LỜI CẢM ƠN
Trong cuộc sống không có sự thành công nào mà không gắn liền
với những sự hỗ trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián
tiếp của người khác. Từ khi bắt đầu học tập tại giảng đường đại học
đến nay em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý
thầy cô, gia đình và bạn bè.
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi đến quý thầy cô đang
công tác tại trường Đại học Thương Mại, đặc biệt là các thầy cô thuộc
khoa Kinh tế-Luật đã cùng với tri thức và tâm huyết của mình tận
tình dạy dỗ, chỉ bảo và truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho em
trong suốt bốn năm học vừa qua tại trường.
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp,
em đã nhận được sự hướng dẫn và chỉ bảo tận tình của Ths. Nguyễn
Thái Trường. Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới thầy đã giúp
em hoàn thành bài khóa luận này. Nếu không có những lời hướng
dẫn, dạy bảo của thầy thì bài khóa luận của em rất khó hoàn thiện
được. Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn thầy.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến toàn thể bạn bè, gia
đình và người thân-những người đã động viên, giúp đỡ em trong suốt
quá trình học tập và hoàn thành khóa luận.
Bài khóa luận được thực hiện trong vòng hơn hai tháng. Bước
đầu đi vào thực tế, tìm hiểu về lĩnh vực pháp luật, kiến thức của em
còn hạn chế và còn nhiều bỡ ngỡ. Do vậy, không tránh khỏi những
thiếu sót, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu
của quý thầy cô và các bạn đọc để kiến thức của em trong lĩnh vực
này được hoàn thiện hơn.
Sau cùng, em xin kính chúc quý thầy cô đang công tác tại
trường Đại học Thương Mại thật dồi dào sức khỏe, niềm tin để tiếp
tục thực hiện sứ mệnh cao đẹp của mình là truyền đạt kiến thức cho
thế hệ mai sau.
Em xin chân thành cảm ơn.
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài khóa luận.
Đường lối đổi mới từ đại hội VI do Đảng cộng sản Việt Nam khởi
xướng và lãnh đạo đã khơi dậy và phát huy được những tiềm năng
vật chất, tinh thần to lớn của toàn dân tộc, đem lại những thành tựu
có ý nghĩa vô cùng quan trọng, tạo tiền đề kinh tế xã hội đưa nước ta
sang thời kì mới - đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong
các quan điểm của Đảng, đổi mới về mặt kinh tế là một trong những
vấn đề được ưu tiên hàng đầu vì nó được coi là bước đệm, là đòn bẩy
cho quá trình đổi mới sâu sắc, toàn diện trên mọi lĩnh vực. Do vậy,
việc chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam từ chỗ vận hành theo cơ chế
tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần, vận
hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước đề ra tại đại
hội Đảng VI được coi là một bước đi hoàn toàn hợp lý. Thực tiễn gần 20
năm đổi mới ở Việt Nam cho thấy chúng ta phải áp dụng nhiều hình
thức kinh tế tư bản, coi đó là hình thức kinh tế trung gian quá độ, là
con đường dẫn dắt nền tiểu sản xuất đi lên XHCN một cách hữu hiệu
nhất.
Mô hình công ty cổ phần (CTCP) là một hình thức tổ chức kinh
tế phổ biến của nền kinh tế TBCN khi lực lượng sản xuất đạt trình độ
xã hội hóa cao. Ra đời đầu tiên ở Vương quốc Anh vào đầu thế kỉ
XVII, với những lợi thế của mình trong việc huy động và sử dụng vốn
hiệu quả, công ty cổ phần đang trở nên phổ biến ở nhiều nước trên
thế giới, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia.
Nhận thức được tính tất yếu của việc xây dựng mô hình công ty cổ
phần trong nền kinh tế, Luật công ty năm 1990 của Việt Nam được
ban hành nhằm điều chỉnh hoạt động của các loại hình doanh
nghiệp, trong đó có công ty cổ phần. Tiếp đó là sự ra đời của Luật
Doanh nghiệp năm 1999 và 2005, nhằm sửa đổi, bổ sung những hạn
chế của các luật ban hành trước đó. Tuy nhiên, do hình thức kinh
hiện hành.
Khóa luận tốt nghiệp “Pháp luật về công ty cổ phần theo luật
doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 trong quan hệ so sánh với công ty
cổ phần theo luật thương mại Nhật Bản” của tác giả Dương Thị Mến
(2006) Trường Đại học Ngoại thương bàn về những điểm tiến bộ mà
luật của Việt Nam đã đạt được với vị thế là người đi sau cũng như
những gì cần phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung để Luật Doanh nghiệp
(LDN) của Việt Nam được thực thi có hiệu quả.
Bài viết “Điều kiện cấp giấy chứng nhận kinh
doanh”(Tailieu.vn) theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005
tại điều 24 quy định về điều kiện cấp giấy chứng nhận kinh doanh và
tại khoản 4, Nghị định 88/2006/NĐ-CP về đăng kí kinh doanh. Đặc
6
6
biệt so với Luật Doanh nghiệp 1999 thì Luật Doanh nghiệp 2005 quy
định cụ thể chi tiết hơn về tên doanh nghiệp, trong đó cách đặt tên
cho doanh nghiệp, những trường hợp cấm về cách đặt tên doanh
nghiệp, đặt tên doanh nghiệp trong trường hợp tên doanh nghiệp
viết bằng tiếng nước ngoài, tên viết tắt của doanh nghiệp và những
trường hợp trùng tên và tên gây nhầm lẫn. Cụ thể được quy định từ
điều 31 đến điều 34 Luật doanh nghiệp 2005.
Đề án: “Một cửa liên thông” trong việc thực hiện cải cách hành
chính thành lập doanh nghiệp: Cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh, cấp giấy phép khắc dấu, giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu,
cấp mã số thuế tại Thành phố Hà Nội. Các sở, ban, ngành thực hiện
là: Sở Kế hoạch và Đầu tư, Công an Thành phố, Cục Thuế Hà Nội, Sở
Nội vụ, Sở Tài chính . Nội dung cơ bản để xây dựng Đề án “Một cửa
liên thông” trong việc thực hiện cải cách thủ tục hành chính thành
lập doanh nghiệp tại địa bàn Hà Nội. Đề án này nêu lên những cơ sở
pháp lý, nguyên tắc giải quyết các công việc, quy trình giải quyết
3. Xác lập và tuyên bố đề tài nghiên cứu.
- Phân tích các quy định pháp luật về thủ tục thành lập công ty cổ
phần.
- Đánh giá thực trạng pháp luật về thủ tục thành lập công ty cổ phần.
- Đề ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thủ tục thành lập công
ty cổ phần.
4. Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu.
4.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quy phạm pháp luật
liên quan đến thủ tục thành lập công ty cổ phần được quy định trong
Luật Doanh nghiệp 2005, Luật đầu tư 2014, Nghị định số
43/2010/NĐ-CP của chính phủ về đăng ký doanh nghiệp và các văn
bản hướng dẫn thi hành.
4.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Tiếp cận các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến các thủ
tục thành lập CTCP hiện nay, từ đó có căn cứ để xác định các trường
hợp được thành lập và đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện các
quy định pháp luật về thủ tục thành lập CTCP. Xuất phát từ nhu cầu
thực tiễn và lý luận của nền luật học nước ta, khóa luận đặt ra mục
đích nghiên cứu các vấn đề lý luận về thủ tục thành lập CTCP trong
LDN, qua đó đưa ra những định hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện
quy định pháp luật về vấn đề này.
Thực hiện một bước về cải cách thủ tục hành chính nhằm tạo
điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và mọi công dân tham gia khởi
sự doanh nghiệp. Đơn giản hóa các thủ tục hành chính, rút ngắn thời
gian khai sinh doanh nghiệp và đưa doanh nghiệp vào hoạt động
kinh doanh. Đồng thời tăng cường hiệu quả quản lý của nhà nước
trước và sau khi đăng ký kinh doanh.
8
8
Phương pháp so sánh: so sánh những quy định về thủ tục thành
lập công ty cổ phần trong Luật Doanh nghiệp 2005 với Luật Thương
Mại Nhật Bản, các văn bản pháp luật Quốc tế có quy định về thủ tục
thành lập công ty cổ phần để từ đó thấy được những hạn chế, tích
cực của pháp luật về thủ tục thành lập công ty cổ phần trong Luật
9
9
Doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay.
Phương pháp liệt kê: liệt kê tất cả các văn bản pháp luật có liên
quan đến thủ tục thành lập công ty cổ phần, để phân tích và làm căn
cứ cho phần lý luận.
Phương pháp tổng hợp: đưa ra một cái nhìn tổng quan về hệ
thống pháp luật điều chỉnh về thủ tục thành lập công ty cổ phần Luật
Doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay.
6. Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và
phụ lục, khóa luận có kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật điều
chỉnh thủ tục thành lập công ty cổ phần.
Chương 2: Thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam về
thủ tục thành lập công ty cổ phần. Thực tiễn áp dụng tại Trung tâm
tư vấn pháp lý.
Chương 3: Một số kiến nghị góp phần hoàn thiện và nâng cao
hiệu quả thực thi pháp luật về thủ tục thành lập công ty cổ phần.
10
10
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU
CHỈNH THỦ TỤC THÀNH LẬP CÔNG TY CỔ PHẦN
Việt Nam đang ngày càng phát triển kinh tế - xã hội và hòa
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động theo hình thức công ty
cổ phần (bao gồm các công ty cổ phần của nước ngoài vào Việt Nam
11
11
hoạt động và các công ty của nước ngoài hoạt động ở Việt Nam được
chuyển đổi thành công ty cổ phần), công ty cổ phần mới thành lập
(gồm cả công ty của Nhà nước và các công ty của tổ chức, cá nhân
ngoài Nhà nước) và công ty cổ phần do cổ phần hóa doanh nghiệp
Nhà nước. Tất cả các loại hình công ty cổ phần trên mới chỉ thực sự
bắt đầu ở Việt Nam từ những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước
hoặc mới có gần đây xong đã có những đóng góp không nhỏ cho nền
kinh tế Việt Nam.
Tóm lại, chặng đường kể từ khi xuất hiện và bắt đầu phát triển
của tất cả các loại hình công ty cổ phần ở Việt Nam là tương đối
ngắn (khoảng 15 năm) song các công ty này đã có những sự đóng
góp thiết thực vào nền kinh tế nước ta.
Thực tế, Luật Doanh nghiệp 2005 đã có sự tiến bộ đặc biệt khi
đưa ra định nghĩa cụ thể về công ty cổ phần trong LDN năm 1999
(Điều 51) và được nhắc lại trong LDN năm 2005 (Điều 77) như sau:
“ 1. Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
b) Có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không
hạn chế số lượng tối đa;
c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản
khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh
nghiệp;
d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho
người khác, trừ cổ phần ưu đãi biểu quyết thì không được chuyển
nhượng và cổ phần của cổ đông sáng lập chỉ được chuyển nhượng
hạn chế (theo khoản 3 điều 81 và khoản 5 điều 84);
Quyền sở hữu cổ phần là căn cứ xác lập tư cách cổ đông của
các thành viên. Cổ đông của CTCP thường rất lớn về số lượng và
không quen biết nhau. Là loại hình đặc trưng cho công ty đối vốn
nên công ty cổ phần có sự liên kết của nhiều thành viên.
• Về vốn:
Vốn điều lệ CTCP là tập hợp các phần vốn do các cổ đông góp
và được ghi vào Điều lệ công ty. Vốn điều lệ của công ty được chia
thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Giá trị mỗi cổ phần gọi
là mệnh giá cổ phần và được phản ánh trong cổ phiếu. Một cổ phiếu
có thể phản ánh mệnh giá của một hoặc nhiều cổ phần. Việc góp vốn
vào công ty được thực hiện bằng cách mua cổ phần, mỗi cổ đông có
thể mua nhiều cổ phần.
Việc tạo lập vốn trong CTCP cũng giống như các công ty khác,
cũng bao gồm các hình thức truyền thống như tạo lập vốn từ nguồn
vốn chủ sở hữu và từ nguồn tín dụng. Tuy nhiên, trong CTCP có một
số điểm khác biệt là được phép phát hành cổ phiếu – hình thức tạo
lập vốn từ nguồn vốn chủ sở hữu. Đây là điểm thuận lợi nhất đối với
riêng CTCP mà các hình thức công ty khác không có. Trong trường
hợp có nhu cầu vốn chủ sở hữu doanh nghiệp có thể sử dụng hình
13
13
thức này để tạo lập vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy
nhiên việc phát hành cổ phiếu phải được sự thông qua của các cấp
có liên quan.
Ở CTCP, các cổ đông được quyền tự do chuyển nhượng cổ phần
của mình cho người khác, trừ cổ phần ưu đãi biểu quyết và cổ phần
phổ thông của các sáng lập viên trong ba năm đầu kể từ ngày công
ty được cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh.
Theo Luật Doanh Nghiệp 2005 vốn điều lệ của CTCP do các cổ
đông sáng lập tự thỏa thuận và ghi vào điều lệ của công ty. Nhưng
động của mình, công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công
ty; với tư cách là một pháp nhân, thông quan đại diện của mình,
công ty có thể trở thành nguyên đơn hoặc bị đơn dân sự trong các
quan hệ của mình, và với tư cách là một pháp nhân, công ty có
quyền sở hữu tài sản riêng còn các cổ đông chỉ được sở hữu cổ phần
công ty mà không có bất cứ quyền sở hữu nào đối với tài sản của
công ty.
• Về cơ cấu tổ chức và quản lý:
CTCP ở Việt Nam phải có Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ), Hội
đồng quản trị (HĐQT), Giám đốc (Tổng giám đốc) và Ban kiểm soát
(đối với CTCP có trên 11 cổ đông).
- ĐHĐCĐ là cơ quan quyết định cao nhất của công ty. Đại hội đồng
gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết. Đại hội đồng gồm:
+ Đại hội đồng thành lập được triệu tập để tiến hành các thủ
tục thành lập, thảo luận và thông qua Điều lệ công ty. Đại hội đồng
thành lập phải có nhóm cổ đông đại diện cho ít nhất ¾ số vốn điều lệ
của công ty và biểu quyết theo đa số phiếu quá bán.
+ Đại hội đồng bất thường được triệu tập để sửa đổi Điều lệ
công ty.
+ Đại hội đồng thường được triệu tập vào cuối mỗi năm tài
chính hoặc bất kỳ lúc nào mà HĐQT hoặc kiểm soát viên thấy cần
thiết, để giải quyết các công việc thuộc hoạt động kinh doanh của
công ty trong khuôn khổ điều lệ, trong đó có các việc chủ yếu như:
quyết định phương hướng, nhiệm vụ phát triển công ty và kế hoạch
kinh doanh hằng năm, thảo luận và thông qua bản tổng kết năm tài
chính, bầu, bãi nhiệm thành viên HĐQT và Kiểm soát viên, quyết
định số lợi nhuận thích hợp, các quỹ của công ty, số lợi nhuận chia
cho các cổ đông…
- HĐQT là cơ quan quản lý của công ty gồm không ít hơn 5 thành viên
và không quá 11 thành viên. HĐQT có toàn quyền nhân danh công ty
theo hướng áp dụng phổ biến đăng ký kinh doanh thay thế cho chế
độ cấp phép. Đăng ký kinh doanh là sự ghi nhận về mặt pháp lý sự ra
đời của một doanh nghiệp. Sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh thì doanh nghiệp mới có được tư cách chủ thể để tham
gia hoạt động trên thị trường.
Theo quy định mới của Luật doanh nghiệp và các văn bản
hướng dẫn liên quan: Thủ tục thành lập công ty cổ phần được chia
làm 03 giai đoạn đó là “Chuẩn bị thông tin, tài liệu”, “Thực hiện thủ
tục hành chính” và “Hoàn thành thủ tục sau thành lập” để hình
thành nên CTCP.
- “Thủ tục 1 cửa”: Phương thức giải quyết thủ tục hành chính tại cơ
quan nhà nước theo cơ chế “một cửa”.
- “Thủ tục 1 cửa liên thông”: Phương thức phối hợp giữa các cơ quan
16
16
nhà nước có nhiệm vụ giải quyết thủ tục hành chính có liên quan với
nhau, nhằm giảm thời gian chờ đợi giải quyết thủ tục, giảm thiểu số
lượt đi lại để tiến hành các thủ tục cho doanh nghiệp.
- “Hỗ trợ đăng ký qua mạng”: Phương thức tiếp nhận hồ sơ hành chính
qua mạng Internet, tiến hành một số giao dịch giữa cơ quan nhà
nước với doanh nghiệp qua mạng.
- “Các bước thực hiện để thành lập doanh nghiệp”:
Loại trừ các yếu tố ý tưởng kinh doanh, khảo sát và đánh giá thị
trường…, thì khi thành lập doanh nghiệp phải trải qua các bước cơ
bản sau:
• Đăng ký kinh doanh
• Đăng ký khắc dấu và xin cấp giấy phép sử dụng con dấu
• Xin cấp mã số thuế và mua (In) hóa đơn
• Mở tài khoản giao dịch tại ngân hàng
• Có địa điểm để làm trụ sở hoặc xây cơ sở sản xuất
quy định về đăng ký kinh doanh, khắc dấu và giấy phép sử dụng con
dấu, cấp mã số thuế đã thể hiện rõ ý chí của Đảng Cộng sản Việt
Nam trong việc đưa nền kinh tế đất nước ta đi theo hướng nhiều
thành phần nhưng vẫn phải định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều này
đã tạo điều kiện thuận lợi cho các thủ tục hành chính diễn ra nhanh
chóng, đơn giản và hiệu quả. Một trong các thủ tục góp phần lớn vào
công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là thủ tục đăng ký
kinh doanh thành lập công ty cổ phần. Với sự phát triển không ngừng
của nền kinh tế thế giới cũng như quốc gia, nhu cầu thành lập công
ty cổ phần – loại hình công ty phổ biến trong nền kinh tế TBCN khi
lực lượng sản xuất đạt trình độ cao ngày càng phổ biến ở nhiều nước
trên thế giới, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc gia,
trong đó có Việt Nam. Trước tình hình đó, để thúc đẩy sự phát triển
của nền kinh tế một cách vững mạnh thì Nhà nước cần ban hành các
văn bản pháp luật điều chỉnh các thủ tục thành lập CTCP một cách
công khai, minh bạch và hiệu quả.
• Cơ sở kinh tế
Pháp luật có tính độc lập tương đối. Một mặt pháp luật phụ
thuộc vào kinh tế; mặt khác pháp luật lại có sự tác động trở lại một
cách mạnh mẽ đối với kinh tế. Sự phụ thuộc của pháp luật vào kinh
tế thể hiện ở chỗ nội dung của pháp luật là do các quan hệ kinh tế xã
hội quyết định, chế độ kinh tế là sơ sở pháp luật. Sự thay đổi của chế
độ kinh tế - xã hội sớm hay muộn cũng sẽ dẫn đến sự thay đổi của
pháp luật. Pháp luật luôn luôn phản ánh trình độ phát triển của chế
độ kinh tế, nó không thể cao hơn hoặc thấp hơn trình độ phát triển
đó. Trong quá trình phát triển của xã hội, lực lượng sản xuất dư thừa
làm cho năng suất lao động tăng lên, xã hội có của cải dư thừa hình
thành giai cấp, các tập quán trở lên bất lực trong việc điều chỉnh các
quan hệ xã hội. Sự hình thành giai cấp và đấu tranh giai cấp không
điều hòa được thì cũng với nhà nước pháp luật cũng ra đời. Như vậy,
nền văn hóa mang tính cộng đồng, có nguyên tắc được sự tôn trọng
của mọi người dân.
Tuy vậy, văn hóa pháp lý nước ta còn ở trình độ thấp, mặt bằng
dân trí và dân trí pháp lý thấp, ý thức tôn trọng pháp luật và tính chủ
động sử dụng pháp luật còn hạn chế, ảnh hưởng của các phong tục,
tập quán lạc hậu và lối sống cũ rất nặng nề, ảnh hưởng của cơ chế
quản lý cũ về tư duy và cách ứng xử còn rất lớn như tư duy quan
liêu bao cấp, cơ chế xin cho, tùy tiện, bừa bãi trong hành xử, các tệ
nạn tham ô, tham nhũng, hủ hóa, suy đồi về đạo đức, lối sống đạo
19
19
đức giả, đồi bại, mị dân hết sức bại hoại của lãnh đạo, đảng viên, cán
bộ, công chức, viên chức Trong một số thủ tục như xin cấp giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh, xin cấp dấu,… còn bộc lộ nhiều hạn
chế cần phải được khắc phục để đảm bảo tính công bằng cho mọi
chủ thể.
1.2.2. Nội dung cơ bản của pháp luật điều chỉnh thủ tục
thành lập công ty cổ phần
Thủ tục thành lập CTCP ngày càng được siết chặt hơn bởi nhà
nước về vấn đề hoạt động doanh nghiệp, theo đó khi tiến hành thành
lập doanh nghiệp cũng cần cẩn trọng hơn.
Thủ tục thành lập công ty cổ phần theo quy định của Luật
Doanh nghiệp:
“1. Chuẩn bị thông tin
- Lựa chọn trụ sở chính hợp pháp: Hiện tại thủ tục đặt in hóa
đơn công ty đã được thắt chặt, theo đó có phát sinh việc kiểm tra địa
điểm trong thủ tục đăng ký đặt in hóa đơn. Vì vậy cần lựa chọn địa
chỉ trụ sở có đủ giấy tờ và đủ điều kiện.
- Lựa chọn mức vốn: Từ 01/03/2014 không được góp vốn bằng
tiền mặt do đó khi lựa chọn mức vốn cần lưu ý khả năng góp vốn của
nghiệp 2005 thì việc hoàn thiện thủ tục thành lập doanh nghiệp cũng
không ngừng được nhà nước Việt Nam quan tâm. Nhưng có lẽ “đỉnh
cao” của thành tựu cải cách thủ tục thành lập doanh nghiệp ở Việt
Nam đó chính là sự ra đời của Nghị định số 43/2010/NĐ-CP. Nghị định
43/2010/NĐ-CP đã tạo ra một bước ngoặt mới trong tiến trình cải
cách thủ tục hành chính đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
của Việt Nam, khi mà lần đầu tiên sau hơn 20 năm phát triển kinh tế
thị trường với sự ra đời của các doanh nghiệp dân doanh Nhà nước
Việt Nam đã chính thức thống quy trình ĐKKD với đăng kí thuế theo
hướng giảm sự phiền hà cho nhà đầu tư. Cải cách này đã đưa thủ tục
thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam ”tiệm cận” với quy định pháp
luật tương đồng nhiều quốc gia khác trên thế giới, thậm chí có thể
còn tốt hơn. Theo quy định tại Nghị định 43/2010/NĐ-CP thì nhà đầu
tư không cần thiết phải tiến hành thủ tục ĐKDN trực tiếp bằng hồ sơ
giấy như trước mà hiện tại nhà đầu tư có thể ĐKDN trực tuyến qua
Cổng thông tin đăng kí doanh nghiệp quốc gia. Như vậy, quy trình
thành lập DN tại Nghị định 43/2010/NĐ-CP là đi theo hướng tập trung
tại một cơ quan đầu mối là Phòng ĐKKD cấp tỉnh (Sở Kế hoạch & Đầu
tư), chứ không phân tán buộc DN phải liên hệ với nhiều cơ quan khác
21
21
nhau như trước thời điểm ngày 01/06/2010. Điều này phù hợp với
cách thức ĐKDN mà nhiều quốc gia trên thế giới đã tiến hành.
1.3. Nguyên tắc của pháp luật điều chỉnh thủ tục thành
lập công ty cổ phần.
Theo Điều 4, Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/04/2010 của
Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp quy định nguyên tắc áp dụng giải
quyết thủ tục đăng ký doanh nghiệp:
1. Người thành lập doanh nghiệp tự kê khai hồ sơ đăng
ký doanh nghiệp và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính
quy định của pháp luật hiện hành.
- Doanh nghiệp nộp hồ sơ đăng ký kinh doanh; hồ sơ khắc dấu; hồ sơ
đăng ký thuế và nhận giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; giấy
phép khắc dấu, con dấu, giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu; giấy
chứng nhận đăng ký thuế tại bộ phận tiếp nhận và trả hồ sơ theo cơ
chế 1 cửa liên thông tại một địa điểm.
- Phương án được lựa chọn phải đảm bảo yêu cầu trước mắt vừa là
tiền đề để thực hiện cải cách thủ tục hành chính ‘1 cửa liên thông’
triệt để hơn, hiện đại hơn.
Tóm lại, trên cơ sở LDN 2005, chúng ta cần xem xét 1 số vấn
đề xoay quanh các quy định về thủ tục thành lập CTCP mà các chủ
thể có nhu cầu hiện nay đang gặp phải, qua đó tìm ra giải pháp khắc
phục cho từng tình huống cụ thể.
23
23
Chương 2
THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
VỀ THỦ TỤC THÀNH LẬP CÔNG TY CỔ PHẦN. THỰC TIỄN ÁP
DỤNG TẠI TRUNG TÂM TƯ VẤN PHÁP LÝ.
Trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa với sự tham gia của các doanh nghiệp thuộc nhiều
thành phần kinh tế khác nhau thì việc thành lập và nâng cao hiệu
quả hoạt động của các công ty cổ phần là vấn đề được Đảng và Nhà
nước ta đặc biệt quan tâm. LDN 2005 đã thực sự đi vào cuộc sống,
nó đã thực sự cởi mở với các doanh nghiệp, tạo ra bước tiến mới
thuận lợi hơn để các tổ chức, cá nhân thành lập CTCP một cách dễ
dàng, nhưng vẫn còn có những bất cập trong việc cải tạo môi trường
thuận lợi cho doanh nghiệp đăng ký kinh doanh và hoạt động sau
đăng ký kinh doanh.
2.1. Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến
thức cũ.
Tuy nhiên, doanh nghiệp hiện nay phải khai nhiều hồ sơ, thậm
chí có nhiều nội dung bị trùng chéo nhau, nhưng chưa có liên thông
trong việc trao đổi dữ liệu tin học về đăng ký kinh doanh trước cho
Công an Tỉnh/Thành phố và Cục Thuế.
Trên thực tế, việc thực hiện các thủ tục hành chính trong các cơ
quan quản lý chức năng đã có những cải tiến thiết thực được cộng
đồng doanh nghiệp ghi nhận, nhưng vẫn còn có những bất cập, đôi
khi gây bức xúc cho doanh nghiệp tham gia thị trường.
2.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến thực tiễn thực hiện thủ
tục thành lập công ty cổ phần.
Thứ nhất, văn hóa pháp luật có ảnh hưởng sâu rộng đến thực
tiễn thực hiện thủ tục thành lập công ty cổ phần, từ tuân thủ chấp
hành, sử dụng cho đến áp dụng pháp luật. Văn hóa pháp luật được
biểu hiện ra trong đời sống pháp luật thông qua quá trình thực hiện
thủ tục thành lập CTCP, mà biểu hiện cụ thể, trực tiếp là hành vi
chuẩn bị thông tin, tài liệu và thực hiện thủ tục hành chính để thành
lập CTCP.
Thứ hai, các yếu tố truyền thống cũng có ảnh hưởng không
nhỏ đến hoạt động thực hiện thủ tục thành lập CTCP trong giai đoạn
hiện nay. Các phong tục tập quán trong cộng đồng xã hội có ảnh
hưởng nhất định đến hoạt động thực hiện pháp luật của các tầng lớp
nhân dân: trình độ dân trí còn thấp, thói hư tật xấu và tệ nạn xã hội
phát sinh, tính tích cực chính trị xã hội của mỗi người dân còn hạn
chế Những hiện tượng trên đây gây khó khăn cho việc thực hiện
pháp luật một cách đúng đắn, đồng thời dễ dẫn tới các hành vi phạm
tội, coi thường kỷ cương phép nước, cần phải có biện pháp nghiêm
25
25