được vận dụng khá nhiều vào
nghiên cứu văn học, chủ yếu là tham chiếu vào các tác phẩm đương
khía cạnh nhân bản của văn học. Tính dục trở thành một phương tiện
nghệ thuật của các nhà tiểu thuyết đương đại. Nhiều nhà nghiên cứu
đã chạm đến vùng sáng tác này như Võ Thị Hoa, Lê Thị Hường,
Phạm Xuân Thạch….
Điểm qua tình hình nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn
1986 đến 2000 từ góc nhìn phân tâm học, có thể nhận thấy một điều,
tuy chưa có một công trình nghiên cứu nào mang tính quy mô, nhưng
hầu như những bài viết cũng đã đề cập được vấn đề trọng tâm của
tiểu thuyết giai đoạn này. Giới phê bình đã bắt đầu quan tâm đến sự
ảnh hưởng của phân tâm học trong tiểu thuyết Việt Nam 1986 2000.
1.2.2. Tình hình nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam thập niên đầu
thế kỷ XXI từ góc nhìn phân tâm học
Sang đầu thế kỷ XXI, vấn đề về vô thức, tính dục... nếu chỉ mới
manh nha ở giai đoạn trước thì sang thập niên đầu thế kỷ, đã được
các nhà tiểu thuyết phát huy như một thế mạnh của mình. Giới phê
bình lại một lần nữa có dịp nghiên cứu tìm kiếm nét mới, sự không
trùng lặp của tác phẩm tiểu thuyết Việt Nam thập niên đầu thế kỷ
XXI.
Vấn đề vô thức, tâm linh, tính dục trở thành yếu tố không thể
không nói đến khi nhắc đến tiểu thuyết giai đoạn này. Các tác giả
như Trần Thanh Hà, Hoàng Thị Huế, Nguyễn Thành, Đào Tuấn Ảnh,
Hoàng Cẩm Giang, Đỗ Ngọc Thạch, Bùi Việt Thắng... đã nhận thấy
sức hấp dẫn của tác phẩm chính là sự ảnh hưởng thuyết phân tâm học
của Freud, sức ảm ảnh về con người bản năng. Nhà văn đã mạnh dạn
coi tính dục như ngả rẽ dẫn vào tâm linh, thể hiện khát khao giải
phóng bản thể.
Bên cạnh đó, cũng có vài bài viết quan tâm đến phương thức
biểu hiện trong tác phẩm như ngôn ngữ, biểu tượng... nhằm hướng
đến một cách cảm nhận riêng, đa chiều hơn. Vận dụng lý thuyết về
mẫu gốc của Jung, nhiều nhà phê bình đã soi chiếu vào tiểu thuyết
học có liên quan, khái quát về diện mạo của tiểu thuyết Việt Nam
thập niên đầu thế kỷ XXI.
Thứ ba: luận án sẽ làm nổi bật thành tựu tiểu thuyết thập niên
đầu thế kỷ XXI từ góc nhìn phân tâm học, trên bình diện nội dung tư
tưởng, và phương thức nghệ thuật.
6
CHƢƠNG 2: PHÂN TÂM HỌC VÀ SỰ ẢNH HƢỞNG PHÂN
TÂM HỌC TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM THẬP NIÊN
ĐẦU THẾ KỶ XXI (25 trang)
2.1. Một số lý thuyết căn nền của phân tâm học
2.1.1. Lý thuyết về tâm thần bộ
Phân tâm học nghiên cứu về những vấn đề bên trong con người.
Vô thức - Tiềm thức - Ý thức là những phạm trù cơ bản xây dựng
nên học thuyết phân tâm học, là đối tượng nghiên cứu của phân tâm
học.
Một trong những vấn đề trọng tâm khi nói đến phân tâm học
chính là khái niệm vô thức. Vô thức là khái niệm dùng để chỉ tập hợp
các cấu tạo, quá trình và cơ chế tâm lý mà sự vận hành và ảnh hưởng
của chúng chủ thể không ý thức được. Người đầu tiên khai phá ra
mảnh đất vô thức chính là S. Freud. Trước ông cũng đã có nhiều
người nghiên cứu về vô thức như Descartes, nhà tư tưởng Đức thế kỷ
XVIII Leibniz, Hegel, Schopenhauer hay Nietzsche... nhưng chỉ đến
Freud vấn đề về vô thức được đề cập một cách có hệ thống như một
khoa học về vô thức. Sau Freud, một người học trò - một người bạn
của Freud - C.G. Jung cũng nhận thấy một thế giới tách rời, biệt lập
với ý thức. Xuất phát từ việc nghiên cứu đời sống tâm hồn con người
thông qua các vấn đề về huyền thoại, tôn giáo..., Jung đã khám phá
Freud cũng đã gây chấn động không nhỏ trong giới nghiên cứu
khi quy toàn bộ hành động, tâm lý người vào vấn đề tính dục. Ông đã
từng viết cuốn Ba tiểu luận về lý thuyết tính dục nổi tiếng, lần lượt
bàn về những lệch lạc tính dục, tính dục trẻ con, về những biến đổi
tuổi dậy thì. Từ khám phá về vô thức, về giấc mơ, Freud cho rằng
trong giấc mơ có sự ẩn ức về tính dục. Tính dục chính là nguyên
nhân gây nên những hành vi, những xung đột trong tâm lý người.
Con người luôn có ham muốn và đồng thời có phức cảm. Không
phải ngẫu nhiên mà Freud quy mọi hoạt động của con người từ bản
năng tính dục. Bản năng tính dục với những ham muốn cần thỏa mãn
mà bị kiềm nén dẫn đến dồn nén những phức cảm. Phức cảm là trạng
thái tâm lý phức tạp của con người, và là đối tượng nghiên cứu của
phân tâm học. Khi tự ý thức về chính mình, đặc biệt là những khuyết
điểm của mình, con người ta thường hay rơi vào trạng thái phức cảm,
đố kỵ, tự ti, ham muốn. Freud cũng từng nghiên cứu về phạm trù lo
âu của con người. Cảm giác này có thể do hiện thực, do đạo đức, hay
do ám ảnh về thần kinh, có thể gây ra những phức cảm.
2.1.3. Lý thuyết về cổ mẫu và phân tâm học về lửa
Cổ mẫu, một thuật ngữ do nhà tâm lý học phân tích người Thuỵ
Sĩ - Carl Jung (1875 – 1961) đề ra đầu thế kỷ XX. Trong quá trình
tìm hiểu về vô thức tập thể, từ việc nghiên cứu các huyền thoại, cổ
tích, nghiên cứu giấc mơ, tôn giáo, điều trị y học…và ông đã phát
hiện ra cổ mẫu. Với Jung, cổ mẫu là đúng và hữu ích bởi vì nó cho ta
biết rằng những nội dung vô thức tập thể có liên quan khi chúng ta
xem xét những hình thức cổ xưa, hoặc đúng hơn, những hình thức
nguyên thuỷ, tức là những hình ảnh chung tồn tại từ những thời đại
8
xa xưa nhất. Cổ mẫu vốn có khuynh hướng bản năng, được tạo nên
vào thế giới tưởng tượng của mình, giải tỏa ẩn ức.
2.2.2. Sáng tạo văn học từ vai trò của ẩn ức
Đối tượng nghiên cứu của phân tâm học chính là con người
trong mối quan hệ với chính mình cũng như trong mối quan hệ với
hoàn cảnh. Phân tâm học luôn quan tâm những vấn đề thuộc về con
9
người như vô thức, giấc mơ, ẩn ức, cũng như các vấn đề về sự dồn
nén và con đường dẫn đến vô thức sáng tạo của người nghệ sỹ - chủ
thể quá trình sáng tạo.
2.3. Sự ảnh hƣởng phân tâm học trong tiểu thuyết Việt Nam thập
niên đầu thế kỷ XXI
2.3.1. Những tiền đề cơ bản của việc vận dụng phân tâm học trong
tiểu thuyết Việt Nam thập niên đầu thế kỷ XXI
Việc đổi mới cái nhìn, đổi mới trong cách khám phá cuộc sống
và con người của tiểu thuyết Việt Nam thập niên đầu thế kỷ XXI là
một thành tựu đáng kể. Bao gồm các cơ sở như: cơ sở thực tế trong
hành trình đổi mới về quan niệm và sáng tác văn học của nước ta, cơ
sở lý luận cũng như thực tiễn tiếp nhận lý thuyết phân tâm học ở Việt
Nam, và ý thức cách tân văn học của các nhà văn giai đoạn này.
2.3.2. Khái quát về sự ảnh hưởng phân tâm học trong tiểu thuyết
Việt Nam thập niên đầu thế kỷ XXI
Tiểu thuyết Việt Nam thập niên đầu thế kỷ XXI đã có sự cách
tân đáng kể về quan niệm nghệ thuật cũng như phương thức thể hiện.
Từ thời kỳ đổi mới, tiểu thuyết Việt Nam thực sự có sự chuyển mình
không thể phủ nhận. Các tác phẩm đã mang đến cho văn học một
luồng gió mới, bàng bạc màu sắc phân tâm. Đọc các tác phẩm tiểu
thuyết của Nguyễn Đình Tú, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Y
Ban..., người đọc có thể nhận thấy một cách nhìn toàn diện hơn, đa
ngách, tâm tư của con người. Từ đó hiểu hơn quan niệm nghệ thuật
về con người của các nhà tiểu thuyết Việt Nam thập niên đầu thế kỷ
XXI. Từ góc nhìn phân tâm học, soi chiếu vào thế giới nhân vật của
tiểu thuyết với những vấn đề thuộc về bản năng người như tính dục,
vô thức, tâm linh..., chúng tôi phân loại thành ba kiểu nhân vật như
sau:
- Kiểu nhân vật với đời sống vô thức, tâm linh
- Kiểu nhân vật với các phức cảm
- Kiểu nhân vật với đời sống tính dục
3.1. Kiểu nhân vật với đời sống vô thức, tâm linh
3.1.1. Nhân vật với sự quẫy đạp của vô thức
Freud đã làm nhân loại choáng váng khi đề cao vị trí của vô
thức trong hoạt động của con người. Theo Freud, hành vi của con
người do vô thức mà thành. Sự phủ nhận vai trò của ý thức trong
hoạt động người là một tuyên bố tưởng chừng vô lý, trái ngược với
quan niệm thường thấy. Vô thức là nơi ẩn chứa ham muốn bị kìm
nén, nơi tồn tại xung năng libido, nơi hữu thức bị dồn nén trở thành
vô thức. Đó là cõi mênh mông vô định trong sâu thẳm tâm lý người,
ẩn chứa bản năng dục vọng của con người. Các nhà phân tâm học
xem vô thức như một hầm trú ẩn cá nhân chứa đầy những ước muốn
chính đáng hoặc không chính đáng, không được thoả mãn. Vô thức
càng bị dồn nén thì càng có khuynh hướng tìm cách thoát ra để được
giải toả, bộc lộ mình giữa trời đất, cỏ cây. Nhân vật trong tiểu thuyết
Việt Nam thập niên đầu thế kỷ XXI thường bị ảm ảnh bởi vô thức.
Nỗi ám ánh vô thức và sự sợ hãi chập chờn đã khiến con người nhiều
lúc như chạy vụt ra khỏi thực tại, quấn chặt mình giữa hư vô.
11
Giấc mơ cũng là dạng biểu hiện khác của vô thức, là địa hạt của
Mặt khác, yếu tố tâm linh còn được đưa vào tác phẩm dưới hình
thức của cái huyền ảo. Đó là sự kết hợp giữa yếu tố thực và kỳ ảo, sự
đan xen của cái hoang đường, phi lý. Ở đó, không gian trở nên huyền
ảo, mơ hồ và con người cũng tồn tại như một bí ẩn, thế giới lung linh
như một huyền thoại.
12
Hơn nữa, nói đến đời sống tâm linh, không thể không nhắc đến
phương diện Tôn giáo - đức tin của con người giữa đời sống ngổn
ngang, đầy tính giải thiêng. Văn học thập niên đầu thế kỷ XXI cũng
đã đề cập nhiều đến khía cạnh tâm linh này.
3.2. Kiểu nhân vật với các phức cảm
Trong quá trình nghiên cứu về vô thức, Freud cũng đã khám phá
ra trong cõi sâu thẳm con người luôn tồn tại những phức cảm. Freud
đã gọi tên những mặc cảm ấy là mặc cảm thân phận, mặc cảm tàn
phế, mặc cảm Oedipe.
3.2.1. Nhân vật với phức cảm hoạn - phức cảm thân phận
Học trò của Freud - Alfried Adler cũng đã tìm hiểu về phức cảm
hoạn - phức cảm liên quan đến bộ phân sinh dục nam. Từ đó, người
vận dụng có thể mở rộng ra những trạng thái tâm lý, cảm xúc của
con người khi nhu cầu bản năng của con người bị kiềm nén, là mâu
thuẫn mặc cảm về thân phận, về những sự tồn tại của mình trong
cuộc đời khi sự tồn tại ấy không thể mang lại cho con người sự thỏa
mãn trong ý thức. Rất nhiều nhân vật trong tiểu thuyết thập niên đầu
thế kỷ XXI luôn mang trong mình cảm giác về sự bất hạnh, sự thiệt
thòi khi chính họ cũng đã chịu nhiều mất mát từ hoàn cảnh.
3.2.2. Nhân vật với phức cảm Oedipe
Xuất phát từ thần thoại Hy Lạp, câu chuyện vua Oedipe bị buộc
ở đó những biểu hiện bệnh hoạn. Các ngòi bút văn học giai đoạn
trước đều né tránh vấn đề nhạy cảm này, nhưng từ sau đổi mới văn
học năm 1986, đặc biệt khoảng thập niên đầu thế kỷ XXI, nhiều tiểu
thuyết đã khai phá mảnh đất hình như còn bỏ ngỏ này một cách có ý
thức và đầy nhân bản.
3.3.2. Nhân vật với sự nổi loạn của cô đơn và ẩn ức.
Tính dục nhiều khi gắn liền với những tình cảm thiêng liêng, gợi
những cảm giác rất Người trong sự dâng hiến, hòa quyện, thăng hoa
trong cảm xúc và rung động, nhưng có khi chỉ là lối thoát của cô đơn
và bế tắc. Buông xuôi mình trước cám dỗ của tính dục cũng là một
biểu hiện thường thấy của con người. Sự vỗ về cảm giác thường có
khả năng xoa dịu những vết thương tâm hồn đang đẩy con người vào
quằn quại. Chính vì thế, các tiểu thuyết Việt Nam thập niên đầu thế
kỷ XXI thường khắc họa con người cô đơn tuột dài trong tính dục.
*
*
*
Vận dụng yếu tố phân tâm học để khai thác hiện thực đời sống
và hiện thực tâm hồn nhân vật, các nhà tiểu thuyết đương đại đã phơi
bày cả những mặt trái xã hội và nỗi đau trong mỗi nhân vật. Những
vấn đề về vô thức, tâm linh, vấn đề mặc cảm hay cả những vấn đề về
tính dục đã thể hiện một cách chân thực, sinh động. Đó là bức tranh
toàn cảnh về hiện thực tâm hồn, đằng sau một hiện thực ngổn ngang
về đời sống. Từ góc nhìn phân tâm học, bao nhiêu trăn trở, tâm tư
14
của con người như được phơi bày, bộc bạch cùng những buồn vui, ẩn
ức...
thành hình ảnh không thể thiếu trong các lĩnh vực đời sống như khoa
học, tôn giáo... thậm chí tính dục. Lửa có các dạng như: lửa thông
thường, sét, mặt trời. Mặt khác, lửa còn được ứng với phương Nam,
màu đỏ của lửa còn được xem như tượng trưng cho mùa hè, cho
nhiệt huyết, cho trái tim. Đó là hình ảnh của ngọn lửa tinh thần, cung
bậc cảm xúc trong tâm lý người.
Trong tiểu thuyết Việt Nam thập niên đầu thế kỷ XXI, lửa trở
thành một biểu tượng, với hai ý nghĩa chính: biểu tượng gốc và biểu
tượng phái sinh.
- Lửa xuất hiện trong các tác phẩm là ngọn lửa thực, có sức
nóng, có khả năng thiêu hủy, tái sinh. Trong tiểu thuyết đương đại,
lửa xuất hiện khá nhiều, được biến thể qua nhiều hình ảnh khác nhau
như bếp lửa, đèn dầu, khói, mặt trời..
- Lửa còn là hình ảnh của đam mê, nhiệt huyết và cảm xúc,
khao khát tính dục. Đó là ngọn lửa vô hình với sức thiêu hủy không
kém, nó có thể thiêu đốt và làm bừng sáng cõi tăm tối nhất của tâm
hồn. Lửa đóng vai trò quan trọng trong đời sống thì lửa tâm hồn càng
có ý nghĩa đối với con người.
4.1.2. Biểu tượng Nước
Lửa thường gắn với bản nguyên đối lập là nước. Nước thuộc cái
lạnh, thuộc về ngày Đông chí... nhưng vẫn có sự liên hệ với lửa.
Nước cũng là một biểu tượng có những điểm tương đồng với lửa.
Theo Tự điển biểu tượng văn hóa thế giới, sự tẩy uế bằng lửa bổ
sung cho sự tẩy uế bằng nước. Biểu tượng nước có ba ý nghĩa cơ
bản, nước vừa là nguồn sống, vừa là phương tiện thanh tẩy, là trung
tâm tái sinh.
- Nước bao giờ cũng gợi lên sự tinh khiết, mát lành như sức
mạnh huyền diệu, trong lành của thể xác và tâm hồn, tưới mát lên
Không gian và thời gian hư ảo.
Không gian và thời gian hiện thực.
4.2.1. Không gian và thời gian hư ảo
Không gian được xây dựng trong tiểu thuyết Việt Nam thập
niên đầu thế kỷ XXI chủ yếu:
- Không gian ảo - không gian từ trong giấc mơ.
- Không gian kỳ ảo.
- Không gian cõi tâm linh.
Thời gian trong tác phẩm cũng đa phần được soi từ giấc mơ, vô
thức và tâm linh. Đó là kiểu thời gian tâm lý. Thời gian nghệ thuật
trong tiểu thuyết chủ yếu là thứ thời gian cảm giác, thời gian được
tâm trạng hóa, thời gian thể hiện chính những ẩn ức, dồn nén, trong
chính tâm hồn con người.
4.2.2. Không gian và thời gian hiện thực
Bên cạnh kiểu không gian, thời gian phi thực, các nhà tiểu
thuyết thập niên đầu thế kỷ XXI cũng sử dụng kiểu không gian, thời
17
gian hiện thực. Đó là không gian thực và thời gian vật lý, có tác
động đến tâm trạng nhân vật.
Không gian nghệ thuật thường được sử dụng trong tiểu thuyết
giai đoạn này là:
- Không gian bóng đêm.
- Không gian trăng.
- Không gian mưa.
- Không gian buồng, phòng...
Thời gian nghệ thuật có thể kể đến là thời gian đêm, thời gian
giấc mơ...
4.3. Ngôn ngữ
4.3.2. Ngôn ngữ giàu sắc thái biểu cảm
Nếu như Freud tập trung nghiên cứu tâm lý người chủ yếu xoáy
sâu vào các vấn đề vô thức và dường như bất kỳ ở đâu, trong một
con người hay trong một tác phẩm nghệ thuật, một sự biểu hiện của
tinh thần xuất hiện, ông nghi ngờ chúng và ám chỉ rằng đó là bản
năng tình dục bị dồn nén thì Jung lại chọn cho mình một lối đi riêng,
nghiên cứu về những biểu tượng của sự biến hóa, chủ trương mở
rộng hơn trong việc sử dụng thuật ngữ biểu tượng cùng với khám
phá con đường vào văn hóa, tâm linh thông qua cổ mẫu và vô thức
tập thể. Hầu hết những sáng tạo văn chương thập niên đầu thế kỷ
XXI đều sử dụng lớp ngôn ngữ ẩn chứa nhiều ký hiệu có ý nghĩa như
biểu tượng, buộc người đọc phải giải mã để tìm kiếm. Trong hệ
thống ngôn từ của tiểu thuyết giai đoạn này, sự đa nghĩa, biến hóa
nhiều tầng hơn cũng nhờ vào những chất liệu ngôn từ như là sự hóa
thân của huyền thoại, của chiều sâu, văn hóa. Bên cạnh những biểu
tượng lớn có ý nghĩa như cổ mẫu, ngôn ngữ tiểu thuyết còn trở nên
huyền ảo, hư vô hơn bởi những hệ thống ngôn từ có ý nghĩa như biểu
tượng, có tính chất như những ký hiệu lặp đi lặp lại nhiều lần trong
tác phẩm. Có thể kể đến những từ như: hang đá, hồn ma, máu, sống,
chết….
Người đọc đứng trước thế giới mênh mông của ngôn từ không
tránh khỏi ám ảnh bởi ẩn số mà tự mình phải tự đi tìm. Nó giống như
một trò chơi ngôn ngữ, mà người đọc vừa chủ động vừa lúng túng
giữa mê cung từ ngữ ấy. Điều này đã tạo nên sự lạ hóa trong ngôn
ngữ văn chương, cũng như sự bí ẩn trong từng câu chữ... để rồi mỗi
trang văn gợi trong người đọc nhiều suy tư, ngẫm nghĩ đa diện, đa
chiều!
*
* *
Thành tựu nghệ thuật về ngôn ngữ, không gian - thời gian hay
não điều khiển mọi hành vi, gây ra xung đột bản năng, sự dồn nén
của ham muốn, cũng như những phức cảm. Chính dồn nén ham
muốn đã trá hình bằng hình thức giấc mộng. Freud là người tiên
phong lý giải thế giới mộng mị với những ý nghĩa nhất định. Không
phải ngẫu nhiên, khi nhắc đến phân tâm học, người ta hay quy về các
vấn đề dục tính. Chính ông tổ ngành phân tâm học đã gây ra từ
trường tranh cãi cũng như sự bất đồng ngay trong học trò mình như
Alfried Adler, C. Jung…khi có những kết luận về libido. Freud cho
20
rằng tất cả xúc cảm cả Id đều là hình thức thể hiện năng lực tính dục
(sexual), thậm chí ông nâng bản năng tính dục thành yếu tố đầu tiên
mạnh mẽ trong việc hình thành nhân cách và là nguồn gốc của mọi
công trình sáng tạo vĩ đại nhất. Từ những bất đồng quan điểm, C.
Jung - học trò của Freud, đã rẽ sang nghiên cứu về vô thức tập thể,
và có những phát hiện khác lý thú về cổ mẫu. Trên tinh thần của
Jung, G. Bachelard đã phát triển hơn trên tinh thần phân tâm học vật
chất. Nhìn chung, học thuyết phân tâm học có ý nghĩa đặc biệt với
tư duy hiện đại, và ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực khác nhau, trong
đó có nghiên cứu phê bình văn học.
Chính Freud cũng đã tìm thấy mối liên hệ giữa phân tâm học và
văn học, khi từ văn học, ông xác định hệ thống lý thuyết của mình.
Từ phân tâm học, với các trường phái phê bình khác nhau, người đọc
có thể hiểu hơn về văn bản văn học, dựa vào các phạm trù về vô
thức, tính dục, huyền thoại cá nhân, biểu tượng…. Mối quan hệ giữa
lý thuyết phân tâm học và nghiên cứu văn học đã mở ra phương pháp
nghiên cứu tập trung vào mối quan hệ giữa tác giả - văn bản - người
đọc. Chính vì vậy, phương pháp phê bình phân tâm học được giới
phê bình rất quan tâm. Ở nước ta, học thuyết phân tâm học đã được
sống càng hiện đại, con người càng rơi vào cảm giác hoang mang,
hoài nghi, và tìm đến cõi tâm linh như muốn cứu vãn niềm tin, tìm
một chỗ dựa cho tinh thần. Đời sống tâm linh cũng được các nhà tiểu
thuyết thể hiện khá nhiều trong tác phẩm. Tâm linh trở thành một
đức tin không thể lý giải. Khi hiện thực không thể neo đậu lòng
mình, con người chỉ biết vịn vào những điều không có thực. Con
người trong tiểu thuyết giai đoạn này được khắc hoạ với sự quẫy đạp
của vô thức cùng những ám ảnh tâm linh tạo nên hiện thực phản ánh
mới - hiện thực bất khả lý giải của con người bên trong con người.
Mặt khác, xã hội đương đại phức hợp giữa vui - buồn, khổ đau hạnh phúc, vấn đề số phận con người trở thành mối quan tâm khắc
khoải của những người cầm bút. Nhà văn không chỉ cảm nhận, suy
ngẫm mà con muốn phơi bày tận cùng đau thương mà con người
đang phải nếm trải từng ngày. Hầu hết các nhà tiểu thuyết không
dừng lại ở việc miêu tả hiện thực đời sống, mà hướng ngòi bút của
mình vào tận sâu thế giới tâm hồn nhân vật. Hiện thực bên trong con
người với những phức cảm trở thành một đề tài thu hút nhiều cây
bút. Phân tâm học đã phân tích nguyên nhân của những bi kịch phức
tạp ấy từ sự mâu thuẫn trong chính con người cá nhân. Càng ý thức
về thân phận, con người càng tự day dứt mình bởi phức cảm. Sự đấu
tranh muôn thuở giữa khát khao hướng về cái đẹp, cái thiện và sự
bủa vây trì trệ của hoàn cảnh, số phận đã gây ra những phức cảm
22
Hoạn, phức cảm Oedipe. Con người phức cảm cũng là một kiểu nhận
vật xuất hiện khá nhiều trong tiểu thuyết đầu thế kỷ XXI.
Bên cạnh đó, tiểu thuyết đương đại đã mạnh dạn phá toang cửa
ngõ bản năng để phơi bày trên trang viết. Các cây bút đã không còn e
dè, ngần ngại khi đề cập yếu tố sắc dục, tình yêu nhục thể - vấn đề
khá nhạy cảm, riêng tư của mỗi cá nhân. Từ sau đổi mới văn học