BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
CHANHSAMONE SOUNNALATH
PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP
PHÁ SẢN CỦA LÀO VÀ VIỆT NAM
DƯỚI GÓC ĐỘ SO SÁNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số
: 60.38.01.07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN VIẾT TÝ
HÀ NỘI - NĂM 2016
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo Trường Đại
học Luật Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô giáo Khoa sau Đại học và Khoa Luật
Kinh tế đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
chương trình thạc sĩ luật học tại trường.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất của mình đến người
hướng dẫn khoa học PGS.TS. Nguyễn Viết Tý, người đã tận tâm, nhiệt tình chỉ
bảo và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
DN, HTX
: Doanh nghiệp, hợp tác xã
HNCN
: Hội nghị chủ nợ
TBPS
: Tuyên bố phá sản
TTPS
: Thủ tục phá sản
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
XLTS
: Xử lý tài sản
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
2.4. So sánh thủ tục xử lý các loại tài sản của doanh nghiệp phá sản ...... 49
2.4.1. Kiểm kê toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp phá sản ............. 49
2.4.2. Thu hồi và quản lý tài sản ............................................................... 51
2.4.3. Những quy định về bán tài sản ........................................................ 53
2.4.4. Những quy định pháp luật về thanh toán ......................................... 56
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 ................................................................................... 57
Chương 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN CỦA
DOANH NGHIỆP PHÁ SẢN Ở NƯỚC CHDCND LÀO TỪ KINH NGHIỆM CỦA VIỆT
NAM ................................................................................................................. 58
3.1. Một số bất cập, hạn chế về xử lý tài sản của doanh nghiệp phá sản
theo quy định của pháp luật phá sản Lào ................................................. 58
3.1.1. Một số hạn chế, bất cập trong quy định về chủ thể tham gia xử lý tài
sản của doanh nghiệp phá sản ................................................................... 58
3.1.2. Một số hạn chế, bất cập trong quy định về xác định tài sản của doanh
nghiệp phá sản .......................................................................................... 64
3.1.3. Một số hạn chế, bất cập trong quy định về nghĩa vụ tài sản và thứ tự
phân chia tài sản của doanh nghiệp phá sản .............................................. 65
3.1.4. Một số hạn chế, bất cập trong quy định về thủ tục xử lý tài sản của
doanh nghiệp phá sản ............................................................................... 66
3.2. Một số bài học kinh nghiệm của Việt Nam trong hoàn thiện các quy
định về xử lý tài sản của doanh nghiệp phá sản rút ra từ việc so sánh.... 67
3.2.1. Kinh nghiệm về xây dựng địa vị pháp lý của các chủ thể trong xử lý
tài sản của doanh nghiệp phá sản .............................................................. 67
3.2.2. Kinh nghiệm về cách xác định tài sản của doanh nghiệp phá sản .... 69
3.2.3. Kinh nghiệm về xử lý tài sản và thứ tự phân chia tài sản của doanh
nghiệp phá sản .......................................................................................... 69
Việt Nam liên tục nghiên cứu thực tiễn, tìm tòi và tiếp thu các kinh nghiệm quốc
tế phù hợp về xây dựng và hoàn thiện pháp luật phá sản. Việc ban hành Luật Phá
sản năm 2014, trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh hội nhập quốc tế đã chứng
tỏ vai trò của pháp luật phá sản đối với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa (XHCN) mà Đảng và Nhà nước Việt Nam đang thực hiện.
Nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (CHDCND Lào) là quốc gia còn có
hệ thống pháp luật chưa phát triển, lịch sử lập hiến, lập pháp còn non trẻ do thiếu
kinh nghiệm trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật. Luật phá sản năm
1994 là luật phá sản đầu tiên của nước CHDCND Lào và cũng là duy nhất cho
đến nay được ban hành. Sau hơn 20 năm thực hiện, đã bộc lộ rất nhiều hạn chế
so với sự phát triển của nền kinh tế thị trường Lào hiện nay. Một trong những bất
cập, hạn chế lớn đó chính là các quy định về xử lý tài sản (XLTS) của doanh
nghiệp bị tuyên bố phá sản (TBPS) trong Luật Phá sản năm 1994 còn đơn giản,
chưa thể hiện đúng bản chất của hoạt động XLTS và quan trọng nhất là chưa đáp
ứng được đòi hỏi của nền kinh tế - xã hội hiện nay ở Lào.
Kinh nghiệm lập pháp, lập hiến là một hạn chế dẫn đến Luật Phá sản năm
1994 chưa được sửa đổi bổ sung. Với tư cách là một quốc gia có điểm tương
đồng về hệ thống chính trị, quan điểm xây dựng và hoàn thiện pháp luật, điều
kiện kinh tế - xã hội - văn hóa, những quy định của hiện hành của Việt Nam về
XLTS của doanh nghiệp bị TBPS sẽ là kinh nghiệm không hề nhỏ cho việc xây
2
dựng và hoàn thiện quy định pháp luật về XLTS của doanh nghiệp bị TBPS ở
nước CHDCND Lào trong thời gian tới.
Để có thể đúc rút ra kinh nghiệm xây dựng và hoàn thiện quy định pháp
luật về XLTS của doanh nghiệp bị TBPS cho nước CHDCND Lào thì việc so
sánh các quy định pháp luật hiện hành của Lào và Việt Nam về XLTS của doanh
nghiệp bị TBPS là hết sức cần thiết. Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài: “Pháp
đến hạn theo Luật Phá sản năm 2004”, Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả
Nguyễn Kim Chi, Hà Nội, 2005; “Xử lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng
thanh toán nợ đến hạn theo Luật phá sản năm 2014”, Luận văn thạc sĩ luật học
của tác giả Hà Thị Khánh Huyền, Hà Nội, 2015.
Dưới góc độ so sánh luật, có một số công trình sau đây có đề cập đến việc
so sánh pháp luật về XLTS của doanh nghiệp bị TBPS: “Luật phá sản của Việt
Nam và pháp luật phá sản của Cộng hòa Pháp những nét tương đồng và khác
biệt, Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả An Phương Huệ, Hà Nội, 2004; “Luật
phá sản doanh nghiệp Việt Nam dưới góc độ Luật so sánh và phương hướng hoàn
thiện”, Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Trương Hồng Hải, Hà Nội, 2004.
Như vậy, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào so sánh
các quy định của pháp luật phá sản Lào với pháp luật phá sản của Việt Nam. Chính
vì lẽ đó, đề tài: “Pháp luật về xử lý tài sản của doanh nghiệp phá sản của Lào và
Việt Nam dưới góc độ so sánh” thực sự có tính cấp thiết trong việc nghiên cứu.
3. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là những quy định về XLTS của
doanh nghiệp bị TBPS theo Luật Phá sản Lào năm 1994 và Luật Phá sản Việt
Nam năm 2014 dưới góc độ nghiên cứu luật học so sánh.
* Phạm vi nghiên cứu luận văn
Về phương diện lý luận, luận văn tập trung nghiên cứu khái niệm, đặc
điểm, các loại tài sản của doanh nghiệp bị TBPS; khái niệm, đặc điểm XLTS của
doanh nghiệp bị TBPS; vai trò của XLTS của doanh nghiệp bị TBPS.
Về phương diện luật thực định, luận văn tập trung nghiên cứu những quy định
của Luật phá sản Lào năm 1994 và Luật Phá sản Việt Nam năm 2014 về chủ thể
tham gia XLTS; xác định tài sản của doanh nghiệp bị TBPS; XLTS và thứ tự phân
chia tài sản; thủ tục xử lý các loại tài sản của doanh nghiệp bị TBPS dưới góc độ so
sánh, để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai đạo Luật phá sản này.
Đảng, quan điểm của Đảng và Nhà nước của cả CHXHCN Việt Nam và CHDCND
Lào đối với nền kinh tế nói chung và hoạt động của doanh nghiệp nói riêng.
5
Các phương pháp cụ thể được vận dụng khi viết luận văn là phương pháp phân
tích, tổng hợp, chứng minh, hệ thống hoá pháp luật và phương pháp luật học so sánh.
Luận văn tiến hành tổng hợp và phân tích các quy định trong các văn bản pháp luật của
Lào dưới góc độ so sánh với pháp luật Việt Nam về XLTS của doanh nghiệp bị TBPS
để đánh giá thực trạng, những khó khăn, vướng mắc trong việc giải quyết các doanh
nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Trên cơ sở đó, luận văn sẽ đưa ra những kiến nghị
về việc hoàn thiện các quy định pháp luật về XLTS của doanh nghiệp bị TBPS ở Lào
trong giai đoạn hiện nay. Sự vận dụng một cách nhuần nhuyễn các phương pháp
nghiên cứu cụ thể nêu trên sẽ góp phần đưa đến thành công của luận văn.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật về XLTS của doanh nghiệp
bị TBPS của Lào và Việt Nam, luận văn sẽ làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn, đề
xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật của Lào về XLTS của
doanh nghiệp bị TBPS. Cụ thể, luận văn có những đóng góp mới sau đây:
Một là, các kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là nguồn tài liệu để tiếp tục
giảng dạy, nghiên cứu về pháp luật phá sản nói chung và pháp luật về XLTS của
doanh nghiệp bị TBPS nói riêng ở Lào và ở Việt Nam.
Hai là, các kết quả nghiên cứu của luận văn, đặc biệt là các giải pháp nhằm
hoàn thiện các quy định của pháp luật Lào về XLTS của doanh nghiệp bị TBPS sẽ
có giá trị tham khảo để các nhà làm luật của Lào xem xét, sửa đổi, bổ sung, hoàn
thiện các quy định pháp luật hiện hành về XLTS của doanh nghiệp bị TBPS.
8. Bố cục (các chương) của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của Luận văn gồm 3 chương:
cho chủ nợ): Tín thác viên có quyền xiết nợ đối với các con nợ của doanh nghiệp
mà không cần có sự đồng ý của con nợ (khoản 544a); (ii) Các tài sản có được từ
những giao dịch ưu tiên trả nợ bị vô hiệu: Tín thác viên có quyền thu hồi bất kỳ
một sự chuyển nhượng, thanh toán bằng bất kỳ tài sản nào của con nợ trước ngày
phá sản nhằm để bảo toàn tài sản của doanh nghiệp và đảm bảo sự phân chia công
bằng khối tài sản này (trừ những giao dịch mà pháp luật thừa theo khoản 574);
(iii) Các tài sản có được do Tín thác viên đã thực hiện việc xiết nợ người khác đối
với tài sản của doanh nghiệp mà người tín thác này đang quản lý1.
1
Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia - Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật (2004), Bước
đầu tìm pháp luật thương mại Mỹ, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr 19 - 20.
7
- Luật Phá sản hiện hành của Nhật Bản những tài sản có được sau khi TBPS
thì không được tính vào khối tài sản của doanh nghiệp mà được xếp vào loại tài sản
mở rộng với lý do là: Nếu đưa vào loại tài sản phát sinh này sẽ tạo ra những sự phức
tạp cũng như khó khăn trong tính toán và đồng thời cũng tạo ra tính không công
bằng trong việc xác định quyền và trách nhiệm của các bên có liên quan đến khối
tài sản đó. Luật Phá sản của Nhật Bản còn quy định: Tài sản nào ở ngoài phạm vi
lãnh thổ Nhật Bản không được coi là một bộ phận của khối tài sản phá sản do khả
năng giám sát, đánh giá, thu hồi là khó có thể tiến hành được.
Trong pháp luật pháp sản của Nhật Bản, khối tài sản phá sản bao gồm tài
sản của con nợ tại thời điểm tuyên bố phá sản là đối tượng của thủ tục tư pháp.
Những tài sản mà người được ủy thác thu hồi được thông qua quyền phủ nhận
cũng thuộc về khối tài sản phá sản. Quyền của chủ sở hữu cũng là một loại tài
sản thuộc khối tài sản phá sản. Tài sản này không nhất thiết phải nhìn thấy được
và không nhất thiết phải được thể hiện trên sổ sách hoặc tài sản của con nợ. Tài
tài sản phá sản; phần giá trị của vật bảo đảm vượt quá giá ngạch của khoản nợ
mà nó đảm bảo thì thuộc tài sản phá sản (Điều 28). Như vậy, cách quy định đối
với trường hợp này trong pháp luật phá sản Trung Quốc cho thấy sự tương đồng
với pháp luật phá sản của Liên bang Nga4.
- Luật Phá sản năm 2014 của Việt Nam tại Điều 64 đã liệt kê về tài sản
của DN, HTX mất khả năng thanh toán như sau:
+ Tài sản của DN, HTX mất khả năng thanh toán bao gồm: (i) Tài sản và
quyền tài sản mà DN, HTX có tại thời điểm Tòa án nhân dân quyết định mở
thủ tục phá sản; (ii) Tài sản và quyền tài sản có được sau ngày Tòa án nhân dân
ra quyết định mở thủ tục phá sản; (iii) Giá trị của tài sản bảo đảm vượt quá
khoản nợ có bảo đảm mà DN, HTX phải thanh toán cho chủ nợ có bao đảm;
(iv) Giá trị quyền sử dụng đất của DN, HTX được xác định theo quy định của
pháp luật về đất đai; (v) Tài sản thu hồi từ hành vi cất giấu, tẩu tán tài sản của
DN, HTX; (vi) Tài sản và quyền tài sản có được do thu hồi từ giao dịch vô
hiệu; (vii) Các tài sản khác theo quy định của pháp luật (khoản 1 Điều 64 Luật
Phá sản năm 2014)5.
+ Tài sản của doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh mất khả năng thanh
toán bao gồm: (i) Tài sản quy định tại khoản 1 Điều này; (ii) Tài sản của chủ
3
Phan Thị Thu Hà (2010), Tìm hiểu pháp luật phá sản trên thế giới, Chuyên đề Khoa học xét xử, Hà Nội, tr
32.
4
Trần Duy Tuấn (2013), Chế định tài sản phá sản trong pháp luật một số quốc gia trên thế giới và những gợi
mở cho Việt Nam, đăng trên: http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=111
5
Hà Thị Khánh Huyền (2015), Xử lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn theo
Luật Phá sản năm 2014, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội, tr 10.
6
Viện Khoa học và Xã hội Lào (2000), Những bất cập trong việc thi hành các quy định của Luật phá sản
năm 1994, Đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước, Viêng Chăn, tr 10.
10
thủ tục phá sản, cũng như trong suốt thời gian giải quyết phá sản. Việc xác định
tài sản của doanh nghiệp bị TBPS có thể bị giới hạn về mặt thời gian, không
gian, loại tài sản.
Từ định nghĩa này, có thể khái quát lên những đặc điểm của tài sản doanh
nghiệp bị TBPS như sau:
Thứ nhất, việc xác định khối tài sản của doanh nghiệp bị TBPS căn cứ
vào thời điểm trong thủ tục giải quyết phá sản.
Hiện tại trên thế giới có hai xu hướng là: (i) Khối tài sản phá sản chỉ được
thừa nhận đến thời điểm mở thủ tục giải quyết phá sản (pháp luật phá sản của
Nhật Bản, của nước CHDCND Lào theo khuynh hướng này); (ii) Khối tài sản
phá sản không chỉ tính đến thời điểm mở thủ tục phá sản mà còn bao gồm cả
những tài sản phát sinh trong quá trình phá sản (pháp luật phá sản của Hoa Kỳ,
Liên bang Nga, Trung Quốc và Việt Nam theo khuynh hướng này).
Thứ hai, việc xác định khối tài sản phá sản có tính đến phạm vi không
gian mà những tài sản của doanh nghiệp đang hiện hữu.
Trong pháp luật phá sản của một số quốc gia chỉ coi tài sản thuộc khối tài
sản phá sản phải là những tài sản hiện hữu nằm trong phạm vi lãnh thổ của quốc
gia đó (Luật Phá sản Nhật Bản, nước CHDCND Lào theo quan điểm này); Còn
lại, đa số các quốc gia, hoặc không giới hạn hoặc không có quy định rõ về
nguyên tắc đối với trường hợp này (Luật Phá sản của Hoa Kỳ, Liên Bang Nga,
Trung Quốc và Việt Nam theo quan điểm này).
Thứ ba, việc xác định khối tài sản phá sản căn cứ vào loại hình tài sản hay
- Tài sản có. Tài sản có là những tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền
quản lý, sử dụng của doanh nghiệp. Tài sản có thể được phân loại thành tài sản
hữu hình và tài sản vô hình; động sản và bất động sản. Các cách phân loại tài sản
này dựa trên các căn cứ sau đây:
(i) Căn cứ vào việc có hay không có đặc tính vật lý thì tài sản được chia
thành tài sản hữu hình và tài sản vô hình;
(ii) Căn cứ vào đặc điểm tính di dời hay không di dời được của tài sản hữu
hình và các quyền được thiết lập trên đó hay không được thiết lập trên đó, tài sản
được chia thành động sản và bất động sản.
7
Hà Thị Khánh Huyền (2015), Xử lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn theo Luật
Phá sản năm 2014, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội, tr 11.
12
+ Bất động sản là các tài sản không di dời được. Bất động sản có đặc
điểm là gắn cố định với một không gian, vị trí nhất định, không di dời được, bao
gồm: Đất đai, nhà cửa, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản
gắn liền với nhà, công trình dựng đó; các tài sản khác gắn liền với đất đai; các tài
sản do pháp luật quy định. Các bất động sản là nhà cửa, vật kiến trúc như trụ sở
làm việc, nhà kho, hàng rào, tháp nước, sân bãi, các công trình trang trí cho nhà
cửa, đường xá, cầu cống, đường sắt, đường băng sân bay, cầu tầu, cầu cảng8.
Cách xác định tài sản là bất động sản hợp pháp là căn cứ vào giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu đất, hoặc một trong các giấy tờ hợp lệ về
quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai, giấy chứng nhận
quyền sở hữu nhà, quyết định cấp nhà, cấp đất, quyết định giao đất, cho thuê đất,
để sử dụng trong khuôn khổ của chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh
nghiệp; được nắm giữa chủ yếu cho mục đích thương mại hoặc cho mục đích
ngắn hạn; là tiền hoặc tài sản có giá trị tương đương với tiền mà việc sử dụng
không gặp một hạn chế nào.
(ii) Tài sản dài hạn. Tài sản dài hạn là các tài sản khác ngoài tài sản ngắn hạn,
bao gồm: Tài sản cố định, tài sản đầu tư tài chính dài hạn và tài sản dài hạn khác.
+ Tài sản vô hình. Tài sản vô hình là tài sản không có hình thái vật chất
nhưng xác định được giá trị do chủ tài sản nắm giữa để phục vụ cho mục đích
của mình; nó có thể gồm: Kỹ năng quản lý, bí quyết marketting, danh tiếng, uy
tín, thương hiệu, biểu tượng doanh nghiệp và việc sở hữu các quyền và công cụ
hợp pháp (quyền sử dụng đất, quyền sáng chế, bản quyền, quyền kinh doanh hay
các hợp đồng).
Các quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể được chuyển giao
trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ. Quyền tài sản là tài sản vô hình.
Quyền tài sản là một khái niệm pháp lý bao hàm tất cả quyền, lợi ích và lợi tức liên
quan đến quyền sở hữu, nghĩa là người chủ sở hữu được hưởng một hay những
quyền lợi khi làm chủ tài sản đó. Quyền sở hữu tài sản là một nhóm những quyền
năng mà mỗi quyền năng có thể tách rời với quyền sở hữu và chuyển giao trong
giao dịch dân sự, bao gồm: Quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt,
Quyền tài sản gắn với lợi ích thu được từ quyền tài sản được gọi là tài sản thực.
- Tài sản nợ. Tài sản nợ là các loại nợ của doanh nghiệp, căn cứ vào sự an
toàn đối với các khoản nợ của doanh nghiệp bị TBPS, có thể phân loại nợ thành:
Nợ có đảm bảo, nợ có đảm bảo một phần, nợ không có đảm bảo.
+ Nợ có đảm bảo. Nợ có đảm bảo là các khoản nợ được đảm bảo bằng tài
sản của doanh nghiệp hoặc của người thứ ba. Căn cứ vào thời hạn thanh toán
trước thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản có thì nợ có đảm
14
Hà Thị Khánh Huyền (2015), Xử lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn theo Luật
Phá sản năm 2014, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội, tr 14.
15
+ Nợ chưa đến hạn thanh toán. Nợ chưa đến hạn thanh toán là khoản nợ
mà theo đó doanh nghiệp chưa phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Kể từ ngày ra
quyết định mở thủ tục phá sản, các khoản nợ được tiếp tục tĩnh lãi theo thỏa
thuận nhưng được tạm dừng việc trả lãi. Đối với khoản nợ mới phát sinh sau khi
mở thủ tục phá sản đến thời điểm tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản thì tiền lãi
của khoản nợ đó được xác định theo thỏa thuận nhưng không trái với quy định
của pháp luật. Kể từ ngày ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản thì
khoản nợ này không được tiếp tục tính lãi.
Việc phân loại tài sản nợ của doanh nghiệp bị TBPS thành nợ đến hạn
thanh toán và nợ chưa đến hạn thanh toán giúp cho Tòa án có thể xác định một
cách chính xác doanh nghiệp đã lâm vào tình trạng phá sản hay chưa. Bởi lẽ,
doanh nghiệp chỉ lâm vào tình trạng phá sản khi mất khả năng thanh toán khoản
nợ đến hạn, các khoản nợ này là các khoản nợ không có đảm bảo hoặc có đảm
bảo một phần. Tuy nhiên, nếu chủ nợ yêu cầu thanh toán mà nhưng doanh
nghiệp không có khả năng thanh toán, không được doanh nghiệp thanh toán thì
mới được coi là lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn hay lâm
vào tình trạng phá sản.
Như vậy, tùy thuộc vào quan điểm của các quốc gia mà việc xác định và
phân loại tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản cũng có sự khác
nhau nhất định. Tuy nhiên, việc xác định và phân loại tài sản của doanh nghiệp
lâm vào tình trạng phá sản có ý nghĩa rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến
việc mở hay không mở thủ tục phá sản, mở hay không mở thủ tục xử lý tài sản
của doanh nghiệp, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ nợ và doanh nghiệp
- Trong quá trình giải quyết phá sản, các chủ nợ không thể tự xé lẻ để đòi
nợ riêng mà phải cùng với đại diện người lao động tập hợp lại thành một chủ thể
pháp lý duy nhất, gọi là HNCN.
- Thủ tực xử lý tài sản của doanh nghiệp bị TBPS không được áp dụng
riêng rẽ đối với chủ nợ mà được áp dụng đối với tập thể chủ nợ, toàn bộ tài sản
của con nợ được đưa vào một quỹ chung dùng để trả nợ cho các chủ nợ theo một
thứ tự ưu tiên nhất định được pháp luật quy định.
Lý giải cho việc, thủ tục xử lý tài sản của doanh nghiệp bị TBPS là một
thủ tục thanh toán nợ tập thể, bởi lẽ cơ quan có thẩm quyền mở thủ tục phá sản
là Tòa án có thẩm quyền chứ không phải chủ nợ và khi thanh toán không phải tất
17
cả các chủ nợ đều được thanh toán đầy đủ. Do đó, thủ tục xử lý tài sản trong thủ
tục phá sản phải được tiến hành tập thể để bảo đảm quyền lợi một cách công
bằng nhất cho các chủ nợ. Các chủ nợ dẽ được thanh toán theo một thứ tự trên cơ
sở tính chất các khoản nợ, đảm bảo vị trí của các chủ nợ trong quá trình tố tụng
phá sản. Hơn nữa, việc từng chủ nợ đi đòi nợ sẽ dẫn tới hiện tượng ai nhanh chân
thì có lợi hơn và người đến sau sẽ không được bảo đảm về quyền lợi. Vì vậy, cần
phải có một thủ tục mang tính tập thể để bảo vệ quyền lợi cho các chủ nợ.
Việc đòi nợ và thanh toán các khoản nợ được tiến hành thông qua cơ quan
nhà nước có thẩm quyền, đó là Tòa án các cấp sẽ có thẩm quyền giải quyết theo
quy định của pháp luật. Chủ nợ có quyền đòi nợ, tuy nhiên việc đòi nợ này phải
thông qua Tòa án thể hiện ở thủ tục gửi giấy đòi nợ. Việc thanh toán nợ của
doanh nghiệp cũng không diễn ra trực tiếp mà phải thông qua các cơ quan đại
diện. Chủ nợ nhận được số nợ của mình từ các cơ quan đại diện này chứ không
nhận trực tiếp từ doanh nghiệp mắc nợ. Chính điều này tạo nên sự khác biệt của
thủ tục đòi và thanh toán nợ trong thủ tục phá sản, so với thủ tục đòi nợ và thanh
toán nợ thông thường.
án gần như không can thiệp vào quá trình giải quyết đó của các bên. Như đã
biết, Tòa án là cơ quan có thẩm quyền ra quyết định việc phục hồi hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp, thanh lý tài sản hoặc TBPS nhưng Tòa án không
trực tiếp thanh toán nợ của doanh nghiệp mà thông qua các cơ quan quản lý,
thanh lý tài sản được thành lập để tiến hành thanh toán nợ. Tuy nhiên, việc
thanh toán các khoản nợ chỉ được tiến hành sau khi có quyết định của Tòa án,
chỉ khi Tòa án cho phép, doanh nghiệp mắc nợ mới được tiến hành thanh toán
cho chủ nợ. Quy định việc thanh toán các khoản nợ chỉ được tiến hành khi có
quyết định của Tòa án nhằm đảm bảo sự phân chia công bằng tài sản của doanh
nghiệp bị TBPS cho tất cả các chủ nợ, cũng như tạo điều kiện cho doanh
nghiệp mắc nợ phục hồi hoạt động kinh doanh khi còn có khả năng phục hồi
hoạt động kinh doanh.
Như vậy, xử lý tài sản của doanh nghiệp bị TBPS là một thủ tục pháp lý
đặc biệt, nó cũng bao gồm thủ tục đòi nợ và thanh toán nợ nhưng nó khác với thủ
tục đòi nợ và thanh toán nợ thông thường vì những đặc điểm đặc biệt của nó
trong suốt quá trình đòi nợ và thanh toán nợ.