LỜI CẢM ƠN
Để có một bài luận văn đạt kết quả tốt, trước tiên cho phép em được gửi tới
toàn thể các thầy cô trong khoa Quan hệ Quốc tế Trường Đại học dân lập Đông Đô
lời chúc sức khỏe và lời cảm ơn sâu sắc nhất. Được sự giúp đỡ và chỉ bảo tận tình
của các thầy cô trong khoa trong suốt bốn năm học cho tới nay em đã hoàn thành
Khóa luận Tốt nghiệp của mình với đề tài: “Quan hệ Mỹ - Trung trong thập niên
đầu của thế kỷ XXI”.
Để có được kết quả này, em xin đặc biệt giửi lời cảm ơn sâu sắc tới Thầy PGS
– TS Nguyễn Hoàng Giáp và cô PGS – TS Nguyễn Thị Quế . Mặc dù bận rất nhiều
công viêc nhưng thầy cô vẫn luôn cố gắng dành thời gian để hướng dẫn và chỉ bảo
tận tình để em có thể hoàn thành tốt Khóa luận.
Em cũng xin được cảm ơn các thầy cô trong Thư viện Trường Đại học Dân
lập Đông Đô đã cung cấp cho em những tài liệu quan trọng để em hoàn thành
Khóa luận của mình một cách tốt nhất.
Cuối cùng, em cũng xin được gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và người
thân với nhiều hình thức khác nhau đã tạo điều kiện giúp đỡ em, đặc biệt em xin
giử tới bố mẹ em, người đã hết lòng tận tụy lo cho em để em có được ngày hôm
nay và có thể hoàn thành tốt Khóa luận tốt nghiệp của mình.
Hà nội ngày 27 tháng 3 năm 2011
Sinh viên:
Nguyễn Thị Hạnh
DANH MỤC VIẾT TẮT
1. APEC
Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương
2. ASEAN
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Liên hợp Quốc
12. NAFTA
Khu vực buôn bán tự do Bắc Mỹ
13. NATO
Khối quân sự Bắc Đại Tây Dương
14. NDT
Nhân dân tệ
15. NMD
Hệ thống tên lửa phòng thủ Quốc gia
16. NICs
Các nước Công nghiệp mới
17. PLA
Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc
18. TMD
Hệ thống phòng thủ tên lửa chiến trường
LỜI NÓI ĐẦU
1. LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI
Chiến tranh lạnh kết thúc đánh dấu sự sụp đổ của trật tự hai cực Ianta (hay
còn gọi là trật tự hai cực Xô - Mỹ), thế giới đang vận động mạnh mẽ để bước vào
thời kỳ mới - thời kỳ thế giới đa cực. Hầu hết các quốc gia đều đã và đang tích cực
tham gia vào tiến trình toàn cầu hóa, phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đồng
thời tích cực xây dựng các mối quan hệ hợp tác hữu nghị của giữa các quốc gia.
Hòa bình hợp tác trở thành xu thế chung trên toàn thế giới. Hòa chung vào xu thế
phát triển của thế giới, cả Mỹ và Trung Quốc đang tích cực xây dựng mối quan hệ
của hai bên theo xu hướng này.
Quan hệ quốc tế vốn dĩ rất phức tạp, tuy nhiên trên thế giới chưa có mối quan
hệ nào lại phức tạp như mối quan hệ giữa CHDCND Trung Hoa và Hợp chủng
quốc Hoa Kỳ. Nếu như trong thời kỳ chiến tranh lạnh, quan hệ giữa ba nước Mỹ Xô - Trung được coi là mối quan hệ có tính chi phối quan hệ quốc tế nói chung thì
hiện nay, do sự suy yếu của Nga và sự nổi nên của Trung Quốc thì người ta có xu
hướng chú ý đến nhiều hơn đến quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc và nhiều chuyên
gia coi đó là nhân tố hàng đầu chi phối, là nhân tố hàng đầu tác động đến tình hình
chính trị và an ninh của khu cực cũng như trên thế giới. Chính vì lẽ đó vậy nên
quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc được coi là cặp quan hệ quan trọng hàng đầu
trong các mối quan hệ trên thế giới. Cặp quan hệ này không chỉ đơn thuần là quan
hệ song phương giữa hai nước bình thường với nhau mà nó còn là mối quan hệ
giữa hai nước lớn với nhau. Mối quan hệ này được xác định theo những biến thiên
của những thay đổi của tình hình thế giới, tình hình khu vực và tình hình của mỗi
nước. Đồng thời, sự thay đổi trong quan hệ của hai nước này còn xuất phát từ
những lợi ích của mỗi nước trong từng thời kỳ, từng động thái nào trong quan hệ
được Mỹ hoặc Trung Quốc thay đổi thì nó có tác động nhất định không chỉ đến
tình hình giữa hai quốc gia nói riêng mà nó còn ảnh hưởng đến tình hình an ninh,
chính trị, kinh tế trên toàn thê giới, tác động đến cục diện chung của thế giới.
1
trong mối quan hệ của hai nước đến năm 2020.
2
CHƯƠNG 1
NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ MỸ - TRUNG
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010
1.1. TÌNH HÌNH THẾ GIỚI VÀ KHU VỰC ĐÔNG Á
1.1.1. Tình hình thế giới
Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, tình hình thế giới có rất nhiều biến động
khôn lường. Tuy vậy, chiến tranh lạnh kết thúc đã mở ra thời kỳ mới trong lịch sử
quan hệ quốc tế. Sự sụp đổ của cường quốc XHCN Liên Xô và các nước XHCN
Đông Âu đã đánh dấu sự sụp đổ trật tự của hai cực Ianta (hay còn gọi là trât tự hai
cực Xô - Mỹ). Sự sụp đổ của cực Liên Xô đã tạo cho Mỹ một lợi thế tạm thời. Là
cực duy nhất còn lại sau chiến tranh lạnh, Mỹ đã ra sức củng cố vị trí siêu cường
của mình với âm mưu chi phối làm bá chủ thế giới. Nhưng sau khi trật tự Ianta sụp
đổ, một trật tự thế giới mới đang hình thành trên thế giới - đó là một trật tự mà các
nhà nghiên cứu gọi đó là trật tự “nhất siêu đa cường”. Tức là không chỉ có một
nước Mỹ có khả năng chi phối tất cả mà sự phát triển mạnh mẽ của các quốc gia
khác như Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ…cũng đã gây ra cho Mỹ không ít trở ngại
bởi tuy rằng Mỹ là cường quốc, là một siêu cường mạnh nhất so với những cường
quốc khác nhưng tình hình thế giới hiện nay buộc các nước phải dựa vào nhau để
cùng phát triển, vậy nên Mỹ không thể giải quyết được các vấn đề toàn cầu một
mình được. Rõ ràng rằng Mỹ không muốn sự phát triển của thế giới theo chiều
hướng đa cực. Vì vậy, Mỹ ra sức điều chỉnh chính sách đối nội đối ngoại tăng
cường năng lực cạnh tranh, xây dựng trật tự thế giới mới do Mỹ lãnh đạo, làm cho
sự thay đổi của thế giới theo quỹ đạo có lợi cho Mỹ.
Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, hòa bình thế giới được củng cố, nguy cơ
chiến tranh thế giới bị đẩy lùi rõ rệt. Tuy vậy vẫn có một số nơi hòa bình vẫn bị đe
Đa cực hóa cũng đang là một xu thế lớn trên thế giới. Sau khi Liên Xô sụp đổ,
Mỹ là cực còn lại duy nhất, điều này làm cho Mỹ trở thành siêu cường duy nhất
với ưu thế vượt trội hơn cả về mọi mặt. Tuy nhiên, dù là một nước siêu cường với
sức mạnh tổng hợp lớn nhất, Mỹ cũng không thể chi phối toàn bộ công việc của
thế giới. Sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc, khả năng phục hồi kỳ diệu của
Nga, tính độc lập ngày càng cao của Nhật Bản và EU cùng với sự lớn mạnh của Ấn
Độ làm cho Mỹ khó có thể thực hiện được ý đồ bá chủ của mình. Trật tự thế giới
đang hình thành là trật tự đa cực trong đó Mỹ là cực áp đảo (Trung Quốc và một số
nhà nghiên cứu gọi là trật tự“nhất siêu đa cường”).
Như vậy, những nhân tố trên đều có ảnh hưởng to lớn đến hầu hết các nước
4
lớn nhỏ, đặc biệt là các nước lớn hiện nay. Xu thế hòa bình, hợp tác cùng nhau
phát triển cũng như xu thế toàn cầu hóa hóa có tác dụng thúc đẩy hòa bình và tăng
cường hợp tác lẫn nhau giữa các nước lớn, xu thế đa cực hóa là kết quả của sự
cạnh tranh cà kiềm chế lẫn nhau gữa các nước lớn. Chính những điều trên đã buộc
các nước phải điều chỉnh chính sách của mình sao cho phù hợp với xu thế hiện nay
của thế giới. Và Trung Quốc và Mỹ cũng không nằm ngoài xu thê trên.
1.1.2. Tình hình khu vực:
1.1.2.1. Về kinh tế:
Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, khu vực Châu Á - Thái Bình Dương nổi lên
là một khu vực phát triển năng động, là nơi tập chung hầu hết các nền kinh tế lớn.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và duy trì liên tục trong nhiều thập kỷ đã làm
cho bộ mặt của khu vực thay đổi rõ rệt. “Trong suốt thập kỷ 80 và nửa đầu thế thập
kỷ 90 của thế kỷ XX, các nước NICs và ASEAN luôn giữ được tỷ lệ tăng trưởng
kinh tế từ 6-8%”.
[6;24]
Sau một thời gian khá dài các lực lượng TBCN xâu xé và bóc lột, bị chiến
tranh tàn phá nặng nề, đất nước luôn trong tình trạng mất ổn định thì nay Trung
Quốc đã bắt đầu bước sang một trang sử mới độc lập và tự chủ - ngày 1/10/1949,
nước CHND Trung Hoa ra đời.
Lúc này trên thế giới, tình hình đang có những diễn biến phức tạp. Thế giới bị
chi phối bởi chiến tranh lạnh. Do vậy, tình hình của Trung Quốc lúc này cũng bị
ảnh hưởng sâu sắc bởi chiến tranh lạnh. Chính vì lẽ đó, Trung Quốc những năm
đầu cách mạng đã thi hành chính sách "nhất biên đảo”. "Nhất biên đảo” thực chất
là ngả hẳn về phía Liên Xô để chống lại CNĐQ mà trước hết là chống lại Mỹ.
Trong thời gian này, "nhất biên đảo” được coi là sự lựa chọn chiến lược vì nó phù
hợp nhất với lợi ích quốc gia, đồng thời nó cũng phù hợp với niềm tin vào CNXH
của Đảng và nhân dân Trung Quốc. Tháng 2/1950 - Trung Quốc đã kí với Liên Xô
bản "Hiệp ước hữu nghị đồng minh và tương trợ”. Đồng thời trong giai đoạn này,
Trung Quốc đã lần lượt thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước trong phe
XHCN. Không những vậy, Trung Quốc còn tích cực ủng hộ cuộc đấu tranh giải
phóng dân tộc trên thế giới và phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
Mặc dù là một đất nước còn non trẻ, xong nước CHND Trung Hoa ngày càng
có địa vị to lớn trên trường quốc tế. Tuy nhiên, như trên đã nói, trong giai đoạn này
Trung Quốc thi hành chính sách "nhất biên đảo” để chống lại CNĐQ mà đứng đầu
là đế quốc Mỹ. Chính vì lẽ đó, quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc trong giai đoạn
6
này là ở vào thế đối đầu. Trong suốt gần 30 năm kể từ khi CHND Trung Hoa ra
đời vào ngày 1/10/1949, Mỹ không hề công nhận thể chế này, trong khi đó, Mỹ
vẫn duy trì quan hệ ngoại giao chính thức với Đài Loan và chỉ công nhận cái gọi là
"Cộng hòa Trung Hoa” theo như Đài Loan tự xưng, là "đại diện hợp pháp duy
nhất” của toàn Trung Quốc, kể cả ở Liên Hợp Quốc. Bên cạnh đó, Mỹ còn ra sức
khuyến khích các nước đồng minh của Mỹ không công nhận CHND Trung Hoa,
đồng thời hưởng ứng cuộc cấm vận của Washington chống Bắc Kinh.
tiên trong quan hệ quốc tế, khái niệm "ngoại giao bóng bàn” được xuất hiện và
chính cú hích "ngoại giao bóng bàn” này đã mở đường cho hàng loạt các sự kiện
tiếp theo thể hiện sự nỗ lực phá băng từ cả hai phía. Ngày 10/4/1971, một đoàn vận
động viên bóng bàn của Mỹ đã đến thăm Trung Quốc theo lời mời của nước chủ
nhà. Đây là những người Mỹ đầu tiên tới thăm nước CHND Trung Hoa kể từ khi
nhà nước này ra đời. Đây cũng được coi là màn ngoại giao gây trấn động thế giới.
Cũng trong năm 1971, cố vấn an ninh quốc gia của Tổng Thống Mỹ Nicxơn là
Henry Kissiger đã thực hiện chuyến công du bí mật tới Bắc Kinh để chuẩn bị cho
chuyến thăm của Tổng thống Mỹ sang Trung Quốc - chuyến thăm đã được giới
báo chí phương Tây mô tả là "mang tính đột phá”. Tại đây, chủ tịch Trung Quốc
Mao Trạch Đông đã bắt tay Tổng thống Mỹ Nicxơn - người đã vào thư phòng của
ông và ngay lập tức, chỉ trong nháy mắt sự cách biệt kéo dài suốt 23 năm giữa Mỹ
và Trung Quốc đã chấm dứt. Chuyến thăm chính thức của tổng thống Mỹ Nicxơn kéo
dài từ ngày 21 đến ngày 28/2/1972 được kết thúc bằng sự kiện hai bên đã đưa ra
"Thông cáo chung Thượng Hải” - một văn kiện gây ra nhiều phản ứng khác nhau
trong cộng đồng quốc tế. Đây chính là sự kiện đầu tiên đặt khuôn khổ cho quan hệ
chiến lược Trung - Mỹ. Cùng với tiến trình bình thường hóa quan hệ chiến lược
Trung - Mỹ được khởi động, cuộc khai thông trong quan hệ Trung - Mỹ thật sự đã
gây ra những trấn động lớn trên thế giới, không những mở đầu cho việc hình thành
một nền Ngoại giao mới - nền ngoại giao tam giác Mỹ - Xô - Trung mà còn làm cho
đồng minh của Mỹ là Nhật Bản bị choáng váng vì cái gọi là "cú sốc Nicxơn”.
1.2.1. Thiết lập mối quan hệ chính thức với nhau (tháng 1 năm 1979) đến
sự kiện Thiên An Môn (tháng 6 năm 1989)
Mặc dù “Thông cáo chung Thượng Hải” đã được ký kết vào năm 1972 giữa Mỹ
và Trung Quốc song việc bình thường hóa quan hệ giữa hai nước phải đến năm 1978
với nghệ thuật Ngoại giao của Đặng Tiểu Bình thì việc bình thường hóa quan hệ giữa
8
Mỹ và Trung Quốc mới chính thức được ký kết giữa hai nước. Trong thời gian từ năm
phán về bình thường hóa quan hệ hai nước. Đầu tháng 12/1978, Đặng Tiểu Bình đã
gặp Trưởng văn phòng Liên lạc của Mỹ ở Bắc Kinh và nói rằng Trung Quốc không
từ bỏ lập trường của mình trong vấn đề Đài Loan, đồng thời quyết định chấp nhận
bình thường hóa quan hệ giữa hai nước với điều kiện hai bên sẽ công bố quyết định
này vào ngày 14/12/1979. Mỹ đã đồng ý với kế hoạch trên của Trung Quốc. Ngày
16/12/1978, Mỹ và Trung Quốc cùng ra Thông cáo chung về thiết lập quan hệ
ngoại giao đầy đủ kể từ ngày 1/1/1979 ở thủ đô mỗi nước. Như vậy, trải qua một
9
thời gian tương đối dài từ “Ngoại giao bóng bàn” được thiết lập thì phải đến ngày
1/1/1979, quan hệ giữa hai nước Mỹ và Trung Quốc mới chính thức được thiết lập.
Ngay sau khi quan hệ hai nước chính thức được thiết lập, quan hệ giữa hai
nước đã được nâng thêm một bước bằng chuyến viếng thăm Mỹ của Phó Thủ
tướng Đặng Tiểu Bình kéo dài từ 29/1 đến 05/02/1979. Trong chuyến thăm lần
này, “hai bên đã cùng nhau thỏa thuận về chế độ tham khảo ý kiến lẫn nhau về các
vấn đề quốc tế, kể cả trao đổi tin tức về các cuộc đàm phán với Liên Xô, phối hợp
lập trường của hai bên ở Liên Hợp Quốc, trao đổi quan điểm về các vấn đề an ninh
quốc phòng…”. [4;324] Về phía Mỹ, Mỹ không ngần ngại việc mở rộng quan hệ cộng
tác với Trung Quốc trong lĩnh vực quân sự. Tháng 1/1980, trong cuộc hội đàm
diễn ra ở Bắc Kinh, Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Harold Bromn đã thông báo cho
Trung Quốc rằng Mỹ sẵn sàng chuyển “những hình thức cộng tác từ thụ động
sang tích cực lĩnh vực an ninh” gồm cả “các hoạt động bổ sung lẫn nhau” và
“song hành” cả trong lĩnh vực quốc phòng lẫn ngoại giao. Theo thỏa thuận, Trung
Quốc sẽ được Mỹ bán cho những trang thiết bị hiện đại dùng được cả cho mục
đích quân sự lẫn dân sự. Tuy vậy, việc Quốc hội Mỹ thông qua đạo luật “Về quan
hệ với Đài Loan” đã gây ra nhiều căng thẳng cho mối quan hệ đang diễn ra hết sức
tốt đẹp với Trung Quốc.
Năm 1981, Reagan trở thành Tổng thống của Mỹ. Sau khi lên nắm quyền,
“Reagan nhìn nhân tố Trung Quốc trong chính sách đối ngoại của Mỹ có phần dè
Tuy nhiên, chuyến đi của ông không làm thay đổi quan điểm của Bắc Kinh,
quan hệ của hai nước giảm sút xuống mức thấp nhất.
Trước nguy cơ đe dọa của Liên Xô, Tổng thống Mỹ Reagan sau khi tái đắc cử
đã nhận lời sang thăm Trung Quốc. Tại đây, ông đã được đón tiếp rất nồng hậu.
Hai bên đã cùng nhau ký kết Hiệp định Thương mại và Mỹ cũng đã đồng ý chuyển
cho Trung Quốc những công nghệ hiện đại nhất. Chính sách tự do buôn bán của
Reagan đã mở cửa cho hàng hóa Trung Quốc vào thị trường Mỹ. Các công ty của
Mỹ cũng đua nhau đầu tư vào Trung Quốc. Các trường Đại học ở hai nước được
liên kết với nhau, đồng thời giao lưu văn hóa, khoa học cũng có bước tiến mới.
Quan hệ Trung – Mỹ bắt đầu có những bước phát triển tốt đẹp trong nhiệm kỳ tiếp
theo của Tổng thống Reagan. Như vậy, chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống
Reagan năm 1984 đã mở ra một thời kỳ mới cho quan hệ của hai nước, tuy nhiên
ẩn chứa bên trong nó là sự ngấm ngầm đấu tranh và chống phá nhau. Mặc dù vậy
nhưng ta vẫn có thể nói, quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc thời kỳ này là êm thấm
nhất khiến cho một Trung Quốc luôn chống Reagan trước đây nay lại quay sang ca
ngợi ông hết lời.
Tháng 1/1989, George Bush đã trúng cử Tổng thống của Mỹ. Với việc trúng
cử của Tổng thống Bush, người ta tin tưởng rằng quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc
sẽ tiến lên một tầm cao mới, sẽ lên đến đỉnh cao vì Bush đã từng sống và làm việc
khá lâu ở Trung Quốc, đồng thời ông cũng đã từng là Trưởng phòng Liên lạc của
Mỹ ở Trung Quốc. Tuy nhiên sau khi Bush nhận chức Tổng thống Mỹ không được
bao lâu thì ở Trung Quốc đã xảy ra sự kiên Thiên An Môn vào ngày 4/6/1989. Sự
kiện này đã làm đảo lộn mối quan hệ giữa Trung Quốc với hầu hết các nước
phương Tây trong đó có Mỹ. Sau sự kiện 4/6/1989, Mỹ và các nước phương Tây
đã dấy lên phong trào phản đối Chính phủ Trung Quốc đàn áp dã man những người
biểu tình. Thêm nữa, cả Mỹ và phương Tây đều thực hiện chính sách bao vây cấm
vận và trừng phạt Trung Quốc. Chính điều này đã làm cho quan hệ giữa Mỹ và
11
12
ty đầu tư, tư nhân trong và ngoài nước đầu tư vào Trung quốc, chấm dứt tiền do
“Luật viện trợ do nước ngoài ” quy định sử dụng, chấm dứt xuất khẩu vũ khí đạn
dược bao gồm máy bay trực thăng, chấm dứt hợp tác với Trung quốc về hợp tác
chế tạo vệ tinh phóng tên lửa do Mỹ sản xuất, chấm dứt hợp tác năng lượng hạt
nhân Trung - Mỹ. Bằng một loạt những biện pháp cấm vận trên, mối quan hệ giữa
Trung – Mỹ rơi vào thời kì khó khăn nhất kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ
ngoại giao.
Mặc dù vậy nhưng suất phát từ lợi ích của cả hai bên nên Chính phủ của cả
hai nước đều không muốn quan hệ của hai nước tiếp tục xấu đi. Do vậy, tháng
7/1989, Tổng thống Bush đã cử trợ lý an ninh quốc gia của Mỹ, ông Brent
Scowcroft là đặc phái viên bí mật sang thăm Trung Quốc, một mặt bày tỏ quan
điểm của Mỹ với sự kiện Thiên An Môn (4/6/1989), mặt khác nêu rõ Chính phủ
Mỹ mong muốn duy trì mối quan hệ bình thường với Trung quốc. Từ đó về sau,
Tổng thống Mỹ Bush luôn bày tỏ rất muốn cùng Trung Quốc nỗ lực duy trì mối
quan hệ này thông qua Quốc vụ Khanh Beck. Ngày 19/12/1989, Mỹ tuyên bố dỡ
bỏ lệnh cấm ngân hàng xuất nhập khẩu Mỹ tạm ngưng giúp đỡ về vốn cho hoạt
động thương nghiệp của Mỹ vào Trung Quốc, đồng thời ông cũng phê chuẩn cho
Trung Quốc 3 vệ tinh phóng tên lửa. Từ đó về sau, các hoạt động khoa học kỹ
thuật của hai nước từng bước được nối lại. Ngân hàng thế giới cũng đã bắt đầu
cung cấp các khoản vay cho Trung Quốc. Tháng 10/1990 – ngân hàng xuất nhập
khẩu Mỹ cũng bắt đầu nối lại tín dụng xuất khẩu với Trung Quốc. Tháng 12/1990
tại Hội nghị hàng năm của Ngân hàng thế giới, khi biểu quyết về việc có khôi phục
lại hoàn toàn các khoản vay cho Trung Quốc hay không, đại diện của Mỹ đã bỏ
phiếu ủng hộ. Cuối cùng, các khoản vay của ngân hàng thế giới cho Trung Quốc
về cơ bản được khôi phục lại mức trước năm 1989. Tháng 11/1991 – Quốc vụ
Khanh Mỹ Beck đã nhận lời mời của Ngoại trưởng Trung quốc Tiền Kỳ Tham đã
thăm chính thức Trung Quốc.
cuộc luận bàn đa phương tại Liên hợp Quốc và các Tổ chức hợp tác Châu Á- Thái
Bình Dương làm cho quan hệ Trung - Mỹ trên tổng thể đã giữ được ổn định, tạo
điều kiện cho cả hai bên cùng phát triển có hiệu quả và có lợi.
Tóm lại, quan hệ Trung Mỹ dù cho trải qua nhiều thăng trầm, song cả hai bên
vẫn luôn luôn coi đó là trục chính trong hoạt động ngoại giao của mình. Chính vì
vậy nên dù có những lúc xảy ra mâu thuẫn nhưng hai bên đã từng bước điều khiển
14
chính sách của mình, cùng nhau chung sống hòa bình, cùng nhau phát triển là phù
hợp với xu thế của thời đại.
1.3. SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH CỦA HAI NƯỚC SAU SỰ KIỆN 11/9
1.3.1. Chính sách của Mỹ đối với Trung quốc:
Sự kiện 11/9 xảy ra ở nước Mỹ là sự kiện lớn gây ra cú sốc khá lớn cho giới
cầm quyền của Mỹ. Cuộc tấn công của các lực lượng khủng bố quốc tế nhằm vào
hai biểu tượng lớn nhất của Mỹ đó là trung tâm thương mại ở NewYork và Lầu
Năm Góc ở Woasinhton gây trấn động cả nước Mỹ và toàn thế giới. Cũng sau sự
kiện gây trấn động thế giới này, tình hình thế giới có nhiều diễn biến hết sức phức
tạp, thế giới trở nên bất an trước những bất trắc khó lường. Tình hình trên đã buộc
các nước phải điều chỉnh chính sách, đặc biệt là các nước lớn mà trước hết là Mỹ,
để đối phó với tình hình quốc tế mới. “Sự kiện ngày 11/9 đã cho thấy Mỹ rất cần
sự hợp tác của các nước trong việc chống khủng bố. Điều này buộc Mỹ phải từng
bước điều chỉnh chính sách theo hướng mềm dẻo hơn, chú trọng hơn đến thái độ và
lợi ích của nước khác, đặc biệt là trong quan hệ với Nga và Trung Quốc.” [7;119]
Chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc cũng nằm trong chính sách đối ngoại
của Mỹ. Mục tiêu chủ yếu trong chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc là kiềm chế
nhằm ngăn chặn sự nổi lên của Trung Quốc. Tuy nhiên, chính sách của chính quyền
B.Clinton chủ trương kiềm chế Trung Quốc thông qua phương thức tiếp cận mềm
cùng đối thoại, tiếp xúc toàn diện với Trung Quốc, thúc đẩy hợp tác kinh tế. Mỹ còn
ủng hộ Trung Quốc gia nhập WTO, cùng Trung Quốc ra lập cơ chế bốn bên bàn về
cụ thể mà Mỹ điều chỉnh chính sách hợp tác hay cạnh tranh.
1.3.2. Chính sách của Trung Quốc đối với Mỹ:
Trong tình hình thế giới hiện nay, khi mà trên thế giới đang hình thành trật tự
thế giới mới – thế giới đa cực, thì Trung Quốc cũng đang từng bước bổ sung và
hoàn thiện chiến lược đối ngoại “Hòa bình, độc lập, tự chủ” đã được đề ra từ trước
đó. Trung Quốc đã chủ trương thực hiện chính sách “Toàn phương vị”, lần lượt
xác lập quan hệ bạn bè hợp tác với các cường quốc lớn như: Nga, Pháp, Mỹ, Nhật
vừa để tranh thủ các nước này trên hầu hết các lĩnh vực nhằm chống lại chủ trương
“Đơn cực hóa thế giới” của Mỹ. Hiện nay, Trung Quốc thực hiện “chiến lược
ngoại giao nước lớn” để duy trì quan hệ hợp tác giữa các nước lớn trên thế giới,
tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế của Trung Quốc.
Quan hệ ổn định với Mỹ là chiến lược quan trọng trong chính sách đối ngoại
của Trung quốc. Tại Đại hội XVI, Đảng cộng sản Trung quốc đã xác định: Quan
hệ với các nước lớn trong đó có Mỹ là ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại,
đồng thời Trung Quốc cũng thừa nhận quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc là một
trong ba điều đáng sợ nhất đối với Trung Quốc.
Vì vậy, Trung Quốc đang từng bước điều chỉnh chính sách của mình đối với
Mỹ. Theo đó, Trung Quốc đã có những động thái làm hài lòng Mỹ. Trước tiên,
16
Trung Quốc khẳng định sự tồn tại của quân đội Mỹ ở Thái Bình Dương, đồng thời
cũng không phản đối gay gắt về mối quan hệ quân sự của Mỹ - Nhật như trước
nữa. Sự kiện ngày 11/9 xảy ra, Trung quốc đã tham gia tích cực vào mặt trận
chống khủng bố do Mỹ khởi xướng. Thêm một hành động nữa nhằm cải thiện mối
quan hệ Mỹ - Trung đó là Trung Quốc đang tích cực tham gia vào các việc giải
quyết vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên. Trung quốc đã thay đổi thái độ của
mình từ “lặng lễ quan sát” trong đợt khủng hoảng lần 1 đến việc tích cực đưa ra
những phương thức để giải quyết khủng hoảng bằng con đường ngoại giao hòa
bình, Trung Quốc cũng phản đối bán đảo Triều Tiên có vũ khí hạt nhân trong đợt
2.1.1. Trên lĩnh vực chính trị:
“Ngay sau khi lên làm chủ nhà trắng vào năm 2001 – Tổng thống Mỹ
G.W.Bush (Bush con) đã triển khai toàn diện chính sách đối ngoại cứng rắn trong
đó nhấn mạnh Trung Quốc là đối thủ cạnh tranh chiến lược của Mỹ.” [3;146] Như vậy
là tình hình đã đi ngược hẳn so với nhận định của các nhà nghiên cứu. Họ đánh giá
mối quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc chắc chắn sẽ bước vào một thời kỳ tốt đẹp
khi G.Bush lên làm Tổng thống, bởi ông này cũng đã có thời gian gắn bó với
Trung Quốc. Khi nhận chức, Bush đã chủ động gọi điện cho lãnh đạo hàng chục
nước nhưng lại cố tình loại Trung Quốc ra khỏi danh sách. Điều này đã chứng tỏ
thái độ thù địch của G.Bush đối với Trung Quốc. Mục tiêu phát triển quan hệ “đối
tác chiến lược” do chính quyền Clinton xác lập được thay đổi vào đó là quan hệ
“đối thủ cạnh tranh chiến lược”.
Sau khi G.Bush lên nắm chính quyền, thời kỳ khủng hoảng trong mối quan hệ
giữa Mỹ và Trung Quốc bắt đầu, mở đầu là vụ đụng độ “giữa máy bay do thám
EP-3 của Mỹ và máy bay chiến đấu F8 của Trung Quốc trên vùng trời đảo Hải
Nam – Trung Quốc, làm cho phi công của Trung Quốc đã tử nạn (1-4-2001). Sự
kiện này đã đẩy quan hệ Mỹ - Trung sang thời kỳ căng thẳng mới.” [3;146-147]
Tuy nhiên, sự kiện 11/9 lại là cơ sơ mới để cải thiện mối quan hệ Trung - Mỹ.
Ngay sau sự kiện này, Mỹ đã buộc phải điều chỉnh chiến lược và chính sách đối
ngoại của mình. Mỹ đã phát động cuộc chiến “chống khủng bố” trên toàn thế giới.
Cuộc chiến chống khủng bố do Mỹ phát động chính là cơ hội để Mỹ thực hiện giấc
mộng ngàn năm là làm bá chủ thế giới của mình. Sự kiện 11/9 đã làm thay đổi hẳn
tình hình của nước Mỹ. Cần sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế trong cuốc chiến
chống khủng bố, đặc biệt là sự ủng hộ của các nước lớn, mà trong đó phải kể đến
18
Trung Quốc, nên Mỹ đã từng bước thay đổi chính sách đối với Trung Quốc. Còn
Trung Quốc ngay sau sự kiện 11/9, lãnh đạo Trung Quốc đã ngay lập tức gọi điện
chia buồn với Tổng thống và nhân dân Mỹ. Hành động này đã kéo quan hệ giữa
chiến lược còn gọi đó là “hình bán nguyệt Châu Á”). Trung Quốc cũng đã cho
rằng vòng cung này sẽ là mối đe dọa tiềm ẩn thực sự đối với họ.
“Ngay sau khi nhận chức chủ tịch Trung Quốc, tháng 5-2003, Chủ tịch Trung
Quốc Hồ Cẩm Đào đã sang thăm chính thức Nga.”
[3;149]
Tuy nhiên, sự kiện Chủ
Tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào lựa chọn Nga là nước đầu tiên ông tới trong chuyến
công du đầu tiên trên cương vị Chủ tịch không phải là chính quyền mới của Trung
Quốc coi quan hệ Nga - Trung là mục tiêu ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối
ngoại của Trung Quốc mà cả Nga và Trung đều đặt quan hệ song phương với Mỹ
chính là ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của cả Trung Quốc và Nga.
Đầu tháng 12-2003 Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đã có chuyến thăm
chính thức tới Mỹ. Chuyến thăm đã diễn ra trong thời điểm có nhiều diễn biến
phức tạp trong quan hệ hai nước Trung - Mỹ. Vấn đề nổi cộm lên đó là vấn đề Đài
Loan, ngoài ra còn vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên và vấn đề mậu dịch
giữa hai nước. Dù chuyến thăm được tiến hành vào thời điểm khó khăn nhưng giới
báo chí Hồng Kong (Trung Quốc) đã cho rằng phía Mỹ đã tạo ra bầu không khí tốt
đẹp cho chuyến thăm của Thủ tướng Trung Quốc. Ngoại trưởng Mỹ Powell cũng
đã nói: Quan hệ giữa hai nước Trung Quốc và Mỹ đang ở vào thời kỳ tốt đẹp nhất
trong 30 năm nay. Nếu nhìn lại chuyến thăm của cựu Thủ tướng Trung Quốc Chu
Dung Cơ và chuyến thăm của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào vào thời gian trước thì ta có
thể thấy chuyến thăm lần này của Thủ tướng Ôn Gia Bảo được coi là tiến hành
trong không khí hòa bình, thân thiện hơn cả giữa hai nước. Đây là tín hiệu rất đáng
mừng cho mối quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc.
Từ đại hội XVI Đảng Cộng Sản Trung Quốc đến Hội nghị TW4 khóa XVI và
Hội nghị toàn ngành Ngoại giao Trung Quốc đã xác lập quan niệm về lợi ích, về
hợp tác, về quan niệm quốc tế của ngoại giao Trung Quốc. Trong hội nghị toàn
Đào lần này là rất quan trọng, ngay cả Trung Quốc cũng coi chuyến thăm lần này
là “chuyến thăm nhà nước”, nhưng phía Mỹ thỏa thuận chỉ coi đây là “chuyến
thăm chính thức”. Trước khi sang thăm Mỹ, vị lãnh đạo của Trung Quốc này đã
nhấn mạnh mục đích của chuyến thăm lần này đó là để “thúc đẩy toàn diện mối
quan hệ hợp tác Trung - Mỹ mang tính xây dựng trong thế kỷ XXI”. Chủ tịch cũng
cho rằng Trung Quốc và Mỹ “không chỉ là bên liên quan lợi ích, hơn nũa còn phải
là bên hợp tác mang tính xây dựng”. Trong thời gian diễn ra chuyến thăm, Chủ
tịch Trung Quốc đã nhiều lần nhấn mạnh rằng, trong tình hình hiện nay tầm quan
21
trọng của quan hệ Trung - Mỹ không phải hạ thấp đi mà phải tăng lên, các lĩnh vực
hợp tác cũng được mở rộng hơn. Như vậy, chuyến thăm của Chủ tịch Trung Quốc
Hồ Cẩm Đào đã nâng thêm một bước mới trong quan hệ giữa hai nước Trung Mỹ, quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc cũng ngày càng có ảnh hưởng lớn tới khu
vực và thế giới, có ý nghĩa chiến lược toàn cầu.
Năm 2008 là năm đương nhiệm cuối cùng trong hai nhiệm kỳ của Tổng thống
Mỹ Bush. Trong năm này ông có chuyến thăm tới một số nước Châu Á, trong đó
có Trung Quốc trong chuyến công du tới Châu Á, Bush đã tham dự Lễ khai mạc
thế vận hội Bắc Kinh năm 2008 vào ngày 8/8 và ở thăm Trung Quốc bốn ngày.
Ông đã trở thành vị Tổng thống đầu tiên đương nhiệm của Mỹ tham dự Lễ khai
mạc Thế vận hội Olympic trong thời gian ông ở thăm Bắc Kinh. Trong chuyến
thăm lần này, Tổng thống Mỹ Bush đã có cuộc hội đàm với các nhà lãnh đạo
Trung Quốc là Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, Thủ tướng Ôn Gia Bảo và Phó chủ tịch Tập
Cận Bình. Nhiều ý kiến cho rằng, chuyến đi Châu Á của ông Bush lần này mà
trong đó có Trung Quốc chủ yếu mang theo những thông điệp hữu nghị, hợp tác.
Điều này cho thấy sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Mỹ ở cuối nhiệm kỳ của
tổng thống Bush. Cũng theo lời của Tổng thông Bush thì việc Ông háo hức trong
việc tham dự thế vận hội Bắc Kinh nhằm bày tỏ sự kính trọng của ông đối với nhân
dân Trung Quốc. Như vậy ta thấy trong thời kỳ đầu nhận chức và cuối nhiệm kỳ
của Tổng thống Mỹ Bush có sự thay đổi rõ rệt, tạo môi trường ổn định giữa hai
hiệu rõ ràng Woashington đang rất muốn giải quyết những vấn đề sau một năm
quan hệ sóng gió giữa hai nước. Chuyến thăm của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào được kỳ
vọng trước hết là sẽ tạo được bầu không khí thân thiện hơn sau một năm Bắc Kinh
và Woashington liên tục xảy ra bất đồng. Quan chức của cả hai bên cũng hy vọng
rằng sẽ cố gắng để năm 2009 đầy sóng gió lại phía sau và thể hiện mình là đối tác
chứ không phải là đối thủ của nhau. Trong bối cảnh thế giới đang phải đối phó với
những khó khăn về kinh tế cũng như về an ninh và môi trường thì chuyến thăm của
Chủ tịch Hồ Cẩm Đào là hết sức quan trọng. Ông Obama từng nói ông tin rằng
quan hệ Mỹ - Trung sẽ định hình thế kỷ XXI.
Cũng trong năm 2010 này, Tổng thống Mỹ Obama đã có chuyến thăm tới bốn
nước Châu Á, trong đó có Trung Quốc. Chuyến thăm lần này của ông được coi là
23