0
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN NHƯ LUẬT
CÁI HÀI TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN NHƯ LUẬT
CÁI HÀI TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60.22.01.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. PHAN HUY DŨNG
NGHỆ AN
2.1. Cái hài từ cuộc “cãi cọ” giữa các giá trị đời sống.................................32
1
2.2. Cái hài từ sự cọc cạch trong cấu trúc nhân cách của con người............41
2.3. Cái hài từ sự bất tương xứng giữa bản chất của đời sống và sự
phản ánh của nghệ thuật...............................................................................49
Chương 3.
CÁC PHƯƠNG THỨC NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN CÁI HÀI
TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM THẬP NIÊN
ĐẦU THẾ KỶ XXI......................................................................54
3.1. Tạo tiếng cười từ các tình huống nghệ thuật giả tưởng.........................54
3.2. Tạo tiếng cười từ hình thức giễu nhại....................................................61
3.3. Tạo tiếng cười từ sự pha trộn mang tính nghịch dị các loại hình
ngôn ngữ.......................................................................................................69
KẾT LUẬN.....................................................................................................78
TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................80
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Cái hài là một hiện tượng thẩm mỹ quan trọng của cuộc sống con người. Mỗi
nền nghệ thuật dân tộc qua từng thời đại lại có những khám phá sâu sắc về cái hài của dân
tộc mình. Cái hài xuất hiện trong văn học Việt Nam ngay từ buổi sơ khai, được thể hiện
qua nhiều dạng thức phong phú và thăng trầm theo những biến thiên của các hình thái xã
túc, hoặc sẽ chọc ghẹo bề trên. Với Aristote, cái hài là tương phản giữa đẹp và xấu.
Các nhà triết học cổ điển Đức như Kant, Hegel cũng quan tâm đến việc lý giải cái
hài. Theo Kant (1724-1804): cái hài là sự mâu thuẫn giữa cái thấp hèn và cái cao cả. Hegel
(1770-1831) quan niệm hài là mâu thuẫn giữa cái giả dối, cái có cơ sở hư ảo với cái có ý
nghĩa, cái bền vững và chân lí.
Tsernyshevsky, nhà văn, nhà tư tưởng Nga định nghĩa: “Cái hài là sự trống rỗng và
sự vô nghĩa bên trong được che đậy bằng một cái vỏ huênh hoang tự cho rằng có nội dung
và có ý nghĩa thực sự” [18; 30].
Những phát hiện trên đều là thành tựu của mỹ học, chúng đồng nhất ở chỗ: cái hài
được sinh ra từ mâu thuẫn của những mặt đối lập.
Từ điển thuật ngữ văn học đã khái quát: cái hài là “phạm trù mỹ học phản ánh một
hiện tượng phổ biến của thực tế đời sống vốn có khả năng tạo ra tiếng cười ở những cung
bậc và sắc thái khác nhau. Đó là sự mâu thuẫn, sự không tương xứng mà người ta có thể
cảm nhận được về phương diện xã hội - thẩm mỹ (chẳng hạn giữa hình thức với nội dung,
hành động với tình huống, mục đích và phương tiện, bản chất và biểu hiện v.v…)” [18;
29].
Giáo trình Mỹ học đại cương (PGS.TS. Nguyễn Văn Huyên chủ biên) cũng kết
luận: “Cái hài là một hiện tượng thẩm mỹ khách quan, mang ý nghĩa xã hội sâu sắc. Đó là
những cái xấu đội lốt cái đẹp, bị phát hiện bất ngờ và gây ra tiếng cười tích cực, phê phán
cái xấu dưới ánh sáng của một lý tưởng thẩm mỹ tiến bộ” [24; 177].
Như vậy, cái hài gắn với tiếng cười, chứa đựng tiếng cười, cái hài là một hiện tượng
gây cười. Tuy nhiên không phải tiếng cười nào cũng là biểu hiện của cái hài. Mặt khác,
một hiện tượng chỉ có thể được coi là cái hài khi chủ thể nhận thức được những mâu thuẫn
chứa đựng trong nó.
2.1.2. Đặc điểm của cái hài
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, có ba yếu tố tạo thành cái hài: một là bản chất
mang tính hài của đối tượng; hai là sự cường điệu những đường nét, kích thước và những
liên hệ của chúng trong việc mô tả đối tượng; ba là sự sắc bén, ý nhị, hóm hỉnh của người
thể hiện.
nhiên, tục không phải là yếu tố cơ bản của cái hài.
2.1.3. Các cấp độ của cái hài
Trong cuộc sống cũng như trong văn học nghệ thuật, cái hài được thể hiện qua
nhiều cấp độ khác nhau: nhẹ nhất là hài hước - bông đùa nhằm loại bỏ những điểm yếu cho
4
đối tượng; dí dỏm - chỉ bảo, gợi mở là cái cười có tính chất trí tuệ mang ý nghĩa nhận thức;
châm biếm, mỉa mai là tiếng cười có màu sắc phê phán một cách nhẹ nhàng; cao nhất là
tiếng cười đả kích có tính xã hội rõ rệt, nhằm phủ định đối tượng. Cái hài còn gắn với tiếng
cười mang nhiều sắc thái: cười khinh bỉ, cười thiện cảm, cười nghiêm khắc, cười chua
chát,…
Sự phát triển của cuộc sống phát sinh các hình thức khác nhau của tiếng cười. Việc
nhận ra tính hài hước của đối tượng thuộc về những người thông minh, sắc sảo, có xúc cảm
hài, nhạy cảm với các xung đột, mâu thuẫn, có ý thức dân chủ và tinh thần sáng tạo.
Cái hài được phản ánh trong nhiều loại hình nghệ thuật (trừ kiến trúc); thuận lợi
nhất là trong văn học.
2.2. Những nghiên cứu về cái hài trong văn xuôi Việt Nam hiện đại
Qua khảo sát thực tế, chúng tôi nhận thấy chưa có công trình nghiên cứu nào bao
quát một cách thỏa đáng về cái hài trong văn xuôi Việt Nam nói chung, văn xuôi Việt Nam
đương đại nói riêng, nhưng những nhận xét về cái hài trong sáng tác của một tác giả hay
tác phẩm cụ thể thì có khá nhiều.
Giai đoạn trước 1945, cái hài từng là một phạm trù thẩm mỹ quan trọng làm nên sự
đa dạng của văn học dân tộc. Văn xuôi trào phúng đầu thế kỉ XX xuất hiện hai cây bút tiêu
biểu là Nguyễn Công Hoan và Vũ Trọng Phụng. Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy
trong sáng tác của họ, cái hài như là nhu cầu tự nhiên của đời sống, mang tính chất nhiều
chiều, lưỡng hợp.
Các nhà nghiên cứu đã tiếp cận cái hài trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan từ
nhiều góc độ. Lê Thị Đức Hạnh với “Nghệ thuật trào phúng trong truyện ngắn của Nguyễn
Công Hoan” đã chỉ ra: “Cơ sở tiếng cười của ông thường là do nhà văn nhận thức được sự
tầm cỡ triết lý nhân sinh mà đồng thời vẫn mang ý nghĩa thời sự” [84; 104].
Đào Tuấn Ảnh trong “Mỹ học nghịch dị trong Số đỏ của Vũ Trọng Phụng” cũng
ghi nhận thành tựu xuất sắc của tác phẩm trào phúng Vũ Trọng Phụng: “Nụ cười đau khổ,
cảm giác bi kịch là nhân vật “chính diện” trong Số đỏ. Nụ cười ấy là chất thanh lọc cao cấp
nhất của văn chương, bởi nó giúp ta hiểu và tin rằng trong cái thế giới nghịch dị đó nhất
thiết, hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp, phải tồn tại sự nhận biết về chuẩn mực của cuộc sống,
về điều cuộc sống là như thế nào và cần phải như thế nào” [84; 271].
Bên cạnh Nguyễn Công Hoan và Vũ Trọng Phụng, tiếng cười trong sáng tác của
nhà văn Nam Cao cũng đem lại cho người đọc một cái nhìn mới về sự vận động của thẩm
mỹ hiện đại trong văn học Việt Nam giai đoạn trước năm 1945. Đó là tiếng cười ra nước
mắt, gắn với những trạng huống bi kịch thuộc về “phần xác” của con người: cái đói và
miếng ăn. Tiếng cười có ý nghĩa “khai tử và tái sinh”, gắn với “phần dưới” của con người ở
Nam Cao đã góp phần khẳng định tầm vóc của một nhà văn lớn.
6
Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao và sáng tác của họ còn là những
cái “mỏ” có nguồn trữ lượng dồi dào cho văn học nhà trường. Khó mà thống kê cho hết tên
các đề tài khóa luận, luận văn, luận án về họ đã được các sinh viên, học viên, nghiên cứu
sinh thực hiện. Trong số đó, đề tài liên quan đến khía cạnh trào phúng, hài hước chiếm tỉ lệ
cao, như: Tiếng cười trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao;
Bút pháp trào phúng của Vũ Trọng Phụng; Đối sánh ngôn ngữ trào phúng trong truyện
ngắn Nguyễn Công Hoan và tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng…
Giai đoạn 1945 - 1975, văn đàn Việt Nam vắng bóng cái hài. Quan niệm thẩm mỹ
của văn học thời chiến gắn với khuynh hướng sử thi trang trọng. Sáng tác của các nhà văn
cách mạng tập trung phụng sự nhiệm vụ chính trị của đất nước. Về bộ phận văn học miền
Nam, chúng ta chưa đầu tư nghiên cứu được đầy đủ. Đâu đó trong các truyện ngắn, thấp
thoáng tiếng cười đôn hậu nhẹ nhàng của nhà văn Vũ Tú Nam, Nguyễn Khải.
Sau 1975, đặc biệt từ sau năm 1986, văn học Việt Nam có hiện tượng “cười trở lại”.
Thời kỳ này, văn xuôi đóng vai trò chủ đạo trong công cuộc vận động đổi mới của văn học
2.3. Những nghiên cứu về cái hài trong truyện ngắn Việt Nam thập niên đầu thế kỷ
XXI
Sáng tác của các nhà văn Đoàn Lê, Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Phan Thị Vàng
Anh,… với sắc điệu đa dạng của cái hài tiếp tục được mến mộ. Tuy nhiên, sự chú ý của dư
luận cũng chỉ mới dừng lại ở các bài viết nhỏ của một số nhà nghiên cứu văn học hoặc một
số luận văn, khóa luận của học viên, sinh viên trường đại học.
Nguyễn Việt Hà và Hồ Anh Thái là hai nhà văn được giới nghiên cứu để ý nhiều
khi đề cập đến phạm trù cái hài trong văn xuôi đương đại. Những năm gần đây, sáng tác
của họ đã thực sự trở thành đối tượng của các công trình khoa học, nhưng cũng chưa đủ bề
dày.
Các bài viết trực tiếp đề cập đến yếu tố cái hài trong truyện ngắn đương đại mới chỉ
gắn với việc khảo sát một tác giả hoặc tác phẩm cụ thể, chưa có tầm bao quát rộng, kiểu
như: “Cái hài và bi kịch người trí thức trong truyện ngắn Vũ điệu của cái bô” (Nguyễn Thị
Thúy Hằng), “Cái “lạ” trong truyện ngắn Hồ Anh Thái” (Hỏa Diệu Thúy)…
Bài “Cái hài và bi kịch người trí thức trong truyện ngắn Vũ điệu của cái bô” của
Nguyễn Thị Thúy Hằng đã chỉ ra: “Sau 1975, đất nước chuyển mình sang một giai đoạn
mới. Đời sống hòa bình và sự khuyến khích phát huy dân chủ của Đảng đã tạo điều kiện
thuận lợi để ý thức cá nhân trỗi dậy. Kinh nghiệm cá nhân được coi trọng đã “phục sinh”
cảm hứng trào lộng trong văn xuôi” [21].
Tác giả Hỏa Diệu Thúy trong bài “Cái “lạ” trong truyện ngắn Hồ Anh Thái” viết:
“Những chân dung nghịch dị, nghịch lý rất đông trong truyện ngắn Hồ Anh Thái và xuất
hiện ở cả mảng truyện trong nước đến mảng truyện nước ngoài. Không chỉ sử dụng để diễn
tả “cái tất yếu không thể hiểu được”, tác giả còn nhằm bộc lộ thái độ hoặc để hài hước,
8
giễu nhại, thậm chí phê phán, lên án những tồn tại mặt trái của xã hội, những thói tật của
con người, trong đó “có mình” như một thái độ “tự phê bình”, tự kiểm điểm nghiêm khắc”
[80].
Về tập truyện ngắn Của rơi của Nguyễn Việt Hà, tác giả Nguyễn Chí Hoan cho
9
4.1. Tìm hiểu điều kiện phát triển của cái hài trong truyện ngắn Việt Nam thập niên
đầu thế kỷ XXI.
4.2. Làm sáng tỏ cái hài của truyện ngắn Việt Nam thập niên đầu thế kỷ XXI từ
phương diện đối tượng được miêu tả (những mâu thuẫn đáng cười trong đời sống, trong
nhân cách con người, trong thái độ ứng xử với tự nhiên, xã hội…).
4.3. Phân tích những phương thức nghệ thuật đã được các nhà văn sử dụng để tạo
nên cái hài trong truyện ngắn Việt Nam thập niên đầu thế kỷ XXI.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu đề ra, chúng tôi chủ yếu sử dụng các
phương pháp sau đây:
- Phương pháp hệ thống - cấu trúc.
- Phương pháp loại hình.
- Phương pháp so sánh.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được
triển khai trong 3 chương:
Chương 1.
Điều kiện phát triển của cái hài trong truyện ngắn Việt Nam thập
niên đầu thế kỷ XXI
Chương 2.
Đối tượng của cái hài trong truyện ngắn Việt Nam đầu
thế kỷ XXI
cửa với sự trỗi dậy mạnh mẽ của tinh thần dân chủ,… Tất cả đòi hỏi những dịch chuyển
phù hợp về cơ cấu, thể chế, quan hệ xã hội, nhu cầu và lối sống.
Việc lúng túng trong hoạch định đường lối sách lược, chiến lược của nhà nước đã
tạo ra nhiều nghịch cảnh: kinh tế bề ngoài có vẻ phồn thịnh nhưng không có tính bền vững;
sự phân hóa giàu - nghèo; đội ngũ chủ chốt là trí thức và công chức không tìm thấy sự đảm
bảo cuộc sống trong khu vực công; khoa học chậm phát triển; giáo dục bị thương mại hóa,
suy thoái về chất lượng; gia tăng những tình huống gia đình xung đột, tan vỡ, tác động tiêu
cực đến sự hình thành nhân cách; …
11
Xã hội đã phải cảnh báo về sự suy đồi đạo đức, nạn bạo hành, tệ nói dối, hiện tượng
làm giàu bất chính, phi pháp, lợi dụng chức quyền và các kẽ hở trong khâu quản lý vốn yếu
kém của nhà nước. Đó là nguyên nhân dẫn tới tình trạng bất công, dẫn tới tiêu cực, gây bất
ổn xã hội và bất an cho chế độ.
Trước thực trạng cuộc sống như thế, suy nghĩ của con người cũng khác đi. Những
khái niệm to tát, thiêng liêng của thời “sử thi” ít được nhắc đến, ngôn ngữ tuyên truyền trở
nên sáo rỗng. Bên cạnh những nhân tố lành mạnh, tích cực, đã xuất hiện những lệch lạc
trong lối sống: thực dụng, hưởng thụ, tôn thờ vật chất, cực đoan, vô cảm, cơ hội, đạo đức
giả,… ở một bộ phận nhân dân, trong đó có lớp trẻ, có cả quan chức và công chức thoái
hóa. Một bộ phận sống hoang mang, hoài nghi, không lý tưởng.
Theo Giáo trình Mỹ học đại cương, “xã hội loài người là vương quốc của cái hài. Ở
đâu có cuộc đấu tranh giữa cái đẹp và cái xấu thì ở đó có cái hài xuất hiện. Mâu thuẫn xã
hội, sự tan rã của kỉ cương, sự thống trị của quyền lực là những nguyên nhân rất sâu xa làm
xuất hiện cái hài trong cuộc sống (…). Ở cuối mỗi hình thái xã hội, cái hài thường nở rộ để
loài người từ giã quá khứ một cách vui vẻ. Ở đầu thời kỳ mới đang lên, mọi sự vụng về, bỡ
ngỡ cũng tạo nên cái hài” [24; 178,179].
Xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XX - đầu thế kỷ XXI đang bước sang một thời kỳ mới,
mọi sự còn “vụng về, bỡ ngỡ”. Cái mốc 1986 với những tiếng đổi mới, cởi trói lần lượt
được xướng lên, thức dậy khát vọng tự do trong sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sỹ. Và
trẻ tuổi háo danh trong Tôi chủ báo, anh chủ báo, nó chủ báo… đến thái độ tởm lợm và
phẫn nộ trong Răng con chó của nhà tư sản hoặc Một tấm gương sáng” [19; 367]. Trong
một số truyện ngắn như Cụ Chánh Bá mất giầy, Mất cái ví… tài dẫn chuyện của nhà văn
đã biến sự “thông cảm” dành cho nhân vật phản diện thành cái cười mỉa mai đối với nhân
vật đó. Cuối truyện, bao giờ cũng là một kết cục bất ngờ, “như cái giỏ hom, nó bất ngờ đối
với độc giả hệt như miệng hom nhỏ mà kéo được con cá vào” [19; 368].
Nguyễn Công Hoan là người có khả năng nhận biết tinh tường và xử lý rất hoạt mối
quan hệ giữa những tình huống hài hước nhỏ nhặt với các vấn đề xã hội quan trọng của
thời đại. Nhan đề truyện Tinh thần thể dục nghe rất trang trọng, nhưng thực chất câu
chuyện lại là một màn bi hài kịch. Hay chuỗi truyện Báo hiếu: trả nghĩa cha và Báo hiếu:
trả nghĩa mẹ, tưởng sẽ nói chuyện hiếu thảo, ân nghĩa, mà thực ra là chuyện đại bất hiếu.
Chuyện Mất cái ví thực chất là “trộm” cái ví; chuyện Cụ Chánh Bá mất giầy kể về một cụ
Chánh “ăn cắp” giầy…
Đọc truyện trào phúng của Nguyễn Công Hoan, ta gặp nhiều loại người, thuộc
nhiều tầng lớp xã hội, trong nhiều dáng vẻ, góc độ khác nhau, nhưng ấn tượng nhất là các
nhân vật phản diện. Ông ưa sử dụng thủ pháp cường điệu, phóng đại, nhưng cũng rất khéo
trong miêu tả ngoại hình nhân vật chỉ với vài chi tiết rất đắt. Đây là chân dung một nghị
viên ở nông thôn: “Một người mặt mũi phương phi, cổ rụt, bụng phệ, môi trễ mà không
13
râu, mặc quần áo lụa, phe phẩy cái quạt…” [19; 414]. Đây là nhà tư sản: “cái bụng phưỡn
ra, nấp trong bộ quần áo xếp nếp cứng như cái hộp. Tóc bóng mượt, nhẵn như cái gáo lĩnh
úp trên đầu, không chịu kém vẻ đẹp với bộ ria sửa khéo như vẽ. Miệng lúc nào cũng chực
tóe ra một chuỗi cười… [43; 89,90]. Còn đây là viên tri huyện: “Chà! Chà! Béo ơi là béo!
Béo đến nỗi có thằng dân nào vô ý buột miệng nói ra một câu sáo rằng “nhờ bóng quan
lớn” là ông tưởng ngay nó xỏ ông. Tức thì mặt bàn là một, mặt nó là hai, bị vả đôm đốp”
[19; 414]. Không hề giống nhau, nhưng hình ảnh nào cũng gây cười, cũng đáng ghét, cũng
hé lộ cái bản chất tham ăn, đần độn, hoặc vênh vang tự đắc, hoặc gian manh, hách dịch…
Tiếng cười trong văn Nguyễn Công Hoan còn bật lên qua lối ví von so sánh độc
“tiết hạnh” rởm của bà Phó Đoan khi bà “mừng thầm rằng mình đã trót hư hỏng một cách
có tính chất khoa học”. Đó là những bài thơ của Xuân. Đó là những “bối rối” trong gia
đình cụ cố Hồng trước “hạnh phúc của một tang gia”…
Trong tác phẩm Số đỏ, “cái rởm được cường điệu, được biếm họa… Nhưng không
thể nói là Vũ Trọng Phụng ghét những nhân vật nhếch nhác, lố bịch này; … và hài hước
của ông đặc biệt khởi sắc, đặc biệt dí dỏm khi viết về họ, từ Min Đơ, Min Toa, cụ cố, Typn,
ông mọc sừng đến bà Phó Đoan, Xuân tóc đỏ…” [84; 91]. Hoàng Ngọc Hiến, trong bài
viết Dị ứng với cái rởm - một phương diện của trào phúng Vũ Trọng Phụng đã cho rằng:
“đó là những biểu hiện của một cái nhìn đại trí”.
Ngôn ngữ trào phúng đặc sắc là một thành công của tiểu thuyết Số đỏ. Đó là “một
thứ ngôn ngữ “đầu đường xó chợ”, ngôn ngữ “bụi đời”… tương ứng với cái mà Bakhtin
gọi là “ngôn ngữ quảng trường” trong Rabelai và các tác giả thời phục hưng Châu Âu một thứ ngôn ngữ bị đuổi ra khỏi thứ ngôn ngữ quý phái, salon, sách vở” [84; 104,105].
Đó chính là âm vang trung thực của cuộc đời, dội lại thành tiếng cười nhại đa cung bậc có
ý nghĩa phủ định cả một xã hội nhố nhăng, lố bịch từ “Em chã” đến cụ Tổ, từ trí thức đến
bình dân, tăng ni đến cảnh sát… Có thể dẫn ra phản ứng cửa miệng của Xuân tóc đỏ với
cụm từ “mẹ kiếp!”: Mẹ kiếp! con với chả cái!; Mẹ kiếp! chữ với chả nghĩa!; Mẹ kiếp! quần
với chả áo!...
Nhà nghiên cứu Mai Quốc Liên đã so sánh tiếng cười của Vũ Trọng Phụng trong
Số đỏ với tiếng cười của các tác giả văn học cùng thời như Nguyễn Công Hoan, Tú Mỡ,
Đồ Phồn, Lý Toét, Xã Xệ và kết luận đó là “tiếng cười nằm sâu trong hệ hình văn học Việt
Nam truyền thống, đồng thời khác lạ, không giống ai, thời sự, mới mẻ hiện đại trong ngôn
ngữ và trong cấu trúc tác phẩm” [84; 104].
Không ầm ĩ, suồng sã và phổ rộng như tiếng cười trong Số đỏ của Vũ Trọng Phụng,
cái cười trong sáng tác của Nam Cao “bị thu lại tới mức, nếu còn có thể cười được, thì chỉ
là nụ cười nhếch mép lạnh lùng” [84; 270] mang màu sắc ảm đạm. Mỗi tác phẩm của Nam
Cao chứa đựng một sự cắt nghĩa hài hước về cuộc đời. Đọc Sống mòn, Đời thừa, Chí Phèo,
Trẻ con không được ăn thịt chó… ta thấy cuộc đời thật buồn cười, còn con người thật đáng
15
đến Ngô Tất Tố. Ông vốn là con người nghiêm cẩn, mực thước chốn cửa Khổng sân Trình,
nhưng trong sáng tác vẫn thấp thoáng nụ cười hóm hỉnh: cảnh “Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ, ậm
16
ọe quan trường miệng thét loa” trong Lều chõng; cảnh xôi thịt chốn đình trung trong Việc
làng; chi tiết về bộ râu một ông quan hay hành xử của một chị chàng con mọn trong Tắt
đèn…
Tóm lại, dòng văn học hiện thực phê phán với nhiều cây bút tài năng đã phơi trần
tính chất “ba đào”, điên đảo của xã hội thực dân nửa phong kiến từ các góc nhìn khác
nhau. Trong đó, không thể phủ nhận vai trò của cái nhìn hài hước, trào phúng. Cái hài
trong văn xuôi hiện thực trước 1945 vừa tiếp thu, kế thừa truyền thống cười từ truyện dân
gian, vừa mang bản sắc hiện đại với nhiều thủ pháp nghệ thuật đặc sắc.
Chúng tôi khá tỉ mỉ khi đề cập đến cái hài trong văn xuôi hiện thực giai đoạn này,
bởi nó sẽ tái xuất tân kỳ trong văn học thời kỳ đổi mới và sau đó nữa, đánh dấu tính chất
bước ngoặt của một thời đại xã hội mới.
1.2.2. Cái hài trong văn xuôi 1945 - 1975
Từ 1945 - 1975, văn học Việt Nam phát triển trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của
đất nước: 30 năm chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Dưới sự lãnh đạo toàn
diện của Đảng cộng sản Việt Nam, văn học tập trung thực hiện nhiệm vụ kháng chiến và
kiến quốc. Những nguồn cảm hứng lớn là yêu nước và căm thù giặc, tình đồng chí và tình
quân dân. Nhân vật trung tâm là người chiến sỹ. Văn học mang đậm khuynh hướng sử thi,
thể hiện chức năng tuyên truyền cổ động chính trị.
Diện mạo văn học kháng chiến được xây dựng bởi tên tuổi các nhà văn - chiến sỹ
của thời đại: Tố Hữu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Tô Hoài, Nguyễn Trung Thành, Nguyễn
Thi, Nguyễn Khải… Họ say sưa ca hát non sông đất nước, say sưa ca ngợi chủ nghĩa anh
hùng cách mạng với tư cách con người - công dân nghiêm nghị, đầy lửa nhiệt tình.
Bởi vậy, tiếng cười hầu như vắng bóng trong văn học giai đoạn này. Nếu có, đó
thường là tiếng cười đả kích kẻ địch trong thơ trào phúng của Tú Mỡ (Bút Chiến Đấu),
Xích Điểu, Thợ Rèn… Văn xuôi hài hước đặc biệt hiếm hoi. Thấp thoáng đâu đó nụ cười
nhất là truyện ngắn Chuyện như đùa. Những trang văn của Mai Ngữ đã khiến người đọc
cười trong nước mắt trước thực trạng xã hội lúc bấy giờ. Đó là những lời cảnh báo, dự báo
xót xa, được viết bằng một thái độ chân thật, thẳng thắn và xây dựng. Cái tên Chuyện như
đùa về sau trở thành câu cửa miệng của nhân dân để nói về một cái gì đó thật viển vông,
không thực tế. Với Chuyện như đùa, Mai Ngữ được ví như một Azit Nexin của Việt Nam.
Đời văn Vũ Bão kiên trì với giọng trào phúng, giễu cợt. Đối tượng châm biếm
trong sáng tác của ông là những thói hư tật xấu tràn lan trong xã hội, “phủ sóng” mọi tầng
lớp, địa vị, ngành nghề, vùng miền. Người vãi linh hồn là truyện ngắn nổi tiếng nhất của
Vũ Bão. “Vãi linh hồn” nguyên là một sáng tạo ngôn từ của Vũ Bão, bây giờ đã trở thành
một khẩu ngữ dân gian. “Người vãi linh hồn” trong truyện là kẻ đã sợ đến vãi đái trong
một trận công đồn địch. Nhưng khi người ta cần dựng lại trận đánh đó để quay phim tài
liệu, thì chính kẻ kia lại được chọn làm người phất cờ chiến thắng. Bộ phim được công
18
chiếu, tấm ảnh người chiến sỹ phất cờ được in thành tem, thành lịch, người lính trong ảnh
được mời sang tận nước Anh…
Tiếng cười hài hước bật ra từ tình huống nhầm lẫn trong truyện đã khẳng định một
thái độ: có phải cái gì thuộc về lịch sử cũng là chân lý? Và: thời đại nào cũng tồn tại kiểu
người Lý Thông. Các truyện ngắn khác như Ông khóc tôi cũng khóc, Người chưa có chiến
công, Phó tiến sỹ không hữu nghị… đã cho thấy tiếng cười trong văn Vũ Bão mang đậm
hơi thở của đời sống. Đó là tiếng cười phanh phui, là những làn roi quất mạnh vào cái giả,
cái xấu, cái đáng ghét trong đời sống. Tiếng cười, vì thế có sức mạnh điều chỉnh xã hội.
Bên cạnh thế hệ lão thành, một đội ngũ các nhà văn mới đã làm thay đổi hẳn diện
mạo của cái hài trong văn xuôi đương đại. Nổi bật nhất trong số đó là Nguyễn Huy Thiệp
và Phạm Thị Hoài, rồi đến Đoàn Lê, Nguyễn Việt Hà, Hồ Anh Thái, Phan Thị Vàng Anh.
Nguyễn Huy Thiệp viết nhiều về phong hóa, thế sự: Tướng về hưu, Không có vua,
Những người thợ xẻ… Đó là những câu chuyện thật giả lộn sòng, thiện ác khó phân ngay
giữa thanh thiên bạch nhật. Đó có khi lại là những chuyện hoang đường, huyền thoại. “Có
thể gọi Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn của những câu chuyện về cái “trớ trêu”. Từ trong
con người. Nhưng còn có những tiếng cười đa cung bậc: vừa đả kích một thói tật, vừa phơi
bày một thực trạng, vừa đem đến không khí dân chủ cho đời sống. Chỉ những nhà văn có
năng khiếu thẩm mỹ, có khát vọng hoàn thiện cuộc sống mới nắm bắt và thể hiện được
tiếng cười này trong văn học, góp phần làm thay đổi xã hội. Đó chính là diện mạo của cái
hài có khả năng làm thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ của người đọc.
1.3. Ý thức về dân chủ và cảm quan hậu hiện đại của chủ thể sáng tạo
1.3.1. Ý thức về dân chủ như là điều kiện cần cho sự trở lại của cái hài
Tiếng cười chỉ xuất hiện khi chủ thể sáng tạo có ý thức về tinh thần dân chủ. Cười
cũng là một cách để phát biểu suy nghĩ, bày tỏ quan điểm. Cười là một “phương tiện”, là
“vũ khí” đấu tranh xã hội của văn học. Trước yêu cầu dân chủ ngày càng cao, xã hội Việt
Nam cuối thế kỉ XX - đầu thế kỉ XXI đang tiềm ẩn nhiều biến động. Văn học cũng có
những bước phát triển mạnh mẽ trên nhiều bình diện: quan niệm sáng tác, tiếp nhận… Trên
cơ sở tinh thần dân chủ, ý thức cá nhân, cùng với sự thúc bách, cật vấn của thời đại, văn
học đã tái sinh tiếng cười trào lộng và đem đến cho nó những giá trị mới.
Khái niệm dân chủ ra đời trong văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX, gắn với mô
hình xã hội thực dân nửa phong kiến. Tinh thần dân chủ là sản phẩm của cuộc giao lưu văn
hóa với phương Tây hiện đại. Trước 1945, hình ảnh người lao động khốn cùng trong văn
học hiện thực phê phán, sự bi quan bế tắc của nhân vật trữ tình trong Thơ mới, khát vọng
độc lập tự do của người chiến sỹ trong thơ ca cách mạng chính là những biểu hiện của tinh
thần dân chủ. Sự ra đời của các thể loại văn học hiện đại phát triển theo hướng phá bỏ mọi
câu thúc cứng nhắc, sự đa dạng về bút pháp nghệ thuật cũng là những biểu hiện của tinh
20
thần dân chủ. Từ 1945 - 1975, dân chủ gắn với quyền lợi chung của đất nước, là sự mất
còn của chủ quyền dân tộc.
Sau 1975, đặc biệt là từ sau 1986, ý thức về dân chủ trở lại trong một biểu hiện mới
- gắn với con người cá nhân. Dân chủ là sự tôn trọng vai trò cá nhân, là không có gì cấm
kỵ. Dân chủ đòi hỏi tinh thần phản biện và chấp nhận đa nguyên ý kiến. Nhà văn biểu hiện