Chuyển đổi doanh nghiệp theo quy định của pháp luật lào và việt nam dưới góc độ so sánh (luận văn thạc sĩ luật học) - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

MONESAY PHINPACHAN

ĐỀ TÀI
CHUYỂN ĐỔI DOANH NGHIỆP THEO QUY ĐỊNH CỦA
PHÁP LUẬT LÀO VÀ VIỆT NAM DƢỚI GÓC ĐỘ SO SÁNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành

: Luật Kinh tế

Mã số

: 60380107

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN NHƢ PHÁT

HÀ NỘI - 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác. Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích
dẫn theo đúng quy định.


HTX

: Hợp tác xã

TNHH

: Trách nhiệm hữu hạn


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
Chƣơng 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN ĐỔI DOANH NGHIỆP
THEO PHÁP LUẬT LÀO VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM ....................................... 6

1.1. Khái quát về chuyển đổi doanh nghiệp .............................................. 6
1.1.1. Khái niệm chuyển đổi doanh nghiệp .............................................. 6
1.1.2. Bản chất, đặc điểm, vai trò của chuyển đổi doanh nghiệp.............. 8
1.2. Quá trình hình thành, phát triển của chế định chuyển đổi doanh
nghiệp ở Lào và Việt Nam ........................................................................ 11
1.2.1. Quá trình hình thành, phát triển của chế định chuyển đổi doanh
nghiệp ở Lào............................................................................................ 11
1.2.2. Quá trình hình thành, phát triển của chế định chuyển đổi doanh
nghiệp ở Việt Nam .................................................................................. 14
1.3. Các tiêu chí so sánh pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp .......... 16
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 ................................................................................... 20

Chƣơng 2. THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH VỀ CHUYỂN ĐỔI DOANH NGHIỆP THEO
PHÁP LUẬT LÀO VÀ VIỆT NAM DƢỚI GÓC ĐỘ SO SÁNH ............................ 21

nghiệp nƣớc Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào....................................... 63
3.2. Các giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về chuyển đổi
doanh nghiệp nƣớc Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ........................... 65
3.2.1. Hoàn thiện các quy định chung về doanh nghiệp ......................... 65
3.2.2. Bổ sung, sửa đổi các quy định về chuyển đổi doanh nghiệp ........ 68
3.3.3. Các giải pháp đảm bảo thực hiện hiệu quả các quy định pháp luật
về chuyển đổi doanh nghiệp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ..... 74
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 ................................................................................... 77

KẾT LUẬN ....................................................................................................... 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................. 80


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Với quan điểm xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã
hội chủ nghĩa, những năm gần đây, Nhà nước Lào rất quan tâm xây dựng và hoàn thiện
pháp luật về doanh nghiệp. Trong đó, những vấn đề về thành lập, tổ chức doanh nghiệp
cũng dần được hoàn thiện. Bắt đầu từ việc được quy định trong nhiều văn bản khác
nhau, dần dần được tập trung và hoàn thiện trong một hệ thống luật văn bản chuyên
ngành. Tuy vậy, các văn bản pháp luật này, bên cạnh những thành công nhất định, còn
bộc lộ nhiều nhược điểm, bất cập cả về nội dung pháp lý và kỹ thuật lập pháp. Điều
này là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc kìm hãm sự phát triển sản xuất, kinh
doanh của các doanh nghiệp, tạo ra sự phân bổ các nguồn lực không hợp lý, tác động
tiêu cực đến sản xuất, kinh doanh và tính công bằng trong môi trường kinh doanh.
Tình hình trên đặt ra nhiều vấn đề cần phải được giải quyết, trong đó, một
yêu cầu cấp thiết là phải nghiên cứu một cách kỹ lưỡng các vấn đề lý luận về pháp
luật tổ chức, quản lý, điều hành doanh nghiệp. Đồng thời, cần phải đề xuất phương

Tại Lào, do lịch sử phát triển và hình thành của pháp luật về doanh nghiệp
còn trẻ, sự quan tâm của nhà nước đối với doanh nghiệp còn chưa đúng mức nên
hiện nay các công trình nghiên cứu về chuyển đổi doanh nghiệp còn chưa được
quan tâm nhiều. Vấn đề tổ chức lại doanh nghiệp mới chỉ được đề cập đến trong các
công trình chung nghiên cứu về pháp luật doanh nghiệp Lào như: Bộ Công nghiệp
và Thương mại (2005), Pháp luật về doanh nghiệp, Nxb Thống kê, Viêng Chăn. Bộ
Tư pháp (tháng 4, 2007), Giải thích pháp luật về doanh nghiệp nước Cộng hòa dân
chủ nhân dân Lào, Sách hợp tác với JICA (Japan International Cooperation
Agency); Phôthilat Phôm Phô Thi (2005), Tổ chức quản lý doanh nghiệp nhà nước
trong nền kinh tế thị trường ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, Luận án tiến sĩ,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Beelee Yearseng (2011), Luật doanh
nghiệp năm 2005 của Lào và Việt Nam dưới góc độ so sánh, Luận văn thạc sĩ Luật
học, Đại học Luật Hà Nội; Vathsana Lathtanaphanh (2011), "Cơ sở lý luận và thực
tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp ở nước Cộng hòa dân chủ nhân
dân Lào, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội; Xổm Xay Xỉ Hà Chắc
(2000), “Mấy vấn đề về hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế của Cộng hòa dân chủ
nhân dân Lào”, Luật học, (4), tr.42-48; Phô Thi Lát Phôm phô Thi (2001), “Sự cần
thiết khách quan tiếp tục đổi mới tổ chức quản lý doanh nghiệp nhà nước ở Cộng
hòa dân chủ nhân dân Lào”, Giáo dục lý luận, (12), tr.25-28; Phô Thi Lát Phôm phô
Thi (2003), “Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước”, Alunmay, (5), tr.32-39. Các
công trình này chủ yếu nghiên cứu về tổ chức, quản lý doanh nghiệp nói chung,


3

chưa có công trình chuyên sâu nào đề cập đến việc hoàn thiện pháp luật về chuyển
đổi doanh nghiệp tại Lào đặc biệt là từ bài học kinh nghiệm của Việt Nam.
Trong khi đó, ở Việt Nam, vấn đề chuyển đổi doanh nghiệp, trước hết được
nghiên cứu trong các công trình chung như: Nguyễn Viết Tý (2012), Giáo trình
Luật thương mại tập I, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội; Đồng Ngọc Ba (2005), Cơ

pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp của nước Cộng
hòa Dân chủ Nhân dân (CHDCND) Lào trên cơ sở các bài học kinh nghiệm rút ra
từ việc so sánh với pháp luật Việt Nam về chuyển đối doanh nghiệp.
5. Các câu hỏi nghiên cứu
- Chuyển đối doanh nghiệp là gì? Bất chất của chuyển đổi doanh nghiệp?
- Pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp của Lào và Việt Nam đã trải qua quá
trình hình thành và phát triển như thế nào?
- Pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp của Lào và Việt Nam có những điểm
tương đồng và khác biệt nào?
- Các bài học kinh nghiệm có thể rút ra từ việc so sánh pháp luật Lào và Việt
Nam về chuyển đổi doanh nghiệp?
- Việc hoàn thiện pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp Lào cần có những giải
pháp gì?
6. Các phƣơng pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
Để nghiên cứu đề tài đã chọn, tác giả luận văn sử dụng phương pháp luận
biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Đồng thời, tác giả sử dụng các
phương pháp nghiên cứu cụ thể, thích hợp, như phương pháp so sánh, phương pháp
phân tích và phương pháp tổng hợp. Những phương pháp nghiên cứu hiện đại này
bảo đảm độ tin cậy của những kết quả nghiên cứu của luận văn.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn này này là sự kế thừa, chọn lọc và phát triển những vấn đề lý luận
về doanh nghiệp và pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp ở CHDCND Lào và
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (CHXHCN) Việt Nam. Sự hình thành và phát triển
của pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp chịu sự chi phối sâu sắc bởi cơ sở kinh
tế, trình độ phát triển của thị trường và các yếu tố khác của kiến trúc thượng tầng:
chế độ chính trị, truyền thống văn hóa, phong tục tập quán kinh doanh. Luận văn
nhận diện những quy định bất cập trong pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp ở
nước CHDCND Lào và Việt Nam trong giai đoạn hiện nay dưới góc độ so sánh.
Đây sẽ là cơ sở để đánh giá thực trạng pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp của
Lào hiện nay để từ đó nghiên cứu, xây dựng phương hướng và các giải pháp cụ thể,

và không ngừng hoạt động.
Doanh nghiệp được tạo lập nên bới ý chí của các thành viên hoặc các thành
niên. Nên việc chuyển đổi phải được tự do theo sự lựa chọn của thành viên hoặc các
thành viên. Tuy nhiên, doanh nghiệp là một thực thể kinh doanh hay là một chủ thể
của pháp luật hoặc có thể gây ảnh hưởng tới cộng đồng và người thứ ba.
Maurice Conzian và Alain Viandier trong cuốn “Tổ chức lại công ty, Tập
2”, do Nguyễn Văn Bình và Lê Thị Tý (1989) dịch từ cuốn “Droit des Societes”
đưa ra khái niệm: “Cải hóa công ty là chuyển từ hình thái công ty này sang hình
thái công ty khác: công ty vô danh chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn,
công ty hợp danh chuyển thành công ty cấp vốn đơn giản, công ty dân dụng trở
thành công ty vô danh”.1
Đây là khái niệm thể hiện đúng bản chất của việc chuyển đổi công ty nói
riêng và chuyển đổi doanh nghiệp nói chung.
Chuyển đổi doanh nghiệp là tổ chức lại doanh nghiệp, theo đó doanh nghiệp
sẽ thay đổi từ hình thức doanh nghiệp này sang hình thức doanh nghiệp khác, có
nghĩa là thay đổi các yếu tố kết cấu chủ yếu để tạo lập thành các hình thức doanh
nghiệp như: mối quan hệ giữa các thành viên, mối quan hệ giữa các thành viên với
1

Maurice Cozian, Alain Viandier (1988), Tổ chức công ty, Tập 1, Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý – Bộ
tư pháp (dịch, 1989), Hà Nội, tr.181.


7

doanh nghiệp, chế độ trách nhiệm của các thành viên đối với khoản nợ của doanh
nghiệp, tổ chức quản lý nội bộ, quyền và nghĩa vụ của các thành viên…Việc thay
đổi các yếu tố không ảnh hưởng tới hình thức doanh nghiệp do pháp luật đã xác
định không được xem là thay đổi hình thức doanh nghiệp. Ví dụ: Thay đổi vốn điều
lệ, thay đổi thành viên, thay đổi người đại diện theo pháp luật…

thể (DNTN), công ty TNHH và CTCP. Theo đó, doanh nghiệp cá thể (DNTN) có
thể chuyển đổi thành CTCP, còn công ty TNHH có thể chuyển đổi thành CTCP và
ngược lại.
1.1.2. Bản chất, đặc điểm, vai trò của chuyển đổi doanh nghiệp
* Bản chất
Về bản chất kinh tế và pháp lý, chuyển đổi doanh nghiệp chỉ là việc thay đổi
hình thức pháp lý của doanh nghiệp, do chính doanh nghiệp đó quyết định, không
làm tiêu biến thương nhân đó, cũng không thể khiến thương nhân đó rũ bỏ các
khoản nợ đối với bên thứ ba. Doanh nghiệp vẫn tồn tại liên tục về mặt kinh tế. Điều
đó có nghĩa là việc chuyển đổi doanh nghiệp không làm chấm dứt nghĩa vụ trả nợ
của thương nhân. Tuy nhiên, việc chuyển đổi có thể làm biến đổi chế độ trách
nhiệm của thành viên đối với các khoản nợ của doanh nghiệp. Vì vậy, việc nghiên
cứu các hình thức doanh nghiệp, nhất là về các đặc điểm pháp lý có ý nghĩa quan
trọng trong việc nghiên cứu về chuyển đổi doanh nghiệp. Như vậy, chuyển đổi
doanh nghiệp là hoạt động tổ chức lại doanh nghiệp, là quá trình chuyển từ loại hình
doanh nghiệp này thành loại hình doanh nghiệp khác, diễn ra trong sự tồn tại liên
tục của doanh nghiệp (với ý nghĩa là một thực thể kinh doanh) và có sự chuyển giao
quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp trước và sau chuyển đổi.
* Đặc điểm
Doanh nghiệp (pháp nhân) là một thực thể pháp lý tách biệt với chủ sở hữu
của nó. Chuyển đổi doanh nghiệp có bản chất là một hành vi pháp lý. Do đó, đặc
điểm pháp lý của chuyển đổi doanh nghiệp rất phức tạp. Các đặc điểm đó xuất phát
từ bản chất hợp đồng của sự chuyển đổi hay hành vi pháp lý đơn phương của sự
chuyển đổi, đồng thời cũng xuất phát từ các yêu cầu đặc biệt của pháp luật nhằm
bảo vệ trật tự chung của cộng đồng và các chủ sở hữu doanh nghiệp. Có thể tóm tắt
các đặc điểm của chuyển đổi doanh nghiệp như sau:
+ Về tính chất: Chuyển đổi doanh nghiệp là hoạt động mang tính thủ tục
pháp lý, theo đó, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vẫn diễn ra bình thường
trước, trong và sau quá trình chuyển đổi.
+ Chủ thể quyết định việc chuyển đổi: Chủ sở hữu doanh nghiệp (chủ

đổi doanh nghiệp nói chung.
Một doanh nghiệp có thể là sở hữu của nhiều thương hiệu có giá trị hàng tỉ Đô la
Mỹ, ví dụ như thương hiệu Apple, BMW, Toyota… và có thể có một hệ thống bán hàng
đa cấp khắp thế giới hoặc có thể đang là thành viên của nhiều công ty khác… Trường
hợp, vì một lý do nào đó cần hoạt động dưới hình thức doanh nghiệp khác với hình thức
doanh nghiệp hiện có, thì chủ nhân của nó có thể cân nhắc các phương án sau:


10

(1) Phương án thứ nhất: Thành lập thêm một doanh nghiệp mới và vận hành
đồng thời cả hai doanh nghiệp. Phương án này sẽ làm tăng chi phí quản lý, chi phí
nhân công và các chi phí khác như mua sắm trang thiết bị, thuê trụ sở… Như vậy,
họ có thể không đủ sức hoặc không thể tập trung vào cả hai doanh nghiệp cùng một
lúc và dẫn đến giảm hiệu quả hoạt động kinh doanh.
(2) Phương án thứ hai: Thành lập doanh nghiệp mới và chấm dứt hoạt động
của doanh nghiệp cũ. Phương án này phát sinh những vấn đề cụ thể như: không có
căn cứ nào ràng buộc để người lao động phải làm cho doanh nghiệp mới và nếu họ
ở lại làm việc thì phải đàm phán, giao kết lại nhiều hợp đồng; doanh nghiệp mới
không đương nhiên thừa kế các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp cũ; doanh
nghiệp mới có thể không duy trì được hệ thống khách hàng của doanh nghiệp cũ
hoặc mất thương hiệu; đặc biệt doanh nghiệp cũ bị sự cản trở của pháp luật trong
việc chuyển giao dự án cho doanh nghiệp mới.
(3) Phương án thứ ba: Chuyển đổi doanh nghiệp, phương án này tạo ra
một doanh nghiệp mới có hình thức pháp lý theo nguyện vọng của nhà đầu tư,
doanh nghiệp mới được kế thừa mọi quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp được
chuyển đổi.
Xét về lợi ích kinh tế: Khi thực hiện việc chuyển đổi, nhà đầu tư không mất
nhiều thời gian để có được một doanh nghiệp mới theo đúng nguyện vọng của
mình; doanh nghiệp được chuyển đổi đương nhiên chấm dứt hoạt động khi doanh

kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước Lào đã quan
tâm nghiên cứu pháp luật doanh nghiệp nhằm phù hợp với điều kiện nền kinh tế của
Lào. Luật Kinh doanh đã được Quốc hội Lào khóa III, kỳ họp thứ bốn thông qua
ngày 18/7/1994 và có hiệu lực ngày 13/8/1994. Luật Kinh doanh Lào (1994) được áp
dụng đối với các loại hình doanh nghiệp như doanh nghiệp nhà nước (DNNN), doanh
nghiệp tập thể, DNTN, công ty đối nhân, công ty TNHH, CTCP, doanh nghiệp liên
doanh để tạo thêm cơ hội cho dân cư và doanh nghiệp trực tiếp đầu tư vào sản xuất
kinh doanh. Việc quy định tất cả các loại hình doanh nghiệp đều áp dụng Luật Kinh
doanh nhằm mục đích tập trung vào các quy định riêng lẻ, tản mạn đơn hành vào một
văn bản chung thống nhất tạo tiền đề cho việc xây dựng một khuôn khổ pháp luật
chung cho các loại doanh nghiệp thuộc các thành phần sở hữu khác nhau.
Sau khi áp dụng một thời gian, nền kinh tế - xã hội Lào có sự thay đổi, trong
đó phải kể đến sự gia nhập và trở thành thành viên chính thức của ASEAN, cũng
như các mục tiêu phát triển trong thiên nhiên ký mới, Luật Kinh doanh Lào (1994)
đã bộc lộ những thiếu sót nghiêm trọng, đòi hỏi phải được sửa đổi, bổ sung cho phù
hợp với điều kiện mới. Trong bối cảnh đó, Luật Doanh nghiệp đầu tiên của Lào


12

được Quốc hội thông qua ngày 23/12/2000 và có hiệu lực thi hành từ ngày
15/1/2001. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, và những non kém
trong kỹ thuật lập pháp, sau 4 năm áp dụng, Luật Doanh nghiệp Lào (2000) đã tỏ ra
có nhiều bất cập, không đáp ứng được nhu cầu thực tế, thí dụ như: thời gian thành
lập doanh nghiệp còn dài, cơ cấu tổ chức công ty chưa rõ ràng, không thừa nhận tư
cách pháp nhân của công ty hợp danh, các quy định về tổ chức lại doanh nghiệp
chưa được quan tâm… Những điều đó dẫn tới những khó khăn cho quá trình thành
lập và hoạt động của các loại hình doanh nghiệp. Vì vậy, dưới sự tác động của hội
nhập kinh tế, để đáp ứng yêu cầu của việc gia nhập WTO, việc sửa đổi, hoàn thiện
Luật Doanh nghiệp Lào (2000) là vô cùng cần thiết.

không tránh khỏi những hạn chế, bất cập, chưa thực sự phù hợp với sự phát triển
kinh tế - xã hội, phần nào gây khó khăn cho hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt
trong bối cảnh Lào đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Vì vậy, việc sửa
đổi Luật Doanh nghiệp Lào (2005) cho phù hợp với xu hướng hiện nay là vô cùng
cần thiết, cấp bách để bảo đảm môi trường kinh doanh thông thoáng, thuận lợi cho
doanh nghiệp.
Trong bối cảnh Lào chính thức trở thành thành viên WTO, mở của hội nhập
kinh tế quốc tế một cách mạnh mẽ, Lào đã tiến hành sửa đổi, bổ sung Luật Doanh
nghiệp Lào (2005). Kế thừa những thành tựu của Luật Doanh nghiệp Lào (2005) và
khắc phục những nhược điểm, bất cập của nó, năm 2013, Luật Doanh nghiệp (sửa
đổi, bổ sung) đã được ban hành. Đạo luật này đã thiết lập được các yêu cầu về môi
trường pháp luật kinh doanh cụ thể, rõ ràng hơn, thông thoáng hơn, đồng bộ hơn,
minh bạch hơn, công khai hơn, phù hợp với thông lệ quốc tế hơn. Các quy định của
đạo luật này đảm bảo sự bình đẳng và tính cạnh tranh cao hơn nhằm góp phần thực
hiện mục tiêu của nền kinh tế là thúc đẩy tăng trưởng nhanh, ổn định trên cơ sở
nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả theo hướng tăng trưởng xanh và phát triển
bền vững như đã đề ra trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Chiến lược tăng
trưởng xanh và Chiến lược phát triển bền vững đã được đề ra và phê duyệt.
Luật Doanh nghiệp Lào (2013) được ban hành với ba mục tiêu chủ đạo là: (i)
Các quy định phù hợp với thực tiễn hoạt động của các doanh nghiệp; (ii) Quy định
rõ ràng, cụ thể hơn về các quyền và nghĩa vụ của các doanh nghiệp; (iii) Tăng
cường hiệu quả của quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp. Đồng thời, Luật
Doanh nghiệp Lào (2013) kế thừa và phát huy có chọn lọc những mặt tích cực, cũng
như khắc phục những hạn chế của hệ thống pháp luật trước đây về doanh nghiệp
như mở rộng và phát huy quyền tự chủ, tự do kinh doanh của doanh nghiệp, áp
dụng thống nhất các thủ tục của Luật Doanh nghiệp về thành lập doanh nghiệp, mua


14


(1990) được áp dụng đến ngày 01 tháng 01 năm 2000 cho đến khi Luật Doanh


15

nghiệp (1999) có hiệu lực. Khoảng thời gian này không có văn bản nào quy định về
chuyển đổi doanh nghiệp. Như vậy, Luật Công ty (1990), Luật DNTN (1990) mới
chỉ đi đầu mà không dẫn lối cho việc chuyển đổi doanh nghiệp, do đây là những văn
bản luật đầu tiên về doanh nghiệp, tạo cơ sở pháp lý cho những CTCP, công ty
TNHH đầu tiên ra đời.
Tuy nhiên, ở giai đoạn đầu của quá trình đổi mới, các văn bản pháp luật về
chuyển đổi doanh nghiệp lần đầu tiên được ban hành là các văn bản pháp luật về cổ
phần hoá DNNN. Năm 1990, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra Quyết định
số 143/HĐBT ngày 10 tháng 5 năm 1990 lựa chọn một số doanh nghiệp nhỏ và vừa
đề thí điểm chuyển đổi thành CTCP. Năm 1991, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng lại ra
Quyết định số 202/CT-HĐBT ngày 8 tháng 6 năm 1992 về thí điểm chuyển đổi một
số DNNN thành CTCP. Có thể coi, các văn bản pháp luật về cổ phần hoá là các văn
bản pháp luật đầu tiên về chuyển đổi doanh nghiệp ở Việt Nam.
Đối với khu vực đầu tư tư nhân, sau khi chấm dứt hiệu lực của Luật Công ty
(1990), pháp luật về công ty của Việt Nam bước vào một giai đoạn phát triển mới,
với nhiều đổi mới đáng kể. Cụ thể, ngày 12 tháng 6 năm 1999, tại kỳ họp thứ 5, Quốc
hội nước CHXHCN Việt Nam khóa X đã ban hành Luật Doanh nghiệp thay thế Luật
Công ty, Luật Doanh nghiệp tư nhân ngày 21 tháng 12 năm 1990 và Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Công ty, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Doanh nghiệp tư nhân ngày 22 tháng 6 năm 1994. Trong đó, Luật Doanh nghiệp năm
(1999) quy định về chuyển đối doanh nghiệp tại Điều 109 và Điều 110, theo đó i)
công ty TNHH có thể được chuyển đổi thành CTCP hoặc ngược lại; ii) công ty
TNHH một thành viên được chuyển đổi thành công ty TNHH hai thành viên trở lên
khi trở thành chủ sở hữu công ty chuyển một phần vốn điều lệ cho tổ chức, cá nhân
khác; ii) đặc biệt chuyển đổi công ty TNHH một thành viên thành DNTN với quy

luật không cấm thì người dân, doanh nghiệp được tự do kinh doanh, đầu tư. Quy
định về các hình thức chuyển đổi doanh nghiệp trong Luật Doanh nghiệp (2014) có
phạm vi rộng hơn, cụ thể hơn, đảm bảo ngày càng tốt hơn quyền tự do kinh doanh
của doanh nghiệp.
1.3. Các tiêu chí so sánh pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp
Nội dung của pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp bao gồm nhiều nhóm
quy định pháp luật về các khía cạnh: quy định về các hình thức chuyển đổi doanh
nghiệp; quy định về trình tự thủ tục tiến hành chuyển đổi doanh nghiệp; quy định về
điều kiện để doanh nghiệp được tiến hành chuyển đổi doanh nghiệp; quy định về
quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp trước và sau khi chuyển đổi với bên thứ ba.
Chính vì vậy, việc so sánh pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp cũng chính là so


17

sánh các khía cạnh trên của pháp luật chuyển đổi doanh nghiệp. Trong đó:
Thứ nhất, quy định về các hình thức chuyển đổi doanh nghiệp
Như đã nói ở trên, chuyển đổi doanh nghiệp bao gồm các phương án tổ chức
lại doanh nghiệp sao cho hiệu quả và phù hợp. Thông thường, chuyển đổi doanh
nghiệp gồm các hình thức chuyển đổi sau:
Một là, việc chuyển đổi công ty TNHH thành CTCP, do đó, công ty TNHH
có thể là TNHH một thành viên hoặc TNHH hai thành viên trở lên. Trong loại hình
công ty TNHH một thành viên có thể là do tổ chức hoặc cá nhân làm chủ sở hữu
nhưng đều được chuyển đổi thành CTCP.
Hai là, chuyển đổi CTCP thành công ty TNHH một thành viên, trong quy
định này bắt buộc phải thực hiện khi chỉ còn một cổ đông duy nhất hoặc các cổ
đông không muốn chuyển nhượng toàn bộ cổ phần cho một cá nhân hoặc tổ chức.
Ba là, chuyển đổi CTCP thành công ty TNHH hai thành viên trở lên, trong
trường hợp này chỉ cần giới hạn thành viên tối thiểu là 2 thì sẽ chuyển thành công ty
TNHH hai thành viên trở lên.

về tỷ lệ biểu quyết trong Đại hội đồng cổ đông. Theo đó, pháp luật cần quy định về
tỷ lệ biểu quyết thông qua quyết định chuyển đổi doanh nghiệp đối với trường hợp
chuyển đổi tự nguyện. Hiện tại, nhiều nước quy định tỷ lệ này là 75% số cổ phần có
quyền biểu quyết hoặc đại diện của thành viên sở hữu 75% số vốn điều lệ đồng ý
thông qua. Cụ thể, như ở Việt Nam, trường hợp chuyển đổi DNTN thành công ty
TNHH thì sẽ do chủ sở hữu DNTN toàn quyền quyết định. Tùy thuộc vào loại hình
công ty tỷ lệ này được quy định tại Điều 60, 79, và 144 Luật Doanh nghiệp. Ở các
nước như Singapore, Malaysia cũng có quy định tương tự. Đặc biệt, theo báo cáo
nghiên cứu so sánh Luật công ty ở bốn quốc gia Đông Nam Á, do viện nghiên cứu
quản lý kinh tế trung ương thực hiền năm 1999, thì tỷ lệ biểu quyết thông qua việc
thay đổi tình trạng hoạt động của doanh nghiệp ở Thái Lan là 50%.
Hai là, việc chuyển đổi doanh nghiệp phải đảm bảo số lượng thành viên hoặc
cổ đông tối thiểu theo quy định đối với hình thức công ty chuyển đổi đến. Hiện tại,
pháp luật các nước có quy định khác nhau về số lượng thành viên/cổ đông tối thiểu
áp dụng cho từng loại hình công ty. Có quốc gia không quy định vấn đề này như
Mỹ, Anh… theo pháp luật các quốc gia này, thì một người có thể lựa chọn hình
thức công ty đã được luật hóa để thành lập. Có quốc gia quy định số lượng thành
viên tối thiểu như Việt Nam, Trung Quốc… Mặc dù quy định này không được lý
giải theo học thuyết nào hoặc theo nguyên lý nào, nhưng các chủ thể buộc phải tuân
thủ khi thực hiện việc chuyển đổi. Nói một cách đơn giản là, khi muốn chuyển đổi
thành loại hình doanh nghiệp nào, thì doanh nghiệp chuyển đổi cần đáp ứng các


19

điều kiện thành lập của doanh nghiệp đó.
Ba là, việc chuyển đổi doanh nghiệp cần đảm bảo quyền lợi của các chủ nợ.
Với điều kiện này, pháp luật các nước đều quy định vấn đề kế thừa quyền và nghĩa
vụ của doanh nghiệp sau chuyển đổi. Đối với doanh nghiệp có chủ đầu tư chịu trách
nhiệm vô hạn, việc quy định phạm vi trách nhiệm đối với các khoản nợ của doanh

Do đó, việc so sánh quy định về chuyển đổi doanh nghiệp, cần so sánh các
điểm tương đồng, khác biệt trong vấn đề Quy định về bảo vệ người thứ ba từ sự tác
động của chuyển đổi doanh nghiệp để đưa ra cách đánh giá toàn diện nhất trong độ
hoàn thiện của pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp.
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1

Trong cơ chế thị trường, doanh nghiệp được tổ chức theo nhiều hình thức
pháp lý khác nhau. Cũng chính vì vậy, trong quá trình thành lập, hoạt động của
doanh nghiệp, việc tổ chức lại doanh nghiệp xuất hiện như một nhu cầu tất yếu để
doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Để tạo cơ sở lý luận nền tảng cho việc nghiên
cứu nội dung của pháp luật Lào về chuyển đổi doanh nghiệp, trên cơ sở đó, so sánh
với pháp luật Việt Nam về vấn đề này, tác giả, trong chương này, đã đi sâu phân
tích và hệ thống hóa một số vấn đề lý luận chủ yếu của đề tài, như: khái niệm, đặc
điểm, bản chất của chuyển đổi doanh nghiệp; quá trình hình thành và phát triển chế
định chuyển đổi doanh nghiệp trong pháp luật doanh nghiệp Lào và pháp luật doanh
nghiệp Việt Nam; vấn đề pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp và các tiêu chí so
sánh pháp luật về chuyển đối doanh nghiệp. Những nội dung này, là tiền đề cơ bản
để tiến hành so sánh những quy định của pháp luật Lào và pháp luật Việt Nam về
chuyển đối doanh nghiệp trong Chương 2 dưới dây.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status