Đặc trưng nghệ thuật tiểu thuyết lịch sử việt nam thập niên đầu thế kỉ XXI - Pdf 43

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Trước đổi mới (1986), ý thức sáng tác của các nhà văn trong đó có các nhà tiểu
thuyết lịch sử đều chịu sự chi phối bởi quan niệm thẩm mĩ của hệ hình hiện thực xã hội
chủ nghĩa với một số nguyên tắc về khuynh hướng nghệ thuật được đề cao như những
chuẩn mực mang tính pháp quy, coi trọng tính tương đồng với những mô hình, khuôn
mẫu nghệ thuật có sẵn mang tính độc tôn, khép kín. Tính khác biệt ít được coi trọng. Sau
1986, tiểu thuyết Việt Nam từng bước đổi mới không chỉ đơn thuần là sự tìm tòi, lạ hoá
mà còn là sự thay đổi quan niệm về thể loại nhằm vươn tới tầm vóc của tiểu thuyết và tầm
đón đợi của người đọc đương đại. Sự đổi mới tiểu thuyết, vì thế vừa hướng tới chủ thể
sáng tạo vừa hướng tới chủ thể tiếp nhận. Những nỗ lực cách tân của người viết đòi hỏi
người đọc phải chủ động với cách đọc, cách cảm thụ tác phẩm, tránh tình trạng quen với
lối đọc của hệ hình cũ.
1.2. Khắc phục những hạn chế mang tính lịch sử của các thời kỳ trước, tiểu thuyết
lịch sử sau 1986, đặc biệt là thập niên đầu thế kỉ XXI đã từng bước cách tân, đáp ứng nhu
cầu của người đọc cũng như đảm bảo sự sống còn của thể loại. Các tác giả tiểu thuyết lịch
sử đã có cách xử lí linh hoạt mối quan hệ giữa lịch sử và hư cấu để đảm bảo đặc trưng thể
loại và chuyển tải được nhiều vấn đề về cuộc sống hiện đại. Lịch sử dưới ngòi bút của họ
là kết quả của sự nhận thức lại một cách sâu sắc bằng những kiến giải giàu tính thuyết
phục. Trong thực tiễn sáng tác, nhất là mười năm đầu thế kỉ XXI, các cây bút tiểu thuyết
lịch sử đã có ý thức tìm tòi, đổi mới nghệ thuật và kỹ thuật tiểu thuyết trên cơ sở gắn nó
với nội dung nhân bản, xã hội để thúc đẩy thể loại phát triển, góp phần cách tân và hiện
đại hóa văn xuôi Việt Nam hiện đại. Sự đổi mới ấy vừa phản ánh sự đổi mới chung vừa
có những đóng góp riêng vào nghệ thuật tự sự của văn học. Từ đó, tiểu thuyết lịch sử Việt
Nam nói chung và tiểu thuyết lịch sử Việt Nam giai đoạn thập niên đầu thế kỉ XXI nói
riêng không chỉ đóng góp cho nền tiểu thuyết dân tộc thêm phong phú mà còn tạo dựng
một vị thế xứng đáng trên văn đàn và trong lòng độc giả bằng những tác phẩm lớn ở cả
phương diện nội dung lẫn nghệ thuật biểu hiện.
1.3. Trong mười năm đầu thế kỉ XXI, với sự thay đổi ý thức thẩm mĩ của người viết,
tiểu thuyết lịch sử đã đạt những thành tựu đáng trân trọng với những tác phẩm tiêu biểu
1

kỉ XXI, chúng tôi tập trung tìm hiểu những đặc trưng cơ bản thể loại trên các phương diện:

2


dạng thức, xu hướng thể loại, thế giới nhân vật; một số phương thức tự sự như người kể
chuyện, điểm nhìn trần thuật và diễn ngôn trần thuật.
3. Cơ sở lý thuyết
Luận án sử dụng lý thuyết thi pháp học, tự sự học và lý thuyết về thể loại tiểu thuyết
lịch sử và lý thuyết tân lịch sử để nghiên cứu. Trên cơ sở lý thuyết, chúng tôi xác định các
vấn đề cần giải quyết trong luận án như sau:
1. Thông qua việc tổng quan tài liệu, các lý thuyết và các công trình nghiên cứu có
liên quan mật thiết đến đề tài nghiên cứu, luận án chỉ ra những điểm tương đồng cũng như
sự khác biệt, những thành công cũng như hạn chế của các công trình nghiên cứu trước
đây để kế thừa hay khắc phục trong luận án, đồng thời, đưa ra quan điểm để giải quyết
vấn đề nghiên cứu của đề tài mà tác giả đã xác định.
2. Luận án làm sáng tỏ quan niệm về thể loại, xác định những dạng thức, xu hướng
thể loại, thế giới nhân vật và phương thức tự sự trên cơ sở đối sánh với tiểu thuyết lịch sử
giai đoạn trước đây. Từ đó, luận án có thể xác định những đổi mới cũng như những đóng
góp của thể loại vào tiến trình phát triển của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam trong giai đoạn
mười năm đầu thế kỉ XXI.
4. Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng một số phương pháp chủ yếu sau:
– Phương pháp loại hình: Luận án đặt các tác phẩm tiểu thuyết lịch sử trong cùng
một hệ thống nhằm xác định những đặc trưng của thể loại với cái nhìn tổng thể trên các
phương diện nội dung và hình thức phản ánh. Từ đó, luận án xác định danh tính và ý
nghĩa của chúng trong một hệ thống, đồng thời nhận dạng cấu trúc của hệ thống đó.
– Phương pháp cấu trúc – hệ thống: Giải mã cấu trúc văn bản tiểu thuyết lịch sử
từ các góc độ: Tự sự học, Thi pháp học, Tân lịch sử. Từ đó, thiết lập và sắp xếp các vấn
đề một cách logic, khoa học; xem xét, đánh giá trong tính chỉnh thể của chúng.

Ngoài Mở đầu trình bày những vấn đề chung có tính trường quy như: Lý do chọn
đề tài, Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, Cơ sở lý thuyết, Phương pháp nghiên cứu; Kết
luận; Tài liệu tham khảo; Phụ lục; Nội dung chính của luận án được cấu trúc thành bốn
chương, cụ thể:
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu: Luận án trình bày một cách khái quát
về tình hình nghiên cứu thể loại tiểu thuyết lịch sử hiện đại ở Việt Nam nói chung và tiểu
thuyết lịch sử Việt Nam thập niên đầu thế kỉ XXI nói riêng. Trên cơ sở đó, luận án tìm ra
những “khoảng trắng” trong việc xác định danh tính và ý nghĩa của thể loại tiểu thuyết
4


lịch sử thập niên đầu thế kỉ XXI trong một hệ thống thể loại, đồng thời nhận dạng những
đặc trưng cấu trúc của hệ thống đó.
Chương 2. Đặc trưng tiểu thuyết lịch sử Việt Nam thập niên đầu thế kỉ XXI - nhìn
từ các xu hướng và dạng thức thể loại: Luận án tập trung phân loại thể loại tiểu thuyết
lịch sử thập niên đầu thế kỉ XXI nhìn từ các xu hướng và dạng thức thể loại. Đồng thời,
luận án tập trung khảo sát, so sánh, từ đó, chỉ ra những đổi mới về tư duy, xu hướng thể
loại và sự đa dạng về dạng thức của thể loại so với giai đoạn trước đây.
Chương 3. Đặc trưng tiểu thuyết lịch sử Việt Nam thập niên đầu thế kỉ XXI – nhìn
từ thế giới nhân vật: Luận án tập trung phân loại nhằm xác định loại hình nhân vật có
cùng những đặc trưng cơ bản trong tiểu thuyết lịch sử thập niên đầu thế kỉ XXI: nhân vật
sử thi hóa, nhân vật huyền thoại hóa, nhân vật thế tục hóa. Đồng thời, luận án chỉ ra
phương thức nghệ thuật xây dựng nhân vật thông qua nghệ thuật khắc họa ngoại hình,
hành động và tâm lý nhân vật.
Chương 4. Đặc trưng tiểu thuyết lịch sử Việt Nam thập niên đầu thế kỉ XXI – nhìn
từ phương thức tự sự: Luận án tập trung khảo sát, phân tích, so sánh đối tượng trên một số
phương diện trần thuật như người kể chuyện, điểm nhìn trần thuật và diễn ngôn trần thuật
nhằm chỉ ra những hình thức đổi mới về tư duy thể loại trên cấp độ tự sự, đặc biệt, luận án
nhận diện những hình thái diễn ngôn mới về lịch sử trong việc mở rộng biên độ sáng tạo
trong tiến trình vận động của thể loại.

trong những bài viết của mình đã đưa ra khái niệm cũng như nhiệm vụ của thể loại. Theo
Hải Thanh thì “Tiểu thuyết lịch sử là sự sáng tạo, hư cấu trên cái nền đã ổn định của sự
kiện lịch sử và nhân vật lịch sử. Nhà tiểu thuyết lịch sử có thể tha hồ bay lượn trong không
gian tưởng tượng sáng tạo nhưng phải nhằm mục đích làm sáng tỏ hơn lịch sử, đem đến
những cảm hứng, làm giàu thêm vốn thẩm mĩ mới cho bạn đọc về lịch sử” [116]. Trong bài
Mã lịch sử và mã văn hóa trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1986, Nguyễn Văn Hùng
6


đã nêu lên cách hiểu về thể loại “Tiểu thuyết lịch sử là loại hình tiểu thuyết lấy đề tài lịch
sử làm nội dung chính. Viết về quá khứ đã qua, công việc của nhà viết tiểu thuyết lịch sử
là làm sống lại lịch sử bằng việc phục hiện lại các sự kiện, biến cố lịch sử, khám phá
những bí ẩn, khuất lấp, lí giải lịch sử từ số phận cá nhân và tìm ra sợi dây liên hệ giữa quá
khứ với đời sống hiện tại” [62]. Bùi Văn Lợi trong luận án Tiểu thuyết Việt Nam từ những
năm đầu thế kỷ XX đến 1945 – diện mạo và đặc điểm đưa ra khái niệm: "Tiểu thuyết lịch
sử là những tác phẩm mang trọn đặc trưng tiểu thuyết nhưng lại lấy nội dung lịch sử làm
đề tài, làm cảm hứng sáng tạo nghệ thuật" [83, 23]. Tác giả Nguyễn Thị Tuyết Minh với
đề tài Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ 1945 đến nay là công trình mang tính khái quát,
tổng hợp và tiếp nối những thành tựu của tác giả Bùi Văn Lợi nhằm khu biệt về các loại
hình nhân vật lịch sử, các khuynh hướng tái tạo lịch sử cùng các phương thức tự sự của
TTLS sau 1945 đến những năm đầu thế kỉ XXI. Trong đó, tác giả đưa ra định nghĩa: “lịch
sử là những gì đã qua, đã thuộc về quá khứ, đã khuất lấp bởi một khoảng thời gian dài mà
về văn hóa, đời sống đã khác với con người hiện đại.” [88, 27]. Nhìn chung, trên cơ sở so
sánh với các tiểu thuyết giao thoa, cả hai tác giả đã khu biệt kiểu viết về lịch sử mới của
tiểu thuyết và những đặc điểm của nó, tuy vậy vấn đề khái niệm TTLS đưa ra vẫn chưa cụ
thể và chưa đáp ứng được yêu cầu của thể loại. Đỗ Hải Ninh quan niệm rằng: “Tiểu
thuyết lịch sử là sự phản ánh chân thực các sự kiện, nhân vật lịch sử trong quá khứ đã
được tiếp nối bằng đối thoại với lịch sử, siêu hư cấu lịch sử, giả lịch sử” [103]. Đặc biệt,
nhà nghiên cứu Trần Đình Sử cho rằng TTLS không gì khác hơn chính là “sáng tạo nhân
vật và đời sống của một thời kì lịch sử cụ thể không lặp lại”. Nhiệm vụ của TTLS “không

khí của thời đại… Tiểu thuyết phải có đời sống, bi hài trữ tình” [41, 3] và “Lịch sử chỉ là
cái cớ để tôi bám vào. Điều quan trọng là người viết tiểu thuyết phải biết vận dụng tổng
thể đời sống của mình vào cuốn tiểu thuyết ấy. Người viết không hẳn đã dựng lại được
lịch sử ngày xưa, điều cốt yếu là thuyết phục được người đọc”. Trong bài Vài suy nghĩ về
tiểu thuyết lịch sử, Nguyễn Xuân Khánh cũng cho rằng khi đánh giá lịch sử đòi hỏi nhà
văn phải xem “Lịch sử diễn ra với các sự kiện và nhân vật nhất định. Nó diễn ra chỉ một
lần và không lặp lại. Ta cứ tưởng như nó hoàn toàn cố định, song không phải. Dưới con
mắt của nhiều người khác nhau và những cái nhìn ở những thời đại khác nhau, sẽ có
nhiều ý kiến khác nhau” [70]. Vậy nên, ông cho rằng TTLS nào cũng đều có ánh xạ của
đời sống hiện tại. Tiểu thuyết do một người hiện tại viết, cho những người hiện tại đọc.
Vậy những vấn đề cuốn sách đặt ra không chỉ cần đúng với lịch sử mà còn phải là những
vấn đề được người hiện tại quan tâm.
Trần Vũ với bài Lịch sử trong tiểu thuyết – một tuỳ tiện ý thức cũng đã đặt ra vấn
đề về mối quan hệ giữa sự thật lịch sử và hư cấu nghệ thuật. Trong cuộc đối thoại bằng
email với nhà văn Nguyễn Mộng Giác về TTLS, nhà văn Nam Dao đã nói về cách viết
tiểu thuyết Gió lửa của mình: "cái khung lịch sử đó được sử dụng như phương tiện cấu
tạo tiểu thuyết và sau đó thì tiểu thuyết là phương tiện để tác giả thể hiện những tư duy,
biện minh và dự phóng cho chủ đề lịch sử..." [26]. Rõ ràng ở đây nhà văn Nam Dao chú
8


trọng vào hai vấn đề chính: cái khung lịch sử được dùng làm phương tiện cấu tạo, chủ đề
lịch sử được tái hiện trên ba không gian: quá khứ, hiện tại và tương lai. Ngược lại,
Nguyễn Mộng Giác tự bạch: “Khi viết Sông Côn mùa lũ, tôi chú trọng phần tiểu thuyết
hơn phần lịch sử. Nhưng trong phần lịch sử, tôi không dám mạnh tay gạt phăng những gì
còn ghi lại trong tài liệu lịch sử” [26]. Trong khi đó, nhà văn Nguyễn Quang Thân (Đọc
tiểu thuyết lịch sử để lấy lại niềm tin) tự hào rằng chúng ta đọc TTLS không phải để biết
lịch sử mà là để lấy lại niềm tin vào những gì đang chới với, đang “thấp thoáng” như giấc
mơ trong não trạng của những thế hệ chưa từng biết, từng qua chiến tranh nhưng lại đang
cảm thấy sắp sửa phải đi tiếp con đường gian nan không kém cha ông để thực hiện “giấc

yếu nó cũng mang những tố chất mĩ học của tiểu thuyết. Song bên cạnh đó, xét về nội
hàm khái niệm thì TTLS còn mang những đặc trưng riêng biệt so với các loại hình tiểu
thuyết khác:
- TTLS lấy đối tượng lịch sử làm nội dung và cảm hứng sáng tạo nghệ thuật.
Nghĩa là, TTLS lấy đề tài và cảm hứng từ lịch sử của một dân tộc hay một quốc gia nào
đó. Có thể là các sự kiện, các nhân vật hoặc các giai đoạn trong lịch sử nhưng TTLS đích
thực phải là tác phẩm kể về câu chuyện có thật của một dân tộc, một cộng đồng người đã
từng tồn tại trong lịch sử và được cộng đồng đó thừa nhận. Bối cảnh, con người, không
gian và thời gian trong TTLS phải thuộc về thế giới của quá khứ được chính sử ghi chép
lại và được bảo lưu trong kho tàng lịch sử dân tộc.
- Nhân vật trong TTLS vừa là nhân vật lịch sử vừa là nhân vật văn học. Theo quan
niệm truyền thống, TTLS là tiểu thuyết mà ở đó nhân vật phải là nhân vật có thật trong
lịch sử và đảm nhận vai trò nhân vật trung tâm, nhân vật chính của câu chuyện, đồng thời
được các nhà văn làm sống dậy từ quá khứ nên nhân vật trong tác phẩm có tính cách, có
số phận, có tâm hồn. Nói như G.Lucacs thì các nhân vật của TTLS phải sinh động hơn
các nhân vật lịch sử, vì các nhân vật của TTLS được trao cho sự sống còn các cá nhân
lịch sử thì đã sống. Tiểu thuyết còn phải phục dựng lại thời đại mà nhân vật lịch sử sinh
sống, do đó, bên cạnh những nhân vật lịch sử, nhà văn buộc phải hư cấu thêm nhiều
những nhân vật khác. Theo quan niệm truyền thống, nhân vật trong TTLS thường là các
ông hoàng bà chúa, các bậc anh hùng, những người thuộc hàng trí tướng, huân tướng lỗi
lạc. Họ đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập một đế chế, một triều đại hay là lãnh
tụ của phong trào nông dân khởi nghĩa, công cuộc chống giặc ngoại xâm. Ngoài ra, hệ
thống nhân vật hư cấu được nhà văn sáng tạo chỉ làm “nền” cho nhân vật có thật trong
lịch sử (giữ vai trò chính yếu, đảm nhận nhiệm vụ chủ đạo trong tác phẩm). Tuy nhiên,
theo quan niệm hiện đại, không phải ông hoàng bà chúa hay các vị danh tướng lỗi lạc mới
là đối tượng của TTLS, mà nhân vật trong TTLS có thể là những con người bình thường,
những hạ quan, những binh lính, người phụ nữ, người nông dân, người hầu,… thậm chí
những nhân vật hư cấu đều có thể trở thành nhân vật chính trong tác phẩm: An (Sông Côn
mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác), Cả Hinh (Thế kỉ bị mất của Phạm Ngọc Cảnh Nam),…
10

Thanh Mai, ngay cả Hồ Quý Ly, Hồ Nguyên Trừng, Hồ Hán Thương, Trần Nghệ Tôn,…
cũng là những nhân vật được tác giả hư cấu, sáng tạo, đặc biệt xây dựng nhân vật Quỳnh
Hoa nhằm mô tả những trắc ẩn của Hồ Nguyên Trừng trước sự thăng trầm của cuộc đời.
Minh sư của Thái Bá Lợi đã xây dựng thành công hình tượng những nhân vật hư cấu như
Đỗ Chiêu, Nguyễn Thiệu, Chế Mô, Phạm Dữ,…chung quanh Nguyễn Hoàng để nêu bật
11


sức hút mãnh liệt của ông đối với quần chúng nhân dân, một trong trong những phẩm chất
đưa ông đến thành công trong sự nghiệp. Nhìn chung, hư cấu nghệ thuật không hề vi
phạm đến chân lý lịch sử, ngược lại, thông qua hư cấu nghệ thuật, lịch sử được nhìn nhận
và tôn vinh, người đọc càng nhận thức sâu sắc hơn bản thân lịch sử, làm cho sự sáng tạo
của người nghệ sĩ trở nên bay bổng hơn, tự do hơn trong lao động nghệ thuật, TTLS vì
vậy càng mang nhiều hình tượng thẩm mĩ nhằm đối thoại với cuộc sống hiện tại hơn.
- TTLS dùng quá khứ làm phương tiện để đối thoại với hiện tại. TTLS không coi
trọng việc miêu tả quá khứ như một mục đích tự tại mà chủ trương nối liền quá khứ với
hiện tại, từ lịch sử đặt ra những vấn đề cho hiện tại và tương lai. Trần Đình Sử khẳng
định: “TTLS nào cũng mang trong mình hai lần lịch sử: lịch sử thời đã qua và lịch sử thời
người viết đang sống”[112, 457]. Nhà văn kể một câu chuyện về quá khứ nhưng các động
từ vẫn được chia ở thì hiện tại, họ muốn rút ra từ quá khứ những bài học cho hôm nay.
Thông qua thế giới nghệ thuật, người viết TTLS muốn gửi gắm cách nhìn, cách cảm, cách
nghĩ của mình về con người và cuộc sống hiện đại trên “mối quan hệ sinh động với hiện
tại thể hiện ngay chính trong sự vận động được mô tả của lịch sử, và tự nó sẽ nói
lên”[139, 192].
Tóm lại, TTLS hiện đại là những tác phẩm mang những đặc trưng của thể loại tiểu
thuyết (yếu tố hư cấu, yếu tố phản ánh toàn vẹn hiện thực, yếu tố con người cá nhân, yếu
tố thẩm mĩ…) nhưng lấy lịch sử làm đề tài, làm cảm hứng sáng tạo nghệ thuật nhằm giải
mã lịch sử, sáng tạo ra diễn ngôn mới về lịch sử, đem lại cho người đọc cái nhìn mới,
những cảm xúc thẩm mĩ mới về lịch sử, từ đó, giúp độc giả biết thêm nhiều mặt khác
nhau của đời sống con người, của những mặt sinh hoạt mang tính chất đời tư của con

mỗi nhà văn. Nhà văn có thể đề xuất một cách nhìn mới về một sự kiện lịch sử đã qua,
cũng có thể mượn lịch sử để trình bày những vấn đề của hiện tại” [89, 64]. Trong bài Mấy
xu hướng chủ yếu trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại Nguyễn Văn Dân đã chỉ
ra ba xu hướng trong TTLS đương đại như: TTLS chương hồi khách quan (Ngô Văn Phú
và Lê Đình Danh), TTLS giáo huấn (Hoàng Quốc Hải) và TTLS luận giải (Nguyễn Xuân
Khánh và Nguyễn Quang Thân). Tuy nhiên, trong dòng chảy của văn học, thể loại này
còn dung chứa nhiều xu hướng khác mà bài viết chưa có dịp đề cập đến. Đây cũng là
điểm cần trao đổi mà chúng tôi sẽ trình bày trong luận án này. Thái Phan Vàng Anh trong
bài viết Các khuynh hướng tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXI đã gọi TTLS giai đoạn
này là tiểu thuyết tân lịch sử – sự phản tư lịch sử và tác giả đã đưa ra những luận điểm
nhằm chứng minh sự cách tân về mặt thể loại so với cách viết, cách gọi truyền thống:
“Tiểu thuyết tân lịch sử tiếp cận quá khứ bằng quan điểm, thái độ chủ quan của người
sáng tác. Nhìn lại lịch sử, luận giải lịch sử từ những góc nhìn khác được chú ý hơn so với
việc tìm kiếm sự thật, khôi phục lại chân tướng lịch sử” bởi vì tiểu thuyết giai đoạn này
“không nhằm kể lại lịch sử và giáo huấn, không tuân thủ mô hình của tiểu thuyết lịch sử
truyền thống theo kiểu chương hồi khách quan” mà “hướng đến luận giải quá khứ trên
tinh thần đối thoại, giải thiêng cùng với những hoài nghi về những “đại tự sự” của lịch sử
13


(các tư tưởng, học thuyết, tôn giáo, tín ngưỡng, các huyền thoại, cổ mẫu…)” [6]. Vấn đề
hư cấu và giải thiêng trong tiểu thuyết lịch sử của Bình Nguyên đã đưa ra một số kiến giải
mới về mối quan hệ giữa hư cấu nghệ thuật và tính chân thực lịch sử, đặc biệt, tác giả
cũng chỉ ra tác dụng của việc các nhà văn đương đại sử dụng bút pháp giải thiêng lịch sử:
“đã mang lại nhiều cách tiếp cận, cách kiến giải lịch sử… giúp đẩy lùi khuynh hướng ca
ngợi một chiều, thần thánh hóa quá mức, khiến cho các nhân vật lịch sử trở nên xơ cứng,
ít mang ý nghĩa giáo dục hay người đọc có thể hoài nghi về sự tồn tại của chính các nhân
vật đó.” [96]
Nhiều công trình, bài viết đã cho chúng ta thấy sự vận động của loại hình nhân vật
cùng những phương thức xây dựng nhân vật trong TTLS giai đoạn mười năm đầu thế kỉ

nguyên mẫu chung, lại có thể có những cách tiếp cận, cái nhìn, sự luận giải và lối viết
khác biệt”. Nhìn chung, bài viết khá nghiêm túc trong việc tiếp cận tác phẩm và có cách
đánh giá mới mẻ so với nhiều bài viết trước đây.
Ngoài ra, rất nhiều công trình cùng những cuộc tranh luận cho thấy nhiều hướng
nghiên cứu và tiếp cận TTLS như phương thức lựa chọn hiện thực lịch sử, hư cấu nghệ
thuật, đổi mới diễn ngôn lịch sử, nghệ thuật kể chuyện, cách thức tổ chức sắp xếp không
gian, thời gian, kết cấu,... Cụ thể, Phạm Xuân Thạch trong tham luận Quá trình cá nhân
hóa hư cấu (Tự sự đương đại Việt Nam về đề tài lịch sử - truyền thống và hiện đại) tại
Hội thảo quốc tế về Việt Nam học lần thứ II (14-16/7/2004, Thành phố Hồ Chí Minh)
đánh giá sự vận động của tự sự lịch sử đương đại từ cấu trúc hình thức thể loại đến nội
dung tư tưởng và tư duy nghệ thuật: sự tan vỡ và quá trình phân rã cốt truyện trong tự sự,
quá trình chủ quan hóa mô thức tự sự, đổi mới phương thức xây dựng hình tượng nhân
vật (từ thân phận cá nhân đến cái nhìn cá nhân), đổi mới mục đích sáng tạo nghệ thuật (từ
lịch sử như một mục đích đến lịch sử như một chất liệu). Tác giả khẳng định người viết
đã nỗ lực vượt thoát ra khỏi những “huyền thoại” cộng đồng về quá khứ để hoặc trở thành
một sự bổ sung cho chính sử, hoặc vượt khỏi sự ràng buộc của lịch sử để sáng tạo một
“huyền thoại” cá nhân về hiện thực mà lịch sử được sử dụng như một chất liệu. Ngô Thị
Quỳnh Nga trong bài viết Sự đan cài các lớp ngôn ngữ trong tiểu thuyết lịch sử sau 1975
đã nhận định đề tài lịch sử giai đoạn sau 1975 và đặc biệt sau 1986 đến nay đã có những
đổi mới mang tính đột phá tạo nên sức hút mạnh mẽ bởi sự biến ảo kì diệu của ngôn ngữ:
lớp ngôn ngữ quan phương, cổ kính giúp tác giả phục dựng lại được không khí của thời
đại làm sống dậy “những xác chết biên niên sử”; lớp ngôn ngữ đời sống giản dị, nhiều
màu sắc nhằm giúp cho tác phẩm rút ngắn khoảng cách sử thi, giúp người đọc khám phá
lịch sử ở bề sâu, bề xa của nó, sinh động và tươi nguyên; đặc biệt, lớp ngôn ngữ mang
màu sắc triết luận nhằm giúp nhà văn chuyển tải những quan điểm của mình về quá khứ
và hiện tại. Đỗ Hải Ninh với bài viết Vấn đề ngôn ngữ trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam
đương đại cho rằng ngôn ngữ trong TTLS đương đại đã có sự dung hợp và dung chứa
nhiều màu sắc khác nhau. Tác giả khẳng định sự thành công nổi bật của TTLS đương đại
là đã kết hợp được những yếu tố văn hóa, lịch sử, tôn giáo, trong một hệ ngôn ngữ tiểu
15

tình, sự ảo tưởng tích cực của tác giả thể hiện trong tác phẩm. Nhà văn Hồ Anh Thái nhận
xét cuốn sách là sự kết hợp thành công hai yếu tố của thể loại là tiểu thuyết và lịch sử…
Hoàng Cát trong bài Tiểu thuyết Hồ Quý Ly, thưởng thức và cảm nhận đánh giá đây là
một tiểu thuyết bề thế, sâu sắc, hấp dẫn về một giai đoạn phức tạp của dân tộc và nhân vật
Hồ Quý Ly. Trung Trung Đỉnh trong bài Hồ Quý Ly và những giải pháp mới cho tiểu
16


thuyết lịch sử nước nhà cho rằng tác phẩm mở ra một hướng đi mới cho TTLS Việt Nam
từ tài năng và bản lĩnh của người viết. Lại Nguyên Ân trong bài Hồ Quý Ly (Tạp chí Nhà
văn số 6/2000) khẳng định tác phẩm có những nét mới trong việc xử lý chất liệu lịch sử
và xây dựng nhân vật. Trong bài viết Vấn đề xây dựng nhân vật lịch sử trong tiểu thuyết
Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Thị Thu Hương nhận diện một số loại hình
nhân vật trong Hồ Quý Ly: hệ thống nhân vật có thật trong lịch sử và hệ thống nhân vật
hư cấu. Nhà văn chứng tỏ bản lĩnh của một “nhà văn có tài khi đứng vững ở ranh giới,
giữa nhiệm vụ của một nhà tiểu thuyết và một nhà tiểu thuyết lịch sử khi xây dựng nhân
vật và sự việc; ở ranh giới giữa sự thực và hư cấu khi thể hiện nhân vật lịch sử. Và nhà
văn chọn cách ứng xử nghệ thuật hợp lý khi hòa hợp cả hai yếu tố ấy trong cùng một sự
việc, một con người để làm nên một thế giới nhân vật sống động, phong phú”. [67]
Mẫu Thượng Ngàn (2006) – một tiểu thuyết viết về văn hóa – phong tục ra đời thật
sự đã mang đến cho thể loại một cách nhìn hoàn toàn khác biệt so với trước đây. Nhà
nghiên cứu Châu Diên cho rằng đây là “cuốn tiểu thuyết mang tầm khái quát văn hóa,
nhân vật không còn là những thân phận riêng lẻ mà là cả một cộng đồng” (Nguyễn Xuân
Khánh và cuộc giành lại bản sắc). Trong khi đó, Phạm Xuân Nguyên trong cuộc trả lời
phỏng vấn của VTC News đã khẳng định “Mẫu Thượng Ngàn là nhân vật quần chúng
nhưng lại mang tính đại diện tiêu biểu cho dân tộc Việt” và “Đạo Mẫu trong tiểu thuyết
(được thể hiện trong tiểu thuyết qua nhân vật bà Tổ Cô bí ẩn, bà Ba Váy đa tình, cô đồng
Mùi, mõ Hoa khốn khổ, trinh nữ Nhụ…) vừa là tín ngưỡng, vừa thể hiện tính phồn thực
và sự trường tồn của dân tộc Việt.” Ngoài ra, Phạm Xuân Nguyên còn đề cập đến vai trò
của nhà văn trong việc phản ánh văn hóa “Nhà văn rất cần phải làm văn hóa, nói về văn

trị văn hóa Việt với một cảm quan dân tộc chủ nghĩa đắm đuối. Cảm quan này sẽ chi phối
cách ông biện luận, trong Đội gạo lên chùa, những phạm trù nổi bật của Phật giáo Việt”
[137, 95].
Trong Một số biểu tượng mang tâm thức Mẫu trong Đội gạo lên chùa của Nguyễn
Xuân Khánh, tác giả Hoàng Thị Huế cho rằng: Đội gạo lên chùa là một minh chứng mặc
nhiên cho sự níu kéo, giăng mắc của tâm thức dân tộc ở sự xuất hiện dày đặc không khí
huyền ảo, cổ tích, không gian phi thực, các biểu tượng, môtíp, hình ảnh, các phức cảm,
mặc cảm… Từ đó, tác giả khái quát một số biểu tượng được hình thành từ trong tâm thức
dân tộc được chuyển hóa thành những hình ảnh rất cụ thể như: rừng (là nơi ẩn náu vĩ đại
của con người làng Sọ); phái nữ (biểu tượng cho sự sinh sản và hiện thực hóa những ước
vọng của con người); không gian và thời gian (không – thời tâm thức, không gian phi
thực). Trong khi đó, tác giả Lã Nguyên với bài viết Về những cách tân nghệ thuật trong
Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng Ngàn và Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh cho rằng
nguồn cội sức sống lâu bền trong lịch sử văn học của ba TTLS mà Nguyễn Xuân Khánh
đã dày công trong việc đổi mới nguyên tắc truyện kể theo xu hướng tiểu thuyết hóa, cách
tân trong ngôn ngữ kết cấu và chiều sâu không gian truyện kể nhằm mang lại cho chúng
những nét nghĩa mới mẻ. Nguyễn Xuân Khánh chuyển từ tiểu thuyết vạch trần thực tại
18


sang tiểu thuyết luận đề lịch sử nhằm biến nhân vật thành một hệ thống điểm nhìn phát
ngôn cho tư tưởng tác giả, cản trở nhà văn trong việc sử dụng khẩu ngữ và lớp ngôn từ
đậm chất văn xuôi. Tuy nhiên, tác giả vẫn khẳng định rằng dẫu có nhiều cách tân nghệ
thuật thế nào, Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng Ngàn và Đội gạo lên chùa vẫn không vượt ra ngoài
khuôn khổ của “lối viết cổ điển”. Nguyễn Văn Hùng đã chỉ ra Một số phương thức lựa
chọn và thể hiện hiện thực lịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh như: phương thức
lựa chọn giai đoạn, thời điểm lịch sử, phương thức thể hiện lịch sử và luận giải những vấn
đề lịch sử, văn hóa, cùng sự thể nghiệm phương thức tư duy và tự sự lịch sử độc đáo, mới
lạ. Nguyễn Thị Thu Hương với bài viết Yếu tố huyền thoại trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân
Khánh trình bày các dạng thức yếu tố huyền thoại trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh

Thượng Ngàn và Đội gạo lên chùa, Nguyễn Xuân Khánh được đánh giá là “tiểu thuyết
gia hàng đầu của văn xuôi Việt Nam đầu thế kỉ XXI. Các sáng tác của anh đã trở thành
trung tâm của đời sống văn học” [40, 43]. Bùi Việt Thắng khẳng định: “hợp xướng nhiều
bè” là cách gọi khác của kết cấu đa tuyến có tầm khái quát rộng lớn như một đặc điểm tiểu
thuyết Nguyễn Xuân Khánh. Thái Phan Vàng Anh chỉ ra những dạng thức đối thoại trong
TTLS của Nguyễn Xuân Khánh: đối thoại về tư tưởng, quan niệm; huyền thoại và giải
huyền thoại – đối thoại với lịch sử – văn hóa; tính đối thoại trong diễn ngôn trần thuật.
Nguyễn Hoài Nam nhận định rằng trọng tâm cảm hứng của Nguyễn Xuân Khánh chính là
văn hóa – phong tục, thứ văn hóa – phong tục được sinh thành và được tỏa ra, lan thấm
vào đời sống từ những hệ tư tưởng tôn giáo lớn: Đạo Mẫu và Đạo Phật. Phan Tuấn Anh
cho rằng Nguyễn Xuân Khánh đã cả gan “phạm thượng” đến hầu hết những “cái vảy
ngược” của các con rồng tư tưởng đầy quyền uy tại Việt Nam: đạo Mẫu, Nho giáo, Phật
giáo, Đạo giáo, Kito giáo, vai trò và vị thế lịch sử của triều Trần, người Hoa, người
Chăm, người Pháp, trong lịch sử Việt Nam. Phạm Xuân Thạch nhận xét tiểu thuyết
Nguyễn Xuân Khánh thể hiện một khuynh hướng bền vững giải thể tính lưỡng phân trong
cấu trúc ngữ nghĩa của tiểu thuyết để đạt đến sự phức tạp hóa của những cấu trúc nội tại.
Đằng sau cấu trúc thi pháp này chính là một hệ cấu trúc tư tưởng với tinh thần dân tộc chủ
nghĩa là yếu tố mang tính ý thức hệ bền vững nhất, nằm ở lõi của các TTLS của Nguyễn
Xuân Khánh. Đoàn Ánh Dương nhận thấy Nguyễn Xuân Khánh đã mở ra con đường của
hư cấu lịch sử cùng với cách thức mà nhà văn gửi gắm cái nhìn cuộc đời của mình vào
trong tác phẩm đã xác lập ông vào vị trí nhà văn hàng đầu của mười năm đầu thiên niên
kỷ mới. Mai Anh Tuấn cũng chỉ ra ảnh hưởng của văn hóa vào trong các tác phẩm của
nhà văn như dấu ấn của Nho, Phật, Đạo giáo cùng văn hóa tín ngưỡng của người Việt
được chuyển hóa vào tác phẩm như “một hồi đáp về/với vô thần”. Dấu ấn văn hóa còn là
những biểu tượng “hồn nước” “hồn đất” hay là tinh thần dân tộc đắm đuối. Tất cả được
hòa hợp như một tư tưởng kiến tạo văn hóa trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh. Bên
cạnh đó, một số tác giả tham luận mở ra nhiều hướng lý giải và khám phá mới mẻ về tiểu
thuyết Nguyễn Xuân Khánh. Chẳng hạn, khi tiếp cận Hồ Quý Ly, Phạm Phú Phong lý giải
tác phẩm từ tư duy tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh, trong khi đó, Lê Tú Anh tiếp cận
20

là truyền lửa từ trái tim đến bạn đọc…”. Trong Buổi toạ đàm về sáng tác của Võ Thị Hảo
(19/10/2005, Hà Nội), các nhà nghiên cứu Phạm Xuân Nguyên, Hoàng Ngọc Hiến cùng
ngợi khen: “Giàn thiêu là một tiểu thuyết, trước hết là một tiểu thuyết, nghĩa là Giàn
thiêu trước hết không phải là một “truyện lịch sử”, không phải là minh hoạ lịch sử, mà là
21


một tiểu thuyết tư duy lại lịch sử bằng phương pháp tiểu thuyết”. Đồng thời nhấn mạnh
rằng “tác giả Võ Thị Hảo đã khá thành công trong cấu trúc của cuốn tiểu thuyết”.
Nguyễn Hoài Nam trong bài Giàn thiêu – một nghệ thuật làm tan khối băng lịch sử
(Báo Người đại biểu nhân dân, 2005) đã nhấn mạnh đến những đặc sắc về nghệ thuật của
tác phẩm này: “Tiểu thuyết lịch sử Giàn thiêu (Võ Thị Hảo) là một nghệ thuật làm tan
khối băng lịch sử mà chị đã gặp phải khi dựng lên một giàn thiêu với rất nhiều lửa của
mình…Võ Thị Hảo đã làm tan khối băng nhận thức về Ỷ Lan – với tư cách là một nhân
vật lịch sử, một khối băng vốn đã cố kết vững chắc”. Như vậy, tác giả bài viết đã đánh giá
Giàn thiêu trên cả hai phương diện: Giàn thiêu – một TTLS và Giàn thiêu – cuốn sách
làm tan khối băng lịch sử, kéo quá khứ về hiện tại, đặt quá khứ – hiện tại trong một dòng
chảy liên tục của thời gian. Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân có bài viết Tiểu thuyết và lịch
sử (nhân đọc Giàn thiêu của Võ Thị Hảo) bàn về vấn đề khai thác lịch sử trong tiểu thuyết
hiện đại, cụ thể là Giàn thiêu (Võ Thị Hảo). Ông cho rằng sử liệu và truyền thuyết xưa đã
được tác giả Giàn thiêu khai thác theo đúng cung cách của tiểu thuyết chứ không lạc sang
hướng của các kiểu truyện có hơi hám sử thi. Phương hướng làm việc của tác giả tiểu
thuyết Giàn thiêu cố nhiên không quá đơn độc, trái lại, thậm chí đang cùng một số tác giả
khác làm nên một chuyển động bên trong dòng sáng tác về văn xuôi lịch sử hiện nay.
Nguyễn Văn Hùng với bài viết Yếu tố liên văn bản trong tiểu thuyết Giàn thiêu (Văn học
hậu hiện đại – diễn giải và tiếp nhận, Nxb Văn học, 2013) đã chỉ ra một số yếu tố liên
văn bản được thể hiện trong tác phẩm như: Mã lịch sử, mã văn hóa (cổ mẫu Lửa và nước,
tôn giáo, tín ngưỡng dân gian), cùng sự tương tác các văn bản thể loại. Tác giả Nguyễn
Quang Huy nghiên cứu về cổ mẫu lửa, nước và máu trong Giàn thiêu với bài viết Đọc
Giàn thiêu vủa Võ Thị Hảo – chơi với người chơi lửa. Tác giả rất tỉ mỉ, công phu khi

thuyết Hội thề của Từ Quốc Hoài, Thẩm bình Hội thề của Vương Quốc Hoa, Về Hội thề
của Trần Hoài Dương,… Chẳng hạn, nhà thơ Từ Quốc Hoài bức xúc khi cho rằng: tác giả
Hội thề đã đẩy Nguyễn Trãi, một anh hùng kiệt xuất vào thế cô độc, chỉ trang trải lòng
mình được với Thái phúc, một viên bại tướng nhà Minh đã đầu hàng nghĩa quân. Nhà văn
Hà Văn Thùy phản biện: “tiêu chuẩn vàng để định giá một tiểu thuyết lịch sử, đó là tính
chân thực lịch sử… Đem chuẩn mực kinh điển này soi vào Hội thề, ta thấy rất rõ tác
phẩm thiếu tính chân thực lịch sử ở phương diện phản ánh không chân thực tinh thần của
một thời đại lịch sử. Cái tâm thức kình chống, coi khinh trí thức của nghĩa quân Lam Sơn
trong Hội thề cũng không thực,…”. Trần Mạnh Hảo gay gắt hơn khi cho rằng nhà văn
Nguyễn Quang Thân đã hư cấu những chi tiết phi lịch sử… Trong khi đó, nhà văn Trần
Hoài Dương băn khoăn: “Tôi không hiểu nổi, sao anh Thân lại viết tác phẩm này?”
Ngược lại, trước những ý kiến trái chiều về giá trị của tác phẩm, nhiều tác giả đã
lên tiếng bảo vệ Hội thề, cụ thể như: Hội thề, một cách nhìn về lịch sử của Hoài Nam, Trớ
trêu trí thức, bẽ bàng tình nhân của Văn Hồng, Đọc Hội thề của Trần Thanh Giảng, Hội
thề - đau đáu thế sự, tình đời của V. Minh, Trong tiếng người xưa vẫn vọng về của Ngô
Thị Kim Cúc, Hội thề: Lịch sử và tiểu thuyết của Lê Thành Nghị, Hội thề của Đỗ Ngọc
23


Thạch, Mấy vấn đề chủ yếu trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại của Nguyễn Văn
Dân,… Trong các bài viết trên các tác giả đều thống nhất quan điểm khi đánh giá: chức
năng của TTLS là không phải minh họa về lịch sử đã được xác lập mà là bằng những con
đường đặc trưng riêng của nó để làm thế nào có thể phá vỡ những điều đã được coi là
niềm tin chắc chắn, các quan niệm về thế giới đã được thiết lập…, do đó, “trong biên độ
mở của Hội thề mà mỗi người đọc, theo cách của mình có thể cảm nhận, điều đó cũng
chứng tỏ sự thành công của tiểu thuyết,… Nhà văn Nguyễn Quang Thân đã rất dày công
trước tư liệu, trước câu chữ, trước mối quan hệ giữa lịch sử - những vấn đề còn khuất lấp
trong màn sương thời gian và nghệ thuật tiểu thuyết hiện đại.”[93]
Ngoài ra, còn rất nhiều bài viết của các học viên cao học và nghiên cứu sinh trong
cả nước được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành như: Phan Trọng Hoàng Linh với bài

nghệ thuật Đà Nẵng (5/2016), thành công đó đã gây chú ý trên văn đàn. Hai tác giả Phan
Ngọc Thu và Huỳnh Thu Hậu cùng tỏ thái độ ngưỡng vọng, cảm phục, khiêm cung, sinh
động khi khám phá hình tượng Nguyễn Hoàng. Hai tác giả cùng nhận định thành công
của Minh sư không chỉ ở bình diện nội dung mà còn ở những đặc sắc nghệ thuật: nghệ
thuật trần thuật, kết cấu, kết hợp giữa hiện thực và hư cấu. Tác giả Trần Xuân An trong bài
viết Minh sư nào trong “chuyện Nguyễn Hoàng mở cõi?” đã lý giải: “Minh sư không ai
khác, mà chính là những ai đã nói đúng sự thật”, đồng thời, qua tác phẩm nhà văn còn
muốn gửi gắm đến người đọc những băn khoăn về những vấn nạn lịch sử như xung đột
Chiêm – Việt để góp phần hóa giải. Vấn đề này cũng được tác giả Văn Chinh đề cập
trong bài viết Vấn đề hòa giải hòa hợp dân tộc trong tiểu thuyết chiến tranh gần đây:
“Nhờ tài đức và trí lực, Nguyễn Hoàng đã cố kết được lòng dân, muôn người như một,
biến ước mơ khai khẩn cho riêng mình một cõi thành hiện thực chói lọi”. Vì thế, nhân vật
Nguyễn Hoàng hiện lên trong tác phẩm là con người đức độ, có tài năng chính trị lẫn
quân sự, luôn bình tĩnh, sống chan hòa với mọi người, kể cả thuộc cấp và nhân dân. Chính
nhờ những phẩm chất đó mà Nguyễn Hoàng thu phục được lòng dân để bắt đầu cho công
nghiệp khai hóa, mở mang bờ cõi. Bài viết Biện chứng của một giai đoạn lịch sử bi hùng
của tác giả Tấn Phong khẳng định: Tiểu thuyết Minh sư không đi sâu vào miêu tả những
tranh giành ngôi vị, những tranh chấp phe nhóm mà chủ yếu đi vào tập trung khắc họa
tính cách nhân vật Chúa Tiên. Thái Bá Lợi hết lòng đi tụng ca Nguyễn Hoàng và thẳng
thắng biện chứng, không ngại nói những điều khó nói của một thời kỳ lịch sử đất nước.
Tóm lại, mặc dù những bài viết về Minh sư không nhiều, còn mang tính nhỏ, lẻ song một
thực tế cho ta thấy rằng, tác phẩm thật sự có nhiều cách tân trên cả hai phương diện nội
dung và hình thức thể hiện, điều đó góp phần rất lớn vào sự nỗ lực đổi mới thể loại TTLS
Việt Nam đương đại.
Mặc dù, Tám triều vua Lý không vượt qua được sự thành công của Bão táp triều
Trần nhưng với sự nghiêm túc trong sáng tạo nghệ thuật, Hoàng Quốc Hải đã giúp độc
giả khám phá những thăng trầm của một triều đại huy hoàng bậc nhất trong lịch sử. Trong
bài viết Vương triều Lý dưới góc nhìn của tiểu thuyết gia Hoàng Quốc Hải tác giả Đặng
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status