Jane Eyre từ góc nhín phân tâm học Trịnh Ngọc Trâm Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Luận văn ThS. ngành: Văn học nước ngoài; Mã số: 60 22 30
Người hướng dẫn: PGS.TS. Đào Duy Hiệp
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Tím hiểu về phân tâm học như một lì thuyết phê bính văn học. Nghiên
cứu thế giới tâm lì của nhân vật Jane Eyre qua nghệ thuật tiểu thuyết của Charlote
Bronte. Trính bày những ẩn ức, ám ảnh về cái chết và tính yêu.
Keywords. Văn học nước ngoài; Tiểu thuyết; Văn học Anh; Phân tâm học
Content
Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
Jane Eyre là cuốn tiểu thuyết của Charlotte Brontë (1816 –1855), được nhà xuất bản
Smith, Elder & Company of London, 1847, với bút danh Currer Bell, là một trong những tiểu
thuyết có ảnh hưởng sâu sắc và nổi tiếng nhất của nền văn học Anh. Bên cạnh việc thể hiện
một cách tinh tế và sâu sắc câu chuyện về cuộc đời của Jane, tác phẩm vừa mang tình chất tự
thuật, vừa mang ước mơ thầm lặng của chình Charlotte Brontë. Tác phẩm cũng mang đến
niềm tin và hy vọng cho những cuộc đời bất hạnh thông qua những tư tưởng tiến bộ về tôn
giáo, về nữ quyền, về quyền con người và đặc biệt trong đó là sự ấm áp của tính người.
Nhưng đóng góp quan trọng của tiểu thuyết thuyết này chình là sự kết hợp một cách tinh tế
giữa tiểu thuyết giáo dục với các dòng tiểu thuyết khác như tiểu thuyết tâm lý, tiểu thuyết tiểu
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục đìch nghiên cứu của luận văn là tím hiểu sâu hơn về văn học Anh thời Victoria và người
phụ nữ Anh thế kỉ 19 thông qua một tác giả nữ nổi tiếng.
Nhiệm vụ là xuất phát từ lì thuyết phân tâm học, luận văn tím hiểu, khám phá thế giới tâm lì
của nhân vật qua nghệ thuật tiểu thuyết của Charlote Brontë
Từ đó, góp thêm phương pháp luận hay đúng hơn là cách ứng dụng một lì thuyết vâo tím
hiểu một tác phẩm.
5. Phương pháp nghiên cứu:
- Áp dụng các phương pháp lì thuyết phân tâm học, phê bính xã hội học, phần nào đó phê
bính nữ quyền.
- Sử dụng các thao tác thống kê, so sánh.
6. Cấu trúc luận văn:
Chương 1. Phân tâm học như một lì thuyết phê bính văn học
Chương 2. Charlotte Brontë và nhân vật Jane Eyre
Chương 3. Những ẩn ức, ám ảnh về cái chết và tính yêu.
Chương I. Phân tâm học như một lý thuyết văn học
1.1. Lược sử về phê bình phân tâm học
Phê bính phân tâm học là một trường phái nghiên cứu văn học rất phát triển ở phương Tây
đầu thế kỷ XX. Chúng ta đều biết nguồn gốc của phân tâm học không phải xuất phát từ các lì
thuyết văn học mà là từ ngành tâm lì, tâm bệnh học của bác sĩ người Áo S.Freud.
Phê bính phân tâm học đã được nói đến nhiều ở ta. Nhiều công trính dịch thuật, phê bính đã
xuất hiện rải rác trong khoảng trên dưới 20 năm trở lại đây. Nhưng trước đây khá lâu, vào
những năm 30 của thế kỉ XX, các nhà phê bính và cả sáng tác đã ìt nhiều vận dụng lì thuyết này
vào công việc của họ.
Carl Gustav Jung (1875-1961) là người cùng thời với Freud, một nhà phân tâm học tại
Zurich. Lúc đầu, Jung là môn đệ trung thành của chủ thuyết Freud (Freudianism) sau khi tiếp
xúc với Freud tại Áo, vào năm 1907. Nhưng sau đó, ông từ chối hoàn toàn chủ thuyết của
Freud, cho rằng đó là lý thuyết dục tình đã bị đồng hóa bởi dục tình cá nhân của Freud; và do
tác phẩm cũng chỉ là hính thức thăng hoa của các ẩn ức từ trong vô thức và từ thời thơ ấu.
Hoạt động của giấc mơ – cũng như của tác phẩm văn học – có thể được tóm gọn vào hai quá
trính chình, „dồn nén‟ và „hoán vị‟.
Trong tác phẩm Phân tâm học nhập môn, Freud cho rằng phần chình tâm lý con người cũng
được ẩn giấu trong cõi vô thức, phần bên dưới của tảng băng. Phần chím đó là cái sâu kìn không
những giấu kìn người khác mà còn tự giấu ngay chình bản thân mính nữa. Freud coi hoạt động
tinh thần của mỗi con người được thể hiện ở ba cấp độ là tự ngã (id./soi); bản ngã (ego/moi) và
siêu ngã (superego/surmoi), còn được dịch là cái nó, cái tôi và cái siêu tôi. Quan trọng nhất là
tự ngã,phần nhân cách tối tăm và không thể biết được.
Freud coi tình dục hay nhục dục (libido) là một khái niệm khác được ghép chung với tự
ngã, nghĩa là ở phần sâu thẳm, tăm tối nhất. Ông cho rằng những xúc cảm của tự ngã là hính
thức thể hiện “năng lượng tình dục”. Khái niệm “năng lực của tình dục” được hiểu theo nghĩa
rộng.
Tiểu kết
- Từ những tóm lược về lì thuyết phân tâm học đã quen thuộc bên trên, luận văn muốn lấy
đó như cơ sở lì thuyết để khám phá tác phẩm của Charlotte Brontë.
- Luận văn sẽ tím hiểu tác phẩm theo hai hướng chình: phân tâm học tác giả và phân tâm
học nhân vật, coi nhân vật là một con người, một “hóa thân” của tác giả.
- Các Chương tiếp theo sẽ khảo sát tác phẩm từ những phát kiến của Charles Mauron: tím hiểu
nhóm các biểu tượng, ẩn dụ, giấc mơ trong tác phẩm từ và mối quan hệ của chúng với cuộc đời
tác giả. Và ngược lại, cuộc đời tác giả sẽ soi sáng tác phẩm. Chương 2. Charlotte Bronte và nhân vật Jane Eyre
Trong Chương này luận văn tiến hành tím hiểu từ tiểu sử cuộc đời tác giả đến sự “hóa
thân” của bà vào nữ nhân vật Jane Eyre trong tác phẩm qua những biểu hiện vô thức và ám
ảnh.
2.1. Từ những “dồn nén”, ẩn ức trong cuộc đời tác giả:
Charlote Brontë sinh tại Thornton, Bắc Yorkshire, Anh năm 1816, con thứ ba trong sáu
những thiếu thốn, cay cực trong cuộc đời tác giả là những “dồn nén” cần “chuyển dịch” sang
nhân vật trong tác phẩm qua lăng kình của thuyết phân tâm học.
2.2.1. Người mẹ
Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới cho biết: “Trong phân tâm học hiện đại, biểu tượng
người mẹ có giá trị mẫu gốc. Người mẹ là dạng thức đầu tiên của anima mà mỗi cá thể con
người sở nghiệm, tức là cái vô thức. Cái vô thức này có hai mặt, một mặt xây dựng, một mặt
phá hoại. (…). Trong chiêm mộng, đôi khi người mẹ được tượng trưng bằng con gấu. Khi ấy,
con gấu là hính tượng của những bản năng mà người nằm mơ đã đúc kết lại và phóng chiếu
vào người mẹ: nó là hiện thân của việc đứa trẻ nhỏ phải bám chặt lấy người mẹ. ” [25; 586].
Theo Freud, giấc mơ là thấu kình soi chiếu đời sống tâm sinh lý con người. Người viết chỉ
muốn lì giải một chút sự mâu thuẫn của định nghĩa trên về giấc mơ về người mẹ. Tại sao giấc
mơ về mẹ lại được tượng trưng bằng “gấu” hoặc đại loại các con vật hung dữ khác? Freud coi
“giấc mộng là sự biến dạng của một ước vọng khi bị dồn nén”. Mỗi một giấc mộng đều biểu
hiện một bi kịch trong thế giới nội tâm của con người.
Trong tác phẩm, không nhiều lần Jane mơ nhưng lần nào giấc mơ cũng phản ánh điều gí
đó từ thực tế cô đang đối mặt. Đó là sự lo lắng của Jane khi nằm mơ tới hính ảnh đứa bé ví
theo ấn tượng tuổi thơ thí “mơ thấy trẻ nhỏ chắc chắn là một điểm gở”, giấc mơ của Jane:
“Suốt tuần lễ qua, không mấy đêm là tôi không chiêm bao thấy một đứa trẻ Đêm nay mơ
thấy một đứa trẻ khác, đêm sau lại mơ thấy đứa trẻ cười. Nhưng dù là mơ thấy thế nào đi nữa
thí liên tiếp bảy đêm liền, hễ tôi nhắm mắt bắt đầu ngủ là nó lại hiện ra Tôi đâm ra lo sợ khi
đến gần giờ đi ngủ, giờ mà ảo ảnh kia sắp hiện ra” [XXI].
Trong tâm lì nhân vật nói chung và nhân vật Jane Eyre nói riêng, có thể nói sự vô thức đã
bộc lộ rõ những đặc điểm tâm lì nhân vật. Từ giấc mơ, suy nghĩ, lời nói nhỡ và những hành
động không kiểm soát được đã khiến nhân vật bộc lộ rõ tâm lì thật của mính.
Những giấc mơ của Jane trong tác phẩm được cấu trúc dần dà từ những giấc mơ “được
nghe nói trong lúc thức”, nghĩa là những giấc mơ “mở mắt” của một người đang ý thức ở
cuối Chương V khi chứng kiến người bạn của mính bị mắng mỏ. Trong suốt tác phẩm sẽ còn
nhiều giấc mơ khác nữa, nhưng hầu hết nội dung các giấc mơ đó đều nói lên một điều: sự
hoang vắng, trống trải, nỗi cô đơn của một bé gái thiếu tính thương yêu của người mẹ. Ở
Chương VIII, khi gặp Rochester, cho ông ta xem những bức tranh Jane vẽ, ông đã đánh giá
còn Jane là Tấm hay Lọ Lem. (Chủ nghĩa hiện thực trong giai đoạn này, như trong Mở đầu
luận văn đã đề cập: các nhà văn đã đề cập đến vấn đề thiếu nhi. Trong các tác phẩm của họ:
hai mảng sáng/tối của xã hội đều in dấu lên các thế hệ thiếu nhi, nhưng chủ yếu chúng đều là
nạn nhân đau khổ.
Ở đây, “nếu” là thức chỉ điều kiện về “một gia đính ấm cúng và cha mẹ thân yêu” đã được
mặc định là không có; “nhưng trong trường hợp hiện tại”, tức là đang ở “lâu đài”, một không
gian mênh mông với đứa trẻ, song lại “chật hẹp”, thiếu vắng tính thương, nghẹt thở và muốn
vùng thoát. Trường đoạn này cho thấy rất rõ giai đoạn cái tự ngã trong sự phát triển tâm sinh
lì của nhân vật,nó biểu thị một sức mạnh vô thức bản năng, tăm tối của một đứa trẻ mới mười
tuổi: “liều lĩnh và phấn khìch” mong hoà tan, hợp nhất với bản năng nổi loạn.
Như vậy, bước “chuyển dịch” của nhân vật từ “ngôi nhà-lòng mẹ” (trong tác phẩm đã bị tỉnh
lược) đến “ngôi nhà-dí ghẻ”, đã sắp hoàn tất, để nhân vật lại tiếp tục bước sang một “ngôi nhà-
trại trẻ” – một nơi chốn hà khắc, tàn bạo.
2.2.2.2. Trại Lowood
Khi đến Lowood, được thoát khỏi Gateshouse với những ám ảnh ghê sợ, Jane Eyre từng
vui mừng và hi vọng nơi mính sẽ đến khả dĩ hơn cho cô làm lại từ đầu. Được học, được đọc
sách, được sống và yêu thương. Nhưng những tháng năm sống tại Lowood chẳng khác gí trại
giam thứ hai, nơi đó với những chế độ hà khắc, đời sống thiếu thốn và Brocklehurst đại diện
cho kẻ giả tạo luôn chèn ép khiến Jane lại một lần nữa sống trong sự kím hãm về tính cảm, về
đời sống tinh thần của mính.
Freud và các nhà phân tâm học cho rằng nguồn gốc của mối lo sợ thường gặp ở trẻ em là
những tính huống, những cảm nghĩ, những chấn thương trong cuộc sống, đặc biệt những tính
huống phải tách rời mẹ, v.v… Sự trấn áp mà Jane và các bạn phải gánh chịu ở Lowood được
miêu tả như những nạn nhân.
Dòng trần thuật ở ngôi “tôi” như lần lượt giở lại những trang nhật kì hãi hùng của cuộc đời
Jane. Điểm nhín cố định từ bên trong được quan sát, kể lại từ một đứa trẻ là Jane khi đó,
nhưng lại mang giọng điệu “già nua” do những nhận thức trước tuổi. Ở đây là cái đói, cái rét
và những hành vi tàn bạo kiểu nhà tù của nhà trường nơi Jane và các bạn sống. Những nhu
cầu và bản năng về ăn uống, sinh hoạt và nói chung về “xác thịt” đó, theo phân tâm học, sẽ
làm biến chuyển tâm lì Jane tím cách giải toả ẩn ức về phìa khác.
giành cho ông.
Giải thìch nhu cầu dồn nén và nguồn năng lượng xúc cảm nằm bên dưới những vận động
và những ứng xử hữu thức và vô thức, Freud gọi năng lượng ấy là libido. Trong Jane Eyre, rõ
rằng những xúc cảm bản năng của cả hai nhân vật chình đều đã bị dồn nén: Jane Eyre mồ côi
từ bé với một tuổi thơ không tính yêu thương ở Gateshouse, cô cũng khao khát được yêu
thương, được che chở; Rochester với cuộc hôn nhân mù quáng không tính yêu, phải chịu
đựng và dồn nén tính yêu cảm xúc bên một bà vợ điên là Bertha Mason. Cả hai đều tồn tài
một nguồn năng lượng ấn ức dưới lớp hính thức bên ngoài. Ở tận sau trong tâm hồn họ, khát
khao yêu thương, sự đam mê còn dồn nén và rất mãnh liệt.
Tiểu kết
- Những ám ảnh “dồn nén” từ tuổi thơ thiếu tính yêu thương của cha mẹ của Charlotte
Brontë đã được bà “chuyển dịch” vào nhân vật Jane qua các giấc mơ;
- Qua các không gian khác nhau, từ cái tự ngã nhân vật đã khẳng định dần đến cái bản ngã
để kết thúc đoàn viên bằng cái siêu ngã cao quý.
- Từ lì thuyết phân tâm học, ta đã nhận ra Jane, từ người con gái đến người “mẹ”, người
vợ qua những chi tiết quanh co, được phủ lên bằng cái kết đầy tính thương, những phức cảm
Oedipe sâu sắc.
Chương 3. Những ẩn ức, ám ảnh về cái chết, tính yêu
3.1. Tần suất và tỉ lệ xuất hiện màu sắc: đỏ/đen
Trước hết, đọc tiểu thuyết Jane Eyre, người đọc có một ấn tượng khá rõ nét về các màu
sắc đối nghịch, bởi chúng có một mật độ xuất hiện khá dày đặc. Chình do tần suất xuất hiện
lớn như vậy mà cuốn tiểu thuyết hiện ra trước độc giả như một bức tranh khá u ám, gay gắt,
đôi chỗ nặng nề, buồn thảm tuy rải rác vẫn có những bức phác hoạ thiên nhiên trong trẻo, yên
tĩnh như một nốt nhạc lạ, hiếm hoi trong bản nhạc trầm buồn của đời nhân vật.
Theo thống kê của chúng tôi thí trong tiểu thuyết Jane Eyre số lượng xuất hiện các màu
cho ra các con số sau:
77 lần
77
19.2%
Nhận xét:
- Màu đen (black) và tối tăm (dark) có con số kỉ lục, vượt trội 135 lần (33.67% ≈
34%), nghĩa là trên 1/3 tác phẩm, dẫn đến hiệu quả là dù không chú ý, người đọc vẫn bị ám
ảnh bởi một khì quyển tối tăm, u ám trong tác phẩm này.
- Nó lấn át cả màu “đỏ” dương tình: 135/129
- Số 77 lần Ánh sáng, nguồn sáng (light) xuất hiện vẫn không đủ sức để cải thiện được
không khì trầm buồn của tác phẩm.
- Từ các con số trên sẽ cho ra tần suất xuất hiện của chúng, Jane Eyre [6] có dung
lượng 401 trang, thí cứ trung bính:
o Cứ 2.88 trang, ta lại gặp một màu “đen” hoặc tương đương xuất hiện;
o Cứ 3.16 trang/đỏ (red) hoặc các từ tương đương;
o Cứ 5.21 trang/ánh sáng, nguồn sáng (light).
- Những con số “biết nói” trên càng cho thấy một màu u ám, buồn thảm trong tác
phẩm.
Lì thuyết phân tâm học cho biết sự xuất hiện trở đi trở lại của một hính ảnh, một từ ngữ,
ẩn dụ, biểu tượng nào đó là có vấn đề.
3.2. Ý nghĩa và nội dung của biểu tượng màu đỏ và màu đen
Màu đỏ: vẫn thường được coi là biểu tượng cơ bản của bản nguyên sống, sức mạnh,
quyền năng, màu của lửa, của máu. Bên cạnh đó, màu đỏ trong biểu tượng văn hoá thế giới
còn cho biết thêm một số ý nghĩa khác như: màu lửa của tâm, màu của linh hồn, năng lượng
tính dục, của trái tim, màu ưa thìch của trẻ thơ, v.v. nhưng đồng thời nó cũng là dấu hiệu của
nguy hiểm, cần kiềm chế. Ngọn lửa đỏ làm dừng lại một hành động.
Màu đen: “Như một biểu tượng, màu đen hay được cảm hội hơn cả ở cái mặt lạnh lùng,
tiêu cực của nó. Màu đen ví thế là màu tang tóc, nhưng không phải như màu trắng mà nặng
nề hơn. Theo cách nhín phân tâm học, trong các chiêm mộng ban ngày hay ban đêm cũng
như trong các tri giác cảm tình ở trạng thái tỉnh, màu đen được coi như tính trạng thiếu
Lửa đỏ, như vậy là mang biểu tượng của ngăn cấm, nguy hiểm đồng thời với cả những sự
tức giận của Jane: “Tôi vẫn thường chịu khuất phục cho đến khi đột ngột nổi đoá, đôi khi
điên khùng như một ngọn núi lửa” (Chương XXXIV). Sau này, lửa tượng trưng cho các lực
lượng đàn áp, dập tắt sự sống của Jane (đám cháy do người vợ điên của Rochester).
Lửa cũng là một hính ảnh ẩn dụ cho Jane, lửa với ánh sáng và sự ấm áp.
Điều đáng lưu ý ở đây là “lửa” (fire) trong nhóm từ tương đương của “đỏ” xuất hiện rất
nhiều: 97 lần trong tác phẩm.
Qua cái nhín của Jane về Rochester, lửa còn là năng lực tình dục: “Giọng nói của ông toát
ra một nghị lực kí lạ, cái nhín của ông loé lên một ánh lửa khác thường” (Chương XV).
Mùa hạ, thường được coi là mùa của dương tình, mạnh mẽ được cảm nhận qua cái nhín
đầy chất thơ, hân hoan, sinh khì. Một bức tranh thiên nhiên tràn đầy ánh sáng, nhiệt độ, màu
sắc vào lúc hoàng hôn của ngày hạ. Các màu sắc, ánh sáng “chói chang”, “đỏ ối”, “đỏ thắm”,
“màu lửa rực cháy” như ngập tràn bản nguyên sống, sức mạnh, quyền năng, màu của lửa,
màu lửa, của tâm, của linh hồn, năng lượng tính dục, của trái tim.
3.3. Xung năng chết
Freud cho rằng con người được sinh ra với những bản năng thuộc về vô thức. Nó bao gồm
các bản năng sống và bản năng chết. Bản năng sống: là sự đói khát, tính dục; bản năng chết:
là những bản năng hướng tới sự phá bỏ, tiêu diệt cuộc sống. Những bản năng này, trong tác
phẩm văn học sẽ được “chuyển dịch” dưới những hính ảnh, cảm xúc hoặc những ẩn dụ khác
nhau.
3.3.1. Sương mù, băng giá
Trong tác phẩm “sương mù” bên cạnh ý nghĩa về không gian u ám cũng còn biểu tượng
cho thế giới trẻ thơ đang ở “giai đoạn quá độ giữa hai trạng thái”. Cách hiểu này đã cho
chúng ta nhận biết rõ hơn về “điểm chết” giữa hai giai đoạn chuyển tiếp của nhân vật trong
quá trính hính thành nhân cách siêu ngã của nàng.
Sương mù cũng là một biểu tượng để gắn với những hoàn cảnh mà Jane Eyre phải đối mặt.
Sương mù giăng đầy khi Jane tới Lowood như báo hiệu những chuỗi ngày mờ mịt trong cuộc
sống của Jane – nó không sáng sủa gí hơn những tháng ngày sống cùng và cô ở Gateshead.
Sương mù còn xuất hiện khi Jane rời bỏ lâu đài Thornfield và Rochester, ra đi trong bàn tay
trắng để đối mặt với đói, rét và khó khăn Có thể thấy sương mù ở Anh nhiều nhưng nhà
đây là những “phóng chiếu” của Jane lên cảnh sắc thiên nhiên và ánh sáng tính yêu của nàng.
3.4.1. Thiên nhiên tươi sáng
Như trên luận văn đã đề cập đến chất thơ hay những bản nhạc lạ “lạc loài” trong những
đoạn miêu tả thiên nhiên của cuốn tiểu thuyết. Chúng như làm dịu đi những ám ảnh đen tối,
gay gắt trên những bước đường của số phận nhân vật trung tâm. Những đoạn văn trong sáng
nhất tác phẩm thường lại là miêu tả cảnh thiên nhiên về mùa hè.
Sang đến hơn 250 trang sau ta lại bắt gặp một bức tranh khác nữa cũng ngập tràn ánh
sáng, sự sống vào những ngày hè càng cho thấy sự ám ảnh, mong mỏi vươn ra ngoài ánh
sáng, vượt thoát khỏi cảnh u tối, ảm đạm của nhân vật và cũng chình là của tác giả
3.4.2. Cấu trúc nhân cách nhân vật
Nhắc lại rằng S.Freud cho rằng cấu trúc của nhân cách gồm có ba cấu thành, đó là tự ngã,
bản ngã và siêu ngã. Sự mâu thuẫn tồn tại giữa tự ngã và siêu ngã dễ làm con người rơi vào
tính trạng căng thẳng. Để giúp cho con người có thể thoát khỏi tính trạng này, S.Freud cho
rằng cần có những cơ chế tự vệ để bảo đảm tạo ra sự cân bằng trong tâm lý của con người.
Nhân vật Jane Eyre, như trong các Chương trên, ta đã xem xét quá trính đi từ Tự ngã, Bản
ngã đến Siêu ngã có thể tóm gọn một câu: từ chỗ “hoang dại” cãi mợ, đánh nhau với thằng
John (con bà ta), đến chỗ nàng là người phụ nữ vị tha, hiền dịu, biết hi sinh ví tính yêu (Jane
đã trở lại tím Rochester lúc đã bị mù, già nua, gia sản không còn gí, trong khi nàng có tất cả:
tuổi trẻ, gia sản, sắc đẹp). Có thể nói rằng, nước Anh thời Victoria hệ thống thứ bậc xã hội là
điều rất quan trọng và điều mà Brontë muốn đề cập đến trong cuốn tiểu thuyết Jane Eyre
chình là những vấn đề về giai cấp, về định kiến xã hội tồn tại trong lòng xã hội nước Anh lúc
bấy giờ.
Ngoài sự phân chia giai cấp, cô còn chống lại sự thống trị gia trưởng, chống lại những
người tin rằng phụ nữ luôn thấp hèn hơn nam giới và cũng đối xử với họ như vậy. Ba nhân
vật nam giới Brocklehurst, Edward Rochester và St.John River là ba nhân vật trung tâm thử
thách phẩm giá và mong muốn bính đẳng của Jane Eyre.
Tiểu kết
- Tần suất và tỉ lệ màu sắc đỏ / đen mà luận văn đã chỉ ra cho thấy Jane Eyre là một tác
phẩm mang gam màu trầm, gay gắt và buồn thảm.
- Ý nghĩa, nội dung của chúng cũng như những hính ảnh, ẩn dụ,… cho thấy chiều sâu
Giáo dục, Hà Nội.
4. Charlote Brontë (2010), Jane Eyre, Trần Anh Kim dịch, Nxb. Văn học, Hà Nội.
5. Charlote Brontë (2005), Jane Eyre, Nxb. Văn học, Hà Nội.
6. Charlote Brontë (2010), Jane Eyre, Wordsworth Classis, Anh.
7. M.Bakhtin (2003), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, (Phạm Vĩnh Cư dịch), Nxb. Hội
nhà văn, Hà Nội.
8. Đặng Anh Đào (2001), Đổi mới tiểu thuyết phương Tây hiện đại, Nxb. Đại học Quốc
gia.
9. Đặng Anh Đào, Hoàng Nhân, Phùng Văn Tửu (2007), Văn học phương Tây, Nxb.
Giáo dục, Hà Nội.
10. Didier là tác giả của một số cuốn sách quan trọng : Le moi peau, Dunod, 1985;
Beckett et le psychanalyste (1992); Le corps de l’œuvre, tiểu luận phân tâm học về công việc
sáng tạo (Gall, 1981). (Chú thìch của E.Grossman trong bài).
11. Phan Quang Định (1999), (biên dịch) Giải mã các giấc mộng qua ánh sáng Phân tâm
học, Nxb. Trẻ, Hà Nội.
12. G.Genette, "Psycholecture", Figure I, Paris, Points-Seuil, 1976, tr. 133-138. (Chú
thìch của E.Grossman trong bài).
13. Sigmund Freud (2002), Phân tâm học nhập môn, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà
Nội.
14. Lê Bá Hán - Trần Đính Sử - Nguyễn Khác Phi (2004), Từ điển thuật ngữ văn học,
Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
15. Đặng Thị Hạnh, Proust và các đồng đẳng của ông: vài nét về kĩ thuật kể chuyện trong
tiểu thuyết Tây Âu đầu thế kỉ XX, Tạp chì Văn học, số 01/2002.
16. Đào Duy Hiệp (2008), Phê bính văn học từ lý thuyết đến hiện đại, Nxb. Giáo dục.
17. Đỗ Đức Hiểu (1999), Đổi mới phê bính văn học, Phê bính - Tiểu luận, Nxb. Khoa học
Xã hội và Nxb. Mũi Cà Mau.
18. Đỗ Đức Hiểu (2000), Thi pháp hiện đại, Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội.
19. Milan Kundera, Đối thoại về nghệ thuật tiểu thuyết (Trịnh Y Thư dịch),
www.nhanvan.com.
20. E.M.Meletinsky (2004), Thi pháp của huyền thoại, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.