Quan hệ giữa trung quốc đại lục và đài loan trong thập niên đầu thế kỷ XXI luận văn tốt nghiệp đại học - Pdf 32

1

Lời cảm ơn
Được sự giúp đỡ của tập thể thấy cô giáo trong khoa Lịch sử, sự giúp
đỡ tận tình của thầy giáo Ths. Hắc Xuân Cảnh, cùng với sự động viên giúp đỡ
của gia đình, bạn bè và người thân tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với đề
tài: “Quan hệ hai bờ eo biển Đài Loan trong thập niên đầu thế kỉ XXI”. Xin
được gửi lời cảm ơn chân thành tới Nhà trường Đại học Vinh, Ban Chủ nhiệm
khoa Lịch sử, cùng các thầy cô giáo trong khoa đã trang bị những kỹ năng,
kiến thức khoa học để tôi có thể thực hiện khóa luận này. Đặc biệt, tôi xin gửi
lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo ThS. Hắc Xuân Cảnh, người đã trực tiếp
hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo cho tôi trong suốt quá trình hoàn thành khóa
luận. Kính gửi tới toàn thể thấy cô giáo, gia đình và bạn bè lời chúc sức khỏe
hạnh phúc và thành đạt.
Vinh, ngày/04/2011
Sinh viên
Trần Thị Thu Hằng


2

môc lôc
Tran
Mở đầu
Nội dung

g
1
9

Chương 1: Những nhân tố tác động đến mối quan hệ giữa Trung quốc

2.1. Quan hệ trong lĩnh vực chính trị - ngoại giao
2.2. Quan hệ kinh tế Trung Quốc – Đài Loan

37

2.2.1. Quan hệ đầu tư
2.2.2. Quan hệ thương mại

37
40

2.3. Những hoạt động giao lưu văn hóa - xã hội giữa hai bờ eo biển

45

2.4. Mối quan hệ hai bờ trong lĩnh vực an ninh quân sự

49

Tiểu kết:

51

Chương 3: Nhận xét về quan hệ Trung Quốc – Đài Loan từ 2000
đến 2010 và chiều hướng của quan hệ hai bờ eo biển Đài Loan sau

52

năm 2010
3.1 Những tiến triển của quan hệ hai bờ Eo biển Đài Loan từ năm

Tiểu kết:
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục

68
69
71
76


4

BẢNG QUY ƯỚC VIẾT TẮT

ARATS:
ASEAN:
AFTA:
CHND:
DPP:
ĐCS:
ECFA:
KMT:
MAC:
TTXVN:
WTO:

Hiệp hội quan hệ hai bờ eo biển Đài Loan
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN

một số nước khác. Vì vậy, việc nghiên cứu về quan hệ giữa Trung Quốc Đại
lục và Đài Loan trong thập niên đầu thế kỉ XXI không chỉ cho sự vận động
của mối quan hệ này trong thời gian gần đây mà còn góp phần làm sáng rõ về
quan hệ giữa các nước lớn ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương cũng như
trên thế giới.
Cùng với Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam nằm trong khu vực Đông
Á, hơn nữa cả Trung Quốc và Đài Loan đều là những đối tác quan trọng của
Việt Nam. Đặc biệt, những năm gần đây Đài Loan nổi lên là một đối tác quan
trọng của Việt Nam, cho nên những biến động của tình hình hai bờ eo biển
Đài Loan có tác động rất lớn đến lợi ích kinh tế cũng như chính sách đối
ngoại của Việt Nam. Thực tế đã cho thấy những chuyển biến trong mối quan
hệ hai bờ eo biển Đài Loan có tác động trực tiếp đến những dự án đầu tư hay
những hợp đồng kinh tế mà phía Đài Loan dành cho Việt Nam và sự can thiệp


6

của Trung Quốc trong mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Đài Loan đã có
lúc đặt Việt Nam vào tình thế khó xử. Bên cạnh đó, do có sự gần gũi về địa lí
với cả Trung Quốc và Đài Loan cho nên những xung đột hay hòa bình ở Eo
biển Đài Loan đều ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định và phát triển Việt Nam.
Điều đó cho thấy rằng việc nghiên cứu về sự vận động của quan hệ giữa
Trung Quốc và Đài Loan trong thập niên đầu thế kỉ XXI không chỉ là vấn đề
có ý nghĩa khoa học, mang tính thời mà còn có giá trị thực tiễn lớn lao trong
việc xây dựng giải pháp trong quan hệ với cả hai bờ eo biển.
Với ý nghĩa khoa học và thực tiến nêu trên, chúng tôi chọn vấn đề:
“Quan hệ giữa Trung Quốc Đại lục và Đài Loan trong thập niên đầu thế kỉ
XXI” làm đề tài khóa luận cuối khoá của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Quan hệ giữa hai bờ eo biển Đài Loan là vấn đề mang tính thời sự nóng

của Trình Mưu – Vũ Quang Vinh, NXB Lý luận và Chính trị, Hà Nội năm
2005; “Nhật Bản can dự như thế nào vào cuộc chiến ở vùng biển Đài
Loan”,TTXVN, Hà Nội năm 2009; “Nhân tố Nga và Mỹ trong quan hệ hai
bờ eo biển Đài Loan những năm đầu thế kỉ XXI”, của tác giả Đỗ Minh Cao,
Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc Số 8(108) năm 2010;… Các tác phẩm, công
trình nghiên cứu nói trên đã có những đánh giá về sự tác động của của những
nhân tố quốc tế đối với cục diện eo biển Đài Loan cũng như tác động của mối
quan hệ này đối với cục diện chính trị trên thế giới và tình hình phát triển
chung trong khu vực.
Về mối quan hệ kinh tế giữa hai bờ eo biển Đài Loan đã có nhiều tác
phẩm công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề này như: “Quan hệ thương
mại giữa hai bờ eo biển Đài Loan – thực trạng và triển vọng” của Vũ Thùy
Dương, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 2(6) năm 1996; “Vài nét về quan
hệ kinh tế Đài Loan – Trung Quốc năm 1997” của Vũ Thùy Dương, Tạp chí
Nghiên cứu Trung Quốc, số 3(19) năm 1998; “Hai mươi năm quan hệ kinh tế
Đại Lục-Đài Loan, của Phùng Thị Huệ, tạp chí Nghiên cứu Trung quốc, số


8

5(27) năm 1999… Các tác phẩm đã có những thống kê, khái quát về những
kết quả mà hai bờ đã đạt được trong lĩnh vực hợp tác kinh tế giữa hai bờ eo
biển Đài Loan. Đồng thời, các công trình cũng có những nhận xét, đánh giá
về sự tiến triển cũng như những tồn tại trong mối quan hệ này. Ngoài ra, các
công trình còn phân tích và đánh giá những tác động của sự chuyển biến quan
hệ kinh tế này đối với cả Trung quốc Đại lục và Đài Loan.
Cùng với đó, đã có những công trình khoa học nghiên cứu về mối quan
hệ hai bờ eo biển Đài Loan trong các lĩnh vực an ninh quân sự, hay văn hóa xã hội… Các tác phẩm đề cập đến vấn đề này như: “Eo biển Đài Loan trong
chiến lược quân sự mới của Trung Quốc”, Do Đại tá Nguyễn Công Nhuần
làm chủ biên, Trung tâm Thông tin khoa học - Công nghệ - Môi trường, năm

sự, đặc biệt là ở khu vực biển Đông.
Từ việc nghiên cứu tìm hiểu mối quan hệ hai bờ để đưa ra những nhận
định đánh giá về triển vọng phát triển của mối quan hệ hai bờ eo biển. Bên
cạnh đó, đề tài còn đi sâu đánh giá những tác động của mối quan hệ này đối
với thế giới mà cụ thể là tác động của nó trong mối quan hệ giữa các nước
lớn, hay tác động của mối quan hệ đối với sự phát triển và ổn định chung của
khu vực trong đó Việt Nam.
3.2 Nhiệm vụ:
Sưu tầm, tập hợp, xử lý các nguồn tư liệu, trên cơ sở tổng hợp phân tích
đánh giá các sự kiện đề tài sẽ đi sâu làm rõ những tác động của tình hình thế
giới và khu vực đến sự phát triển mối quan hệ hai bờ. Tổng hợp và phân tích
những chuyển biến trong mối quan hệ hai bờ eo biển Đài Loan về các lĩnh
vực.
Phân tích, đánh giá về sự tác động của mối quan hệ hai bờ đối với sự
phát triển kinh tế cũng như ổn định của khu vực. Trên cơ sở đó, đề tài sẽ đưa
ra nhận định về chiều hướng phát triển của quan hệ Trung - Đài trong những
năm tiếp theo.


10

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu đề tài là những chuyển biến của mối quan hệ hai
bờ eo biển Đài Loan trong thập niên đầu thế kỉ XXI, trong đó tập trung
nghiên cứu và đánh giá mối quan hệ hai bờ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế,
văn hóa, xã hội và an ninh quân sự. Đề tài đề cập đến những nhân tố thế giới
trong mối quan hệ và ngược lại, tác động của mối quan hệ đối với khu vực và
thế giới. Phạm vi nghiên cứu đề tài là tìm hiểu mối quan hệ giữa Trung Quốc
Đại Lục và Đài Loan từ năm 2000 đến năm 2010.
5. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

trong tương lai.
Đề tài đã làm rõ những nhân tố ảnh hưởng tác động đến mối quan hệ
hai bờ trong đó có các nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan. Phân tích lập
trường quan điểm của các nước lớn trong vấn đề Đài Loan. Bên cạnh đó, đề
tài đã nhận định một cách khách quan những tác động của mối quan hệ đôi bờ
eo biển đối với sự phát triển chung của khu vực đặc biệt là trong vấn đề an
ninh của khu vực và trong lĩnh vực hợp tác kinh tế.
Với những kết quả nghiên cứu đạt được đề tài có thể được sử dụng làm
tài liệu tham khảo cho các bài viết hay những công trình khoa học nghiên cứu
về mối quan hệ Trung Quốc – Đài Loan. Đặc biệt đề tài đóng góp vào kho tài
liệu nghiên cứu về những mối quan hệ quốc tế lớn trên thế giới trong thập
niên đầu của thế kỉ XXI.
7. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung của
khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Những nhân tố tác động đến mối quan hệ giữa Trung Quốc
Đại lục và Đài Loan


12

Chương 2: Quan hệ Trung Quốc Đại lục - Đài Loan từ năm 2000 đến
năm 2010
Chương 3: Nhận xét về quan hệ Trung Quốc Đại lục - Đài Loan từ năm
2000 đến năm 2010 và chiều hướng quan hệ hai bờ eo biển Đài Loan sau năm
2010.


13


bố lan khắp thế giới… vẫn đang diễn biến phức tạp và làm cho thế giới luôn ở
vào trạng thái căng thẳng, tình hình an ninh thế giới hết sức khó lường.
Những cuộc xung đột địa - chính trị hay tranh giành ảnh hưởng giữa các nước
lớn ngày một nhiều thêm và không ngừng mở rộng về phạm vi và gia tăng
mức độ căng thẳng. Có thể thấy, các khu vực Trung Đông (tâm điểm là I-rắc
và I-ran), Trung Á (tâm điểm là Áp-ga-ni-xtan và các nước cộng hòa Xô-viết
trước đây), Ban-căng (tâm điểm là Cô-xô-vô), biển Ca-xpi (tâm điểm là Grudi-a), Bắc Cực, châu Phi, Đông Bắc Á, Đông Nam Á v.v.. là những nơi thể
hiện rõ nhất sự cạnh tranh ảnh hưởng giữa các nước. Đó có thể là những mầm
mống của sự xung đột và tranh chấp khu vực cũng như trên phạm vi thế giới.
Tất cả đang những động thái cảnh báo về kỷ nguyên cạnh tranh và xung đột
mới về địa - chính trị và mô hình phát triển mà nhìn bề ngoài không quyết liệt
như kỷ nguyên đối đầu thời Chiến tranh lạnh, nhưng tiềm ẩn nhiều nguy cơ
hơn có thể dẫn đến chiến tranh.
Tuy nhiên, thập niên đầu của thế kỉ XXI đã chứng kiến những thay đổi
mạnh mẽ của thế giới trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế và văn hóa… Sự
phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học - công nghệ vào cuối thế kỉ
XX đã làm cho lực lượng sản xuất của thế giới lớn mạnh chưa từng thấy, từ
đó cũng làm thay đổi nhận thức cả con người về chiến tranh và hòa bình, về
tăng trưởng và phát triển kinh tế cũng như việc tăng cường quan hệ quốc tế...
Quan hệ các nước đang phát triển theo hướng đa dạng hóa, đa phương hoá,
trong đó lấy hợp tác kinh tế làm cơ sở và cùng nhau giải quyết các vấn đề
song phương trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi. Xu thế đa cực hóa và toàn cầu
hóa kinh tế đã và đang mang lại những cơ hội cho hòa bình và phát triển của
thế giới. Mỗi một quốc gia sẽ có điều kiện tranh thủ bối cảnh hòa bình và môi
trường hợp tác để cũng nhau phát triển.
Đối với châu Á, trải qua một thời gian dài chiến tranh và xung đột,
sau chiến tranh lạnh, cùng với sự biến đổi của cục diện quốc tế, châu Á cũng


15

16

Như vậy, sự chuyển biến của tình hình thế giới trong thập niên đầu thế
kỉ XXI đã tác động sâu sắc đến quan hệ giữa hai bờ eo biển Đài Loan. Xu
hướng hợp tác hóa trên toàn cầu, giải quyết xung đột bằng đàm phán đã mở ra
cơ hội phát triển quan hệ hai bờ. Tuy nhiên, bên cạnh đó, những mâu thuẫn
mới nảy sinh trong quan hệ giữa các nước, các khu vực cũng làm cho quan hệ
hai bờ eo biển Đài Loan đứng trước những khó khăn và thử thách không nhỏ.
1.2. Lập trường của các bên đối với vấn đề Đài Loan
1.2.1. Lập trường của Trung Quốc
Từ năm 1949, sau khi cách mạng Trung Quốc thành công, Chính phủ
CHND Trung Hoa luôn coi Đài Loan là một bộ phận không thể tách rời của
Trung Quốc và luôn tìm cách để thống nhất Đài Loan về với Đại lục. Bên
cạnh đó, CHND Trung Hoa cũng nêu lên nguyên tắc “Một Trung Quốc”, coi
đó là lập trường cơ bản trong việc giải quyết vấn đề Đài Loan.
Trong thập kỉ 50 và 60 của thế kỉ XX, Trung quốc đã nhiều lần dùng vũ
lực để giải quyết vấn đề Đài Loan nhưng không thành công. Đầu năm 1979,
trước sự biến đổi của tình hình thế giới và trong nước, Quốc hội Trung Quốc
công bố “Thư gửi nhân dân Đài Loan” trong đó nêu rõ việc lấy phương châm
“hoà bình thống nhất” thay phương thức “giải phóng bằng vũ lực”. Năm
1982, Đặng Tiểu Bình đưa ra ý tưởng “một nước hai chế độ” thể hiện quan
điểm cơ bản về chính sách đối với Hồng Công và Đài Loan. Từ sau đó, chính
sách của Bắc Kinh đối với Đài Loan có thể chia làm ba giai đoạn: thời kỳ tiếp
xúc, bắt đầu từ những năm 80 của thế kỷ XX, dẫn tới “Hội nghị Cố - Uông”
năm 1993; Thời kì quan sát: Sau khi Đài Loan đưa ra chính sách ngoại giao
thực dụng có khuynh hướng chia cắt đất nước, Bắc Kinh bước vào “thời kỳ
quan sát” dưới sự chỉ đạo theo “Tám điểm” của Giang Trạch Dân. Tiếp đó,
Hồ Cẩm Đào đưa ra lý luận “hài hoà” và “bốn điểm” về vấn đề Đài Loan,





18

cạnh đó, Hội nghị cũng nêu rõ Đài Loan đang đi theo hướng độc lập, chia rẽ
đất nước, đây là sự khiêu khích chiến tranh đối với nhân dân Trung Quốc,
đồng thời nêu rõ tinh thần là “không được hàm hồ, không được thỏa hiệp,
quyết không dung thứ đối với vấn đề chủ quyền và lãnh thổ quốc gia: Đài
Loan độc lập nghĩa là chiến tranh, viện trợ quân sự cho Đài Loan của nước
thực chất là xâm lược, thế lực bên ngoài can dự và giúp đỡ hành động chia rẽ
của Đài Loan chính là lời tuyên chiến với Trung Quốc”. Qua sự kiện trên có
thể thấy, quan điểm và lập trường của Bắc Kinh về mối quan hệ hai bờ vẫn
luôn là: “ chống độc lập và thúc đẩy thống nhất”.
Kể từ sau cuộc bầu cử Tổng Thống Đài Loan vào ngày 20-3-2004,
chính sách của Bắc Kinh đối với Đài Loan có sự thay đổi tương đối và công
tác với Đài Loan cũng mang tính chủ động rất lớn, trong đó tập trung dựa vào
pháp luật và tranh thủ nhân tố quốc tế để ngăn chặn “Đài Loan độc lập”.
Phương châm của Trung Quốc lúc này là kết hợp đồng thời cả hai sách lược
rắn và mềm, ngày càng chú trọng và ưu tiên việc duy trì hiện trạng quan hệ
hai bờ. Trong vấn đề giao lưu kinh tế mậu dịch giữa hai bờ ngày càng thể hiện
xu thế mở cửa.
Ngày 14-3-2005, kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa X Trung Quốc đã thông
qua “Luật chống chia cắt đất nước”. Đây là luật đầu tiên khẳng định về mặt
pháp lý lập trường của nhà nước Trung Quốc trong việc giải quyết quan hệ
giữa hai bờ eo biển Đài Loan. Với luật này Trung Quốc muốn khẳng định một
cách mạnh mẽ với Đài Loan và thế giới về lập trường không bao giờ khoan
nhượng trong vấn đề Đài Loan. Đồng thời, Trung Quốc cũng đưa ra khẳng
định sẽ tái sử dụng vũ lực nếu như Đài Loan tuyên bố độc lập và có sự can
thiệp của nước ngoài, và cả trong trường hợp đàm phán giữa hai bên bị trì
hoãn vô thời hạn. Nội dung quan trọng của Luật là ngăn chặn thế lực li khai

quyền chủ động với sự phát triển của cục diện eo biển Đài Loan. Trên cơ sở
nguyên tắc “Một Trung Quốc” và thực hiện mục tiêu cuối cùng là thống nhất
đất nước, việc điều chỉnh chính sách của Đại lục đối với Đài Loan ngày càng
phát riển theo chiều hướng lý tính, thực dụng và hiệu quả. Đại lục thực hiện


20

các biện pháp cứng rắn làm suy yếu các cuộc tranh luận về “Đài Loan độc
lập”, tích cực chủ động giành lấy quyền phát ngôn và quyền chế định các
nguyên tắc trong quan hệ hai bờ. Xây dựng cơ sở giao lưu giữa các chính
đảng hai bờ, mở ra cục diện mới giao lưu hai bờ, đồng thời Đại lục thực hiện
chính sách lợi dụng Mỹ trong việc kiềm chế thế lực “Đài Loan độc lập”.
Năm 2010, Trung Quốc Đại lục và Đài Loan đã ký kết Hiệp định khung
về hợp tác kinh tế (ECFA). Đây là sự kiện có ý nghĩa hết sức quan trọng,
mang tính bước ngoặt đối với sự phát triển quan hệ hai bờ eo biển Đài Loan.
Sau Hiệp định, Trung Quốc Đại lục đã thể hiện quan điểm của mình đối với
mối quan hệ hai bờ eo biển. Sau khi kí kết bản Hiệp định, Tổng Bí thư Đảng
Cộng sản Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đã đặt ra yêu cầu đối với sự phát triển
quan hệ hai bờ là tăng cường lòng tin chính trị và nhận thức chung dân tộc
giữa hai bên. Điều này đã một lần nữa thể hiện, trên cơ sở chính trị chung
phản đối “Đài Loan độc lập”, kiên trì “nhận thức chung 2/9” để từng bước
giải quyết những khó khăn đang hạn chế sự phát triển quan hệ hai bờ eo biển
Đài Loan. Có thể thấy sự nhất quán của Trung Quốc trong vấn đề thống nhất
Đài Loan thông qua những khẳng định của các nhà lãnh đạo của nước này.
Khi nói về quan điểm lập trường của Trung Quốc trong việc giải quyết vấn đề
Đài Loan, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo nhấn mạnh: “Chúng ta sẽ
không cho phép ai tách Đài Loan ra khỏi đất mẹ dưới bất kì vỏ bọc nào, bằng
bất kì giá nào”, “Thống nhất hai bên là điều tất yếu trong sự nghiệp đổi mới
đất nước Trung Hoa vĩ đại”[30;3]. Thực tế đã cho thấy rằng lập trường của

khác nhau, ủng hộ Đài Loan độc lập và một bên là ủng hộ thống nhất Trung
Quốc. Hai xu hướng này tồn tại trong nhân dân cũng như chính giới Đài
Loan. Lập trường của những người ủng hộ khuynh hướng thống nhất Trung
Quốc ở Đài Loan cho rằng Đài Loan là một phần của Trung Quốc, nhưng
CHND Trung Hoa không phải là chính phủ hợp pháp duy nhất tại Trung
Quốc và rằng việc thống nhất không nhất thiết phải xảy ra dưới chế độ Cộng
sản. Trong khi đó, lập trường của những người ủng hộ Đài Loan độc lập cho


22

rằng Đài Loan không phải là một phần của Trung Quốc và Cộng hòa Trung
Hoa là chính phủ hợp pháp duy nhất của Đài Loan. Năm 1999, Tổng Thống
Lý Đăng Huy đề xuất lý thuyết nhà nước hay lý thuyết quan hệ nhà nước nhà nước mà Trung Hoa Dân Quốc và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đều
được coi là những nhà nước riêng biệt với quan hệ ngoại giao, văn hóa, lịch
sử đặc biệt. Lý thuyết này đã được sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân và chính
giới Đài Loan.
Năm 2000, Trần Thủy Biển - ứng cử viên của Đảng Dân chủ tiến bộ
trúng cử và tuyên bố: “Đài Loan là một nước độc lập, có chủ quyền” nhưng
với quan niệm “Đài Loan là Trung Hoa Dân Quốc”. Điều này được các học
giả đánh giá là có ngụ ý về quan hệ đối với Trung Hoa Đại Lục khi sử dụng
thuật ngữ Trung Hoa. Tháng 7 năm 2002, sau khi trở thành Chủ tịch Đảng
Dân chủ tiến bộ, Trần Thủy Biển có xu hướng ngả theo lý thuyết “hai nhà
nước”. Tiếp đó vào đầu tháng 8 năm 2002 ông đã bình luận rằng Đài Loan có
thể “đi trên con đường riêng của Đài Loan”, và “ rõ ràng rằng hai bên bờ eo
biển là các quốc gia riêng biệt” .
Trong một động thái mà một số người coi là phản ứng trước việc Trần
Thủy Biển được tái cử năm 2004, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đưa ra một
dự luật “Luật chống ly khai” cho phép sử dụng vũ lực với Đài Loan và chính
phủ Trung Hoa Dân Quốc nếu họ chính thức tuyên bố độc lập. Tuy nhiên, luật

lựa chọn giữa ba luồng ý kiến về “độc lập”, “thống nhất”, hay “nguyên trạng”,
các kết quả từ những cuộc khảo sát cho thấy: 10% ý kiến ủng hộ độc lập, 55%
ủng hộ thống nhất và 35% là giữ nguyên trạng [60;7]. Tuy nhiên, có khoảng
70 đến 80%[60;7] ủng hộ quan niệm rằng Đài Loan là một quốc gia độc lập
dưới cái tên Trung Hoa Dân Quốc với một mối quan hệ đặc biệt với CHND
Trung Hoa, như cựu Tổng Thống Lý Đăng Huy từng đề xuất. Bên cạnh đó,
khi được hỏi về sự chống trả nếu như CHND Trung Hoa mở một cuộc tấn
công nhằm sát nhập Đài Loan với Đại lục thì có tơi 70 % ý kiến [60;7] sẽ
không đấu tranh chống lại cuộc sát nhập đó.


24

Như vậy, chính giới Đài Loan luôn có những ý kiến trái chiều trong vấn
đề “thống nhất” hay “độc lập”. Điều này đã phần nào làm ảnh hưởng tới tình
hình chính trị trong nội bộ Đài Loan và ảnh hưởng tới công cuộc thống nhất
Đài Laon của Trung Hoa Đại lục. Tuy nhiên, lãnh đạo và doanh nghiệp, nhân
dân Đài Loan lại khá đồng nhất về ý kiến tăng cường hợp tác về kinh tế và
các lĩnh vực khác.
1.2.3. Lập trường của các nước lớn
Có thể nói, việc giải quyết vấn đề Đài Loan là công việc nội bộ của
Trung Quốc. Tuy nhiên, dưới tác động của Chiến tranh lạnh, vấn đề Đài Loan
đã trở thành vấn đề quốc tế và là nơi đan xen lợi ích của các nước lớn như
Mỹ, Nga, Nhật Bản… Chính sự tham gia của các nước lớn này mà cục diện
hai bờ eo biển Đài Loan luôn diễn biến hết sức phức tạp.
Nước Mỹ với thế lực mạnh, ngay từ đầu dã trở thành nhân tố không thể
thiếu trong quan hệ hai bờ eo biển Đài Loan và đặc biệt là lập trường của Mỹ
trong vấn đề Đài Loan đã tác động rất lớn đến tình hình Eo biển. Có thể thấy,
sau khi nước CHND Trung Hoa thành lập năm 1949, chính sách của Mỹ ở
Đài Loan đã trải qua ba giai đoạn.

B.Clinton và G.Bush. Đối sách của Mỹ trong vấn đề này đó là Mỹ muốn thực
hiện ý đồ “mượn Đài Loan kiềm chế Trung Quốc” từng bước tăng lên nhất là
bán vũ khí cho Đài Loan. Để giữ được lượi ích chiến lược toàn cầu cũng như
lợi ích tối đa của Mỹ tại Eo biển Đài Loan, Mỹ đã ra sức duy trì hiện trạng
chia rẽ “không thống nhất, không độc lập, không chiến tranh”. Mỹ không
muốn vướng bận vào một cuộc xung đột mà Mỹ chắc rằng nếu nó xảy ra sẽ
gây tổn hại tới lợi ích quốc gia Mỹ.
Trong những năm gần đây, xu hướng giữ trạng thái hòa bình tương đối
ở Eo biển Đài Loan trở thành một trong những nội dung chủ yếu trong chiến
lược của Mỹ đối với Trung Quốc. Mỹ đủ thông minh để nhận ra rằng giữ cho
quan hệ Trung - Mỹ ổn định tương đối và hợp tác rộng rãi hơn sẽ phù hợp với


Trích đoạn Khái quát quan hệ hai bờ Eo biển Đài Loan trước năm Quan hệ trong lĩnh vực chính trị ngoại giao Quan hệ đầu tư Quan hệ thương mạ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status