Pháp luật về thủ tục phá sản doanh nghiệp lào và việt nam dưới góc độ so sánh (luận văn thạc sĩ luật học) - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

THIPPHACHAN SIOUDOMPHAN

PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP
LÀO VÀ VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ SO SÁNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số

: 60.38.01.07

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN VIẾT TÝ

HÀ NỘI- NĂM 2016


LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo Trường
Đại học Luật Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô giáo Khoa sau Đại học và Khoa
Luật Kinh tế đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên
cứu chương trình thạc sĩ luật học tại trường.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất của mình đến người
hướng dẫn khoa học PGS.TS. Nguyễn Viết Tý, người đã tận tâm, nhiệt tình
chỉ bảo và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã luôn động

: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

DN

: Doanh nghiệp

DN, HTX

: Doanh nghiệp, hợp tác xã

HNCN

: Hội nghị chủ nợ

TCTD

: Tổ chức tín dụng

TTPS

: Thủ tục phá sản

VKSND

: Viện kiểm sát nhân dân

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa



7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

5

8. Bố cục (các chương) của luận văn

6

CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁ SẢN VÀ THỦ TỤC PHÁ SẢN
DOANH NGHIỆP

1.1. Khái niệm, đặc điểm của phá sản
1.1.1. Khái niệm phá sản
1.1.2. Đặc điểm của phá sản

7
7
7
10

1.2. Khái quát về thủ tục phá sản

11

1.2.1. Khái niệm thủ tục phá sản

11

1.2.2. Đặc điểm của thủ tục phá sản

yêu cầu phá sản

20

2.1.3. Những điểm tương đồng trong trình tự giải quyết yêu cầu phá sản 24
2.2. Những điểm khác biệt về thủ tục phá sản doanh nghiệp theo pháp
luật phá sản Lào và pháp luật phá sản Việt Nam hiện hành

29

2.2.1. Sự khác biệt trong những quy định về thẩm quyền giải quyết yêu
cầu phá sản

29

2.2.2. Sự khác biệt trong quy định về chủ thể tham gia quá trình giải
quyết yêu cầu phá sản

30

2.2.3. Sự khác biệt trong trình tự giải quyết yêu cầu phá sản

35

2.2.4. Trình tự giải quyết yêu cầu phá sản trong trường hợp đặc biệt

48

2.3. Một số nhận xét, đánh giá rút ra từ việc so sánh thủ tục phá sản
doanh nghiệp giữa pháp luật phá sản Lào và pháp luật phá sản Việt

KẾT LUẬN

76

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

78


7
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tự do cạnh tranh và phá sản là những thuộc tính vốn có của kinh tế thị
trường. Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp nào không đáp ứng được
những đòi hỏi nghiệt ngã của thương trường, của sức ép cạnh tranh sẽ bị đào
thải. Để loại bỏ những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ kéo dài, mất khả năng thanh
toán các khoản nợ đến hạn, đồng thời phòng ngừa, khắc phục những hậu quả, rủi
ro mà những doanh nghiệp này có thể gây ra cho nền kinh tế, mỗi quốc gia đều
phải xây dựng và thực thi một cơ chế phá sản có hiệu quả. Tuy nhiên, do tính
chất nhạy cảm và mức độ ảnh hưởng rộng tới nhiều đối tượng khác nhau trong
đời sống kinh tế nên cơ chế phá sản luôn đòi hỏi sự can thiệp mềm dẻo, linh hoạt
của Nhà nước, phù hợp với những yêu cầu thực tiễn mà hoạt động kinh doanh
đặt ra. Tuyên bố phá sản một con nợ chỉ là giải pháp cuối cùng nếu việc tái cấu
trúc lại con nợ không đạt được kết quả thông qua thủ tục phá sản.
Trong bối cảnh Việt Nam và Lào đang đẩy mạnh công cuộc hội nhập
kinh tế quốc tế. Pháp luật phá sản của hai nước cũng đang từng bước được
hoàn thiện để phù hợp với công cuộc hội nhập này.
Luật Phá sản là một đạo luật dành cho sự thất bại trong kinh doanh.
Cầu viện tới thủ tục phá sản là điều không hề mong muốn của giới thương
nhân. Tuy nhiên, pháp luật phá sản lại là một bộ phận vô cùng quan trọng nếu

viết như: “Đi tìm triết lý của Luật phá sản” của PGS.TS Phạm Duy Nghĩa;
“Luật phá sản năm 2004 với việc cải thiện môi trường kinh doanh tại Việt
Nam” của PGS.TS Dương Đăng Huệ; “Một số ý kiến về dự thảo Luật phá sản
(sửa đổi)” của PGS.TS Dương Đăng Huệ - Cao Đăng Vinh…; cho tới các
khóa luận tốt nghiệp bậc cử nhân, luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ đã bảo vệ


9
thành công. Tuy nhiên, các công trình và bài viết này chỉ đề cập đến những
nội dung cơ bản của thủ tục phá sản nói chung mà chưa nghiên cứu một cách
chuyên sâu, toàn diện và hệ thống về các khía cạnh pháp lý của thủ tục phá
sản trên cơ sở so sánh với pháp luật các nước, trong đó có CHDCND Lào.
Đặc biệt, từ khi Luật Phá sản Việt Nam (2014) có hiệu lực đến nay, mới chỉ
có một vài công trình nghiên cứu phân tích các quy định của Luật về thủ tục
phá sản, trong đó, chủ yếu đánh giá trong mối tương quan so sánh với Luật
Phá sản Việt Nam (2004), chứ chưa đánh giá, so sánh với pháp luật các nước
trên thế giới, đặc biệt là chưa có công trình nào so sánh nội dung thủ tục phá
sản của Luật Phá sản Việt Nam (2014) với Luật phá sản Lào (1994).
Ở nước CHDCND Lào, từ khi Luật phá sản Lào (1994) ra đời, đã có rất
nhiều công trình, bài viết đánh giá về nội dung các quy định của Luật, đặc
biệt, bước sang những năm đầu của thế kỷ XXI, khi nền kinh tế Lào có những
bước chuyển mình cùng thời đại, khi Lào xác định xây dựng nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thì yêu cầu sửa đổi Luật phá sản ngày
càng được quan tâm. Do đó, những công trình ra đời đánh giá những bất cập
trong các quy định của pháp luật và kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp
luật. Tuy nhiên, những công trình này còn lẻ tẻ dưới dạng các bài nghiên cứu,
nội dung chỉ đề cập tới một vài khía cạnh nhỏ trong thủ tục phá sản, và đặc
biệt, những bài viết này, chưa có điều kiện tìm hiểu sâu sắc kinh nghiệm của
các nước, đặc biệt là Việt Nam trong quá trình sửa đổi Luật phá sản.
Từ tình hình nghiên cứu trên, có thể nói, có thể nói, Đề tài “Pháp luật

cầu phá sản giữa sản giữa pháp luật phá sản Lào và pháp luật phá sản Việt
Nam hiện hành?


11
(2) Những điểm tương đồng và khác biệt về chủ thể tham gia quá trình
giải quyết yêu cầu phá sản giữa pháp luật phá sản Lào và pháp luật phá sản
Việt Nam hiện hành?
(3) Những điểm tương đồng và khác biệt trong trình tự giải quyết yêu cầu
phá sản giữa pháp luật phá sản Lào và pháp luật phá sản Việt Nam hiện hành?
(4) Những nhận xét, đánh giá nào được rút ra từ việc so sánh thủ tục
phá sản giữa pháp luật phá sản Lào và pháp luật phá sản Việt Nam hiện hành?
6. Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa MacLênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật bao gồm phương
pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các
văn kiện đại hội Đảng, quan điểm của Đảng và Nhà nước của cả CHXHCN
Việt Nam và CHDCND Lào đối với nền kinh tế nói chung và hoạt động của
doanh nghiệp nói riêng.
Các phương pháp cụ thể được vận dụng khi viết luận văn là phương
pháp phân tích, tổng hợp, chứng minh, hệ thống hoá pháp luật và phương
pháp luật học so sánh. Luận văn tiến hành tổng hợp và phân tích các quy định
trong các văn bản pháp luật của Lào dưới góc độ so sánh với pháp luật Việt
Nam về thủ tục phá sản để đánh giá thực trạng, những khó khăn, vướng mắc
trong việc giải quyết các doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Trên cơ sở
đó, luận văn sẽ đưa ra những kiến nghị về việc hoàn thiện các quy định về thủ
tục giải quyết phá sản doanh nghiệp ở Lào trong giai đoạn hiện nay. Sự vận
dụng một cách nhuần nhuyễn các phương pháp nghiên cứu cụ thể nêu trên sẽ
góp phần đưa đến thành công của luận văn.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật về thủ tục giải quyết



13
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁ SẢN VÀ THỦ TỤC PHÁ SẢN
DOANH NGHIỆP
1.1. Khái niệm, đặc điểm của phá sản
Để có một cái nhìn tổng quát nhất về khái niệm thủ tục phá sản, cần
phải đi từ khái niệm có liên quan, gắn bó mật thiết và là tiền đề cho khái niệm
thủ tục phá sản, đó là khái niệm “phá sản” hay còn gọi là khái niệm “doanh
nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn” hoặc khái niệm “doanh nghiệp
lâm vào tình trạng phá sản”.
1.1.1. Khái niệm phá sản
Trong nền kinh tế thị trường thì thuật ngữ “phá sản” (hay còn gọi là
“vỡ nợ”) xảy ra khá phổ biến, bởi nền kinh tế thị trường là nền kinh tế có sự
cạnh tranh rất khốc liệt, cộng với nguồn lực cho đầu tư kinh doanh, sản xuất
ngày càng trở nên khan hiếm. Tuy nhiên, thuật ngữ “phá sản” đã xuất hiện từ
trước khi nền kinh tế thị trường hình thành và phát triển như ngày nay.
Thuật ngữ “phá sản” được bắt đầu nhắc đến ở các nước châu Âu thời
kỳ La Mã cổ đại, nó được gọi là “Bankruptcy” hoặc “Banqueroute” có nguồn
gốc từ cụm từ “Banca Rotta” có nghĩa là “chiếc ghế bị gãy”, bởi lẽ ở thời kỳ
La Mã cổ đại, các thương gia thường tổ chức các “hội nghị thương gia”,
thương gia nào mất khả năng thanh toán nợ thì cũng đồng thời mất luôn
quyền tham dự hội nghị, vì vậy chiếc ghế mà thương ra đó ngồi tại hội nghị sẽ
bị đem ra khỏi hội trường. Các con nợ tại thời điểm đó thường “bỏ trốn” để
khỏi phải trả các khoản nợ. Trước tình hình đó, Nhà nước La Mã đã đứng ra
cưỡng chế tài sản của con nợ để thanh toán cho chủ nợ. Tuy nhiên, đây là
cách thức chỉ phù hợp khi con nợ chỉ nợ một chủ nợ. Còn nếu con nợ cùng
một lúc nợ và phải trả nợ cho nhiều người thì tranh chấp sẽ xảy ra (tranh chấp
xảy ra giữa các chủ nợ do tài sản của con nợ thường không đủ để thanh toán



15
- Luật Phá sản (1994) của nước CHDCND Lào, không sử dụng thuật
ngữ “phá sản” mà sử dụng thuật ngữ “doanh nghiệp mất khả năng thanh toán”
và tại Điều 2 của Luật này, định nghĩa về doanh nghiệp mất khả năng thanh
toán như sau: “Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp đang
đối mặt với khó khăn hay đang chịu thua lỗ trong hoạt động kinh doanh của
mình và đã sử dụng tất cả các biện pháp tài chính cần thiết nhưng không thể
giải quyết được các khoản nợ đến hạn”. Như vậy, Luật Phá sản (1994) của
nước CHDCND Lào định nghĩa về doanh nghiệp mất khả năng thanh toán
(hay phá sản) dựa trên quan điểm “định tính”. Đây là một điểm khác biệt rất
lớn giữa pháp luật phá sản hiện hành của nước CHDCND Lào và nước
CHXHCN Việt Nam.
- Luật Phá sản (2014) của Việt Nam lần đầu tiên đưa ra định nghĩa về
phá sản tại khoản 2 Điều 4 như sau: “Phá sản là tình trạng doanh nghiệp, hợp
tác xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố
phá sản” và để làm rõ hơn định nghĩa phá sản tại khoản 1 Điều 4 của Luật
này đưa ra định nghĩa thế nào là DN, HTX mất khả năng thanh toán: “Doanh
nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã
không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 3 tháng kể từ
ngày đến nợ thanh toán. Như vậy, đây là một thay đổi rất lớn về định nghĩa
phá sản (xây dựng được định nghĩa về phá sản) khi đi theo quan điểm “định
lượng” của Luật Phá sản (2014) của Việt Nam so với Luật Phá sản (2004) và
Luật Phá sản (1993).
Về bản chất, phá sản hay vỡ nợ xuất phát từ tình trạng mất khả năng
thanh toán các khoản nợ đến hạn phải trả của con nợ có liên quan. Do đó, nó
tạo nên nghĩa vụ của con nợ và quyền (truy đòi nợ) của các chủ nợ. Để giải
quyết tình trạng này, giữa chủ nợ và con nợ đã cùng nhau tìm ra những
phương thức giải quyết khác nhau: hoặc là tự giải quyết thông qua thương



17
Thứ tư, bản chất của việc mất khả năng thanh toán có thể không trùng
với biểu hiện bên ngoài là trả được nợ hay không. Nhiều doanh nghiệp không
trả được nợ nhưng điều này chỉ có tính chất nhất thời trong khi hoạt động của
doanh nghiệp vẫn diễn ra bình thường. Ngược lại, có những doanh nghiệp sự
trả nợ chỉ là trá hình, che đậy tình trạng tài chính tuyệt vọng của doanh
nghiệp, họ phải sử dụng nhiều cách thức gian trá để bù đắp ngân quỹ như vay
nặng lãi, thế chấp tài sản v.v..
1.2. Khái quát về thủ tục phá sản
1.2.1. Khái niệm thủ tục phá sản
Cũng như các thủ tục khác trong đời sống và pháp lý, TTPS là hoạt
động cần được tiến hành theo những trình tự nhất định để đạt được những kết
quả mong muốn của phá sản. Vậy thủ tục là gì? Thủ tục ở đây được hiểu là
“Cách thức đã định để thực hiện một hoạt động nhất định”1. Ngoài ra, cũng
có thể hiểu thủ tục là tổng hợp những buộc cần được thực hiện theo trình tự
nhất định để hoàn thành một hoạt động nào đó. Một doanh nghiệp lâm vào
tình trạng phá sản là hệ quả của việc sản xuất, kinh doanh không hiệu quả trên
thị trường. Từ thực tiễn đã hình thành những thủ tục rất đa dạng để giải quyết
tình trạng phá làm ăn thua lỗ của doanh nghiệp. Về cơ bản thì đây là những
thủ tục được xây dựng mang tính linh hoạt, mềm dẻo dựa trên cơ chế thị
trường, nhưng để bảo đảm hiệu quả thủ tục giải quyết doanh nghiệp lâm vào
tình trạng phá sản cần phải có sự can thiệp của Nhà nước.
Đứng dưới góc độ của các chủ nợ, có thể hiểu TTPS là tổng hợp các
bước mà doanh nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần phải thực hiện
theo trình tự nhất định để thanh toán các khoản nợ đến hạn khi đã rơi vào tình
trạng không còn khả năng chi trả khi được các chủ nợ yêu cầu. Do vậy, TTPS

1 Từ điển bách khoa Việt Nam (2011)., NXB. Từ điển Bách khoa



19
Nói tóm lại, về bản chất TTPS là thủ tục tư pháp được thực hiện bởi
Tòa án với tư cách là cơ quan tư pháp tiến hành, đối tượng của tố tụng phá
sàn là quan hệ pháp lý phát sinh giữa chủ nợ (bên có quyền được thanh toán)
và con nợ (bên có nghĩa vụ thanh toán). Do vậy, có thể hiểu TTPS như sau:
Thủ tục phá sản là thủ tục tư pháp đặc biệt do Tòa án tiến hành khi có
yêu cầu của người có quyền nộp đơn, nhằm giải quyết tranh chấp lợi ích về
tài sản phát sinh giữa chủ nợ và con nợ, do con nợ mất khả năng thanh toán
các khoản nợ đã đến hạn2.
1.2.2. Đặc điểm của thủ tục phá sản
Mặc dù là một thủ tục tố tụng nhưng TTPS khác với thủ tục giải quyết
vụ việc dân sự, kinh tế ở chỗ, TTPS được coi là một thủ tục tố tụng tư pháp
đặc biệt. Chính tính chất đặc biệt về thủ tục tố tụng mà TTPS có những đặc
điểm sau:
Thứ nhất, TTPS là một thủ tục đòi nợ tập thể, tại đó, tất cả các chủ nợ
liên kết với nhau để giải quyết vấn đề công nợ của những con nợ, vốn là các
chủ thể rơi vào trạng thái phá sản, thất bại trong việc hoàn lại các khoản vay.
Các chủ thể này có thể vẫn còn tài sản để thanh lý bù đắp cho các khoản vay
nhưng cá biết có những chủ thể không còn tài sản gì để bù đắp. Sở dĩ nói phá
sản là một thủ tục đòi nợ tập thể vì các chủ nợ của doanh nghiệp mất khả
năng thanh toán, trong quá trình giải quyết vụ việc phá sản, không tự xé lẻ ra
để đòi nợ riêng. Họ cùng tham gia vào một thiết chế chung để tiến hành đòi
nợ hay đảm bảo quyền lợi của mình, gọi là HNCN. Ngoài ra, khi giải quyết
vấn đề phá sản của doanh nghiệp, thì toàn bộ tài sản của doanh nghiệp đó
được bán thanh lý, đưa vào quỹ chung và trả cho các chủ nợ theo một thứ tự

2 Vũ Huy Hoàng (2015),



3 Vũ Huy Hoàng (2015), Thủ tục phá sản theo Luật Phá sản năm 2014, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường
Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.


21
phải trả đủ nợ, nghĩa là nợ bao nhiêu thì phải trả bấy nhiêu. Ngược lại, trong
việc thanh lý tài sản phá sản, nếu tài sản có lớn hơn hoặc bằng tài sản nợ thì
đương nhiên các chủ nợ được thanh toán đầy đủ, còn nếu số tài sản có nhỏ
hơn số tài sản nợ thì con nợ cũng chỉ dùng số tài sản đó để trả nợ mà thôi.
Phần nợ còn thiếu thì các chủ nợ phải chịu rủi ro theo tỷ lệ nhất định. Tuy
nhiên, nguyên tắc này không áp dụng với các doanh nghiệp có chế độ trách
nhiệm vô hạn như doanh nghiệp tư nhân hay công ty hợp danh.
Thứ năm, TTPS là một thủ tục pháp lý có tính chất tổng hợp và khá phức
tạp. Điều này thể hiện ở việc tòa án phải tham gia vào hầu hết các thủ tục giải
quyết phá sản, từ ra quyết định mở TTPS đến giám sát hoạt động của các doanh
nghiệp mất khả năng thanh toán, rà soát, xem xét phương án phục hồi hoạt động
kinh doanh, xử lý tài sản của doanh nghiệp có tranh chấp… Do đó, tố tụng phá
sản đòi hỏi phải có luật riêng và luôn là một thủ tục tố tụng tư pháp đặc biệt.
1.2.3. Nội dung pháp luật về thủ tục phá sản
Pháp luật về phá sản là tập hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh
những mối quan hệ xã hội phát sinh từ hoặc liên quan đến tình trạng phá sản
của doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh, như đã
phân tích ở trên, thường trải qua nhiều giai đoạn từ hình thành, phát triển,
hưng thịnh và tiêu vong. Khi gặp khó khăn, doanh nghiệp nào cũng phải tìm
kiếm giải pháp tháo gỡ để vượt qua. Để hạn chế những tác động tiêu cực cho
xã hội, cho chủ nợ, cho người lao động…, pháp luật phải đưa ra những quy
định, những nguyên tắc hướng dẫn doanh nghiệp sao cho tình trạng phá sản
được giải quyết theo một trật tự đã được luật hóa. Như vậy, pháp luật về phá

phá sản chưa ảnh hưởng đến doanh nghiệp này. Điều này có nghĩa là khi
chưa mở thủ tục phá sản thì doanh nghiệp này vẫn có thể bị chủ nợ bắt giữ,
truy đòi tài sản và thậm chí có thể bị chủ nợ áp dụng cả “luật rừng” để trừng


23
trị. Chỉ khi được Tòa án mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp con nợ mới chính
thức được pháp luật bảo vệ.
1.2.4. Vai trò của thủ tục phá sản
Để việc phá sản được tiến hành một cách có trật tự, đúng pháp luật thì
phá luật phá sản cần có những quy định cụ thể về trình tuệ, thủ tục tiến hành
phá sản DN. Những quy định này là cơ sở pháp lý để Tòa án tiến hành phá
sản DN, HTX, bảo đảm vụ việc được giải quyết đúng pháp luật.
Pháp luật phá sản ở cả Việt Nam và Lào được ban hành chậm so với
các nước trên thế giới và trong khu vực, nhưng đã góp phần quan trọng vào
việc hình thành một cơ chế pháp lý đồng bộ cho hoạt động xử lý nợ của các
DN, đảm bảo trật tự, kỹ cương trong lĩnh vực tài chính, làm cho môi trường
kinh doanh trở nên lành mạnh hơn, đồng thời cũng góp phàn hoàn thiện hệ
thống pháp luật kinh tế trong thời kỳ đổi mới.
Việc áp dụng đúng thủ tục phá sản sẽ đóng góp một vai trò quan trọng
trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của các chủ nợ và người lao động. Trong
kinh doanh, việc nợ nần lẫn nhau là hiện tượng bình thường, ít DN có thể
tránh khỏi. Khi có nợ thì chủ nợ đương nhiên được quyền đòi nợ thông quan
mọi hình thức, biện pháp khác nhau, trong đó có biện pháp khởi kiện ra Tòa
án. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, việc kiện tụng ra Tòa án không thể
giải quyết một cách thỏa đáng quyền lợi của các chủ nợ, nhất là khi con nợ
mất khả năng thanh toán. Pháp luật phá sản ra đời đã quy định về thủ tục phá
sản, một thủ tục đòi nợ đặc biệt của các chủ nợ. Có thể nói, điều mà các chủ
nợ lo ngại nhất là con nợ không thể trả lại các khoản nợ đã vai của mình. Tuy
nhiên, thông qua thủ tục phá sản, các doanh nghiệp có nguy cơ phá sản sản sẽ

4 Đồng Thái Quang (2004), “Thủ tục giải quyết phá sản theo luật phá sản (2004)”, Luận văn thạc sĩ luật
học, Trường địa học Luật Hà Nội, tr 17.


25
CHƯƠNG 2
SO SÁNH THỦ TỤC PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT
PHÁ SẢN LÀO VÀ VIỆT NAM HIỆN HÀNH
2.1. Những điểm tương đồng về thủ tục phá sản doanh nghiệp theo
pháp luật phá sản Lào và pháp luật phá sản Việt Nam hiện hành
2.1.1. Những điểm tương đồng về thẩm quyền giải quyết yêu cầu phá
sản
Theo thông lệ chung, cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên
bố phá sản doanh nghiệp là Tòa án. Tuy nhiên, do tổ chức hệ thống Tòa án và
cơ quan tài phán ở mỗi nước khác nhau nên việc giao cho tòa án nào giải
quyết yêu cầu tuyên bố phá sản không phải giống nhau. Ví dụ, ở hầu hết các
nước Châu Âu lục địa, thẩm quyền giải quyết phá sản thuộc về tòa thương
mại. Một số nước như Mỹ, Thụy Điển, Nam Tư… lại thành lập tòa phá sản
riêng. Có những nước như Nga thì việc giải quyết phá sản thuộc chức năng
của tòa án trọng tài. Ngược lại, ở Trung Quốc, Malaysia… tính chất của một
vụ phá sản được pháp luật coi như một vụ kiện dân sự nên thẩm quyền thuộc
về Tòa án dân sự.
Tương tự với thông lệ của các nước trên thế giới, cả Việt Nam và Lào
hiện nay đều quy định thẩm quyền giải quyết phá sản được quy định thuộc về
Tòa án nhân dân. Theo đó, trước đây, ở Việt Nam, Điều 30 Luật tổ chức
TAND (2002) quy định Tòa kinh tế TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương có nhiệm vụ và quyền hạn giải quyết việc phá sản theo quy định của
pháp luật. Tương tự như vậy, ở Lào, mặc dù Luật phá sản Lào (1994) chỉ
dùng thuật ngữ chung chung “Tòa án”, nhưng căn cứ vào những quy định của
Luật Doanh nghiệp Lào (2014) và Luật Tổ chức TAND (2003), thì TAND có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status