ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐẶNG THỊ THANH
MUA BÁN DOANH NGHIỆP THEO QUY ĐỊNH
CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH: LUẬT KINH DOANH
Hệ đào tạo: Chính quy
Khóa học: QH-2011-L
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS. Phan Thị Thanh Thủy
HÀ NỘI, 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp đại học là công trình nghiên cứu của
riêng tôi dưới dự hướng dẫn của TS. Phan Thị Thanh Thủy. Các kết quả nêu trong
Khóa luận tốt nghiệp chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số
liệu, ví dụ và trích dẫn trong Khóa luận tốt nghiệp đảm bảo tính chính xác, tin cậy
và trung thực. tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các
nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo
vệ Khóa luận tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
: Hội đồng thành viên
TNHH
: Trách nhiệm hữu hạn
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thương trường là chiến trường, thất bại của người này là cơ hội cho người
khác. Bối cảnh toàn cầu hóa và khủng hoảng kinh tế đã đẩy nhiều doanh nghiệp lâm
vào tình trạng khó khăn, để tránh nguy cơ phá sản không ít doanh nghiệp đã lựa chọn
cách thức mua bán, sáp nhập doanh nghiệp (M&A) như một giải pháp cứu cánh.
Trên thế giới, hoạt động M&A được hình thành khá sớm và được coi là một
trong những giải pháp tổ chức lại doanh nghiệp, đồng thời cũng tạo ra xu thế tập trung
lại để thống nhất, tập hợp nguồn lực tài chính, công nghệ, nhân lực, thương hiệu nhằm
nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, hoạt động này đã được pháp luật các nước
thừa nhận và có khung pháp lý điều chỉnh, nhất là các nước có thị trường M&A phát
triển như Châu Âu, Nhật Bản, Mỹ…Ở Việt Nam, hoạt động M&A đã xuất hiện hơn 10
năm và theo đánh giá của nhiều chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước thì Việt Nam là
“mảnh đất hứa” cho thị trường M&A trong thời gian tới.
Để thị trường M&A phát triển năng động và ổn định cần dỡ bỏ những rào
cản trong hoạt động thương mại, tài chính này, trong đó hệ thống pháp luật là một
yếu tố quan trọng. Tuy nhiên, pháp luật M&A của Việt Nam còn đang được quy
định rải rác ở các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau và chưa có sự thông nhất,
hơn nữa mới chỉ quy định một cách chung chung, về mặt hình thức mà chưa có quy
định cụ thể về mặt nội dung. Điều này gây khó khăn cho các chủ thể tham gia giao
dịch cũng như cơ quan quản lý nhà nước.
M&A là một thuật ngữ song hành được kết hợp bởi hai thành tố là “sáp
nhập” và “mua bán” doanh nghiệp. Hiện nay, pháp luật Việt Nam đã có những quy
hành; tìm ra những điểm mới trong LDN 2015 sẽ có hiệu lực vào tháng 7/2015 cũng
như đưa ra dự đoán cho thị trường mua bán doanh nghiệp trong thời gian tới; chỉ ra
những bất cập mà LDN mới cũng như các luật liên quan chưa giải quyết được từ đó
đưa ra kiến nghị để hoàn thành khung pháp luật cho hoạt động M&A nói chung và
mua bán doanh nghiệp nói riêng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Hoạt động mua bán doanh nghiệp diễn ra rất phức tạp vì nó liên quan tới rất
nhiều văn bản luật khác nhau và các ngành nghề khác nhau, vì vậy mua bán doanh
nghiệp cũng có những đặc thù khác nhau, chẳng hạn mua bán các ngân hàng thương
2
mại sẽ khác so với các công ty chứng khoán, cũng như các doanh nghiệp thông
thường. Ngoài ra, các loại hình công ty khác nhau thì hoạt động mua bán cũng sẽ
khác nhau, mua bán các doanh nghiệp tư nhân khác với các công ty trách nhiệm
hữu hạn (TNHH) cũng như khác so với công ty cổ phần (CTCP), trong đó, trong
công ty cổ phần lại chia ra, công ty cổ phần đại chúng và công ty cổ phần chưa đại
chúng thì hoạt động mua bán cũng sẽ khác nhau về phương diện pháp lý. Tuy
nhiên, đối tượng nghiên cứu trong khóa luận này là các công ty cổ phần và công ty
TNHH nhưng với điều kiện là sắp cổ phần hóa và hoạt động mua bán là đối với các
công ty trong nước không có yếu tố nước ngoài.
Hoạt động mua bán doanh nghiệp trải qua nhiều khâu, đây là một hoạt động
tài chính, thương mại nên liên quan đến cả lĩnh vực kinh tế và pháp luật, khóa luận
chỉ nghiên cứu vấn đề trên cơ sở pháp luật.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng phép biện chứng duy
vật của triết học Mác- Lênin làm cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là tùy theo các chương khác nhau mà
phương pháp phân tích, diễn dịch, quy nạp hay so sánh được thực hiện.
Lịch sử ra đời của hoạt động mua bán doanh nghiệp
1.1.1. Lịch sử ra đời và phát triển của hoạt động mua bán doanh nghiệp
trên thế giới
Giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là thời kỳ đỉnh cao trong quá trình tập
trung tư bản của nền kinh tế thế giới cùng sự phát triển với tốc độ nhanh chóng của các
cường quốc mới nổi như Hoa Kỳ, Đức, Nhật Bản…Đây được coi là thời kỳ chuyển
giao từ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa tư bản độc quyền với sự hình
thành của các tập đoàn công nghiệp khổng lồ, chính sự chuyển giao này đã dẫn đến sự
phát triển của hoạt động M&A, mà thông qua đó các công ty có thể thực hiện việc thâu
tóm quyền lực quản trị của mình tại doanh nghiệp cũng như thâu tóm thị trường, từ đó
đến nay trên thế giới xuất hiện 5 làn sóng mua bán công ty. [30].
Làn sóng thứ nhất những năm 1897-1904: làn sóng này được coi là khởi
đầu của hoạt động mua bán công ty trên thế giới, do quá trình bùng nổ nhanh
chóng của nền kinh tế, hệ thống giao thông được nâng lên một tầm cao mới, hệ
thống văn bản pháp luật về công ty được quy định đầy đủ. Trong thời gian này
chủ yếu các hoạt động mua bán diễn ra giữa các công ty phát triển công nghiệp
nặng, vì vậy số lượng các vụ mua bán còn rất hạn chế. Tuy nhiên đợt sóng này
chấm dứt nhanh chóng do khủng hoảng kinh tế những năm 1903 và sự sụp đổ
của thị trường chứng khoán năm 1904. Điển hình trong giai đoạn này là vụ
PepsiCo mua 80% cổ phần nước uống hoa quả Sandora LLC Ucraina[31]
Làn sóng thứ hai những năm 1916- 1929: làn sóng này được khởi tạo từ sự
bùng nổ của kinh tế thế giới sau chiến tranh thế giới thứ nhất, nhu cầu về các mặt
hàng nhu yếu phẩm tăng mạnh tạo đà thuận lợi cho các công ty phát triển mạnh mẽ
và cạnh tranh trên thị trường, sự phát triển về khoa học công nghệ cũng tạo điều
kiện thuận lợi cho các công ty tăng năng suất lao động, cải tiến chất lượng hàng
hóa. Hàng loạt các vụ mua bán diễn ra trong các lĩnh vực luyện kim, hóa dầu, thuốc,
5
6
giảm sút được bắt đầu từ năm 2000. Các giao dịch mua bán hiện tại dường như
chú tâm đến các thỏa thuận mang tính thiện chí hơn là thông qua việc đấu thầu
có tính chất cạnh tranh vì số lượng các giao dịch thông qua đấu thầu giữa các đối
thủ cạnh tranh chỉ ở mức độ khiêm tốn[35].
Gần đây, hoạt động M&A vẫn diễn ra chủ yếu tại Mỹ và châu Âu. Tuy nhiên, tốc
độ tăng M&A tại các châu lục này đã suy giảm và Châu Á đang trở thành miền đất hứa.
Có thể thấy sự suy thoái của nền kinh tế Mỹ khiến cho các quỹ đầu tư, công ty và tập
đoàn lớn trên thế giới nghĩ đến việc chuyển hướng kinh doanh sang các quốc gia có nền
kinh tế phát triển nhanh. Bằng chứng là một loạt các thương vụ M&A mới đây cho thấy
một tỷ lệ lớn các công ty nước ngoài đang tiến vào thị trường châu Á. Và bản thân các
nước đang phát triển cũng mở rộng hoạt động liên doanh, liên kết với nước ngoài để tận
dụng công nghệ, tiếp thu trình độ quản lý, tăng cường thị phần, quy mô và giảm đối thủ
cạnh tranh [39].
M&A trên thế giới đã tồn tại từ rất lâu đời và có lịch sử hàng trăm năm và
được biểu hiện dưới nhiều dạng thức khác nhau. Và cho dù có thực hiện theo
phương thức nào đi chăng nữa, các làn sóng chuyển nhượng đều phát triển theo quá
trình tỷ lệ thuận với sự phát triển của nền kinh tế va thị trường chứng khoán. Nó
chịu sự tác động bởi những thay đổi trong đó có các quy định pháp luật của bộ máy
chính quyền cũng như cũng bị cuốn theo sự thay đổi mang tính đột phá trong kỹ
thuật và công nghệ. Tuy nhiên, hiệu quả mà các hoạt động chuyển nhượng này
mang lại là khả năng đem lại cơ hội phục hồi nền kinh tế thường rất cao.
1.1.2. Sự ra đời và phát triển của hoạt động mua bán doanh nghiệp tại
Việt Nam
Nếu như trước đây cụm từ “M&A” còn khá mới mẻ so với các doanh nghiệp
Việt Nam thì hiện nay nó đang dần trở thành một trào lưu khá quen thuộc và có thể nói
nó đã trở thành một phần không thể thiếu trong điều kiện nền kinh tế thị trường và hội
tăng
trưởng
bình
quân
đạt
65%/năm
trong
giai
đoạn
2009-2012.
Năm 2013 cũng chứng kiến nhiều thương vụ mua bán sáp nhập với quy mô lớn
trong nhiều lĩnh vực từ kinh tế, sản xuất công nghiệp, bất động sản đến dịch vụ.
Trong quý I/2013 thị trường M&A diễn ra 14 thương vụ với tổng giá trị 675,5 triệu
USD với những thương vụ quy mô lớn thuộc về lĩnh vực bất động sản. Điển hình
như việc chuyển nhượng Trung tâm thương mại Vincom Center A tại TP.HCM của
Vingroup cho Công ty Cổ phần Tập đoàn phát triển hạ tầng và bất động sản Việt
8
Nam (VIPD Group) với trị giá 470 triệu USD. Thị trường cũng chứng kiến các các
một công ty mới, còn thâu tóm (acquisition) để chỉ việc chuyển giao sở hữu một
công ty sang một công ty khác mà không xuất hiện thêm công ty mới”.
Theo US history encyclopedia: sáp nhập (merger) là sự kết hợp giữa hai
công ty để hình thành một công ty mới, còn thâu tóm là việc một công ty này tìm
cách nắm quyền kiểm soát một công ty khác.
Theo Sherman, A.J. [32] “sáp nhập là sự kết hợp giữa hai hay nhiều công ty
mà qua đó tài sản và nghĩa vụ của công ty bán được chuyển giao sang cho công ty
mua. Mặc dù có thể có sự thay đổi về cấu trúc tổ chức nhưng công ty mua vẫn giữ
bản sắc ban đầu sau cuộc sáp nhập. Thâu tóm/mua lại (acquitition) là việc mua lại
một tài sản, ví dụ như một nhà máy, một chi nhánh hoặc thậm chí cả một công ty
nhằm mở rộng thị trường và đa dạng hóa sản phẩm; ngoài ra thâu tóm còn bao gồm
cả việc mua lại cổ phần chi phối”.
Theo từ điển luật học (2012) “sáp nhập và mua lại” là sự kết hợp hai hay
nhiều công ty khi một trong hai công ty bị hấp thụ bởi công ty còn lại, công ty yếu
hơn sẽ mất đi tư cách pháp lý và trở thành một phần của công ty mạnh hơn- chủ thể
vẫn giữ lại tư cách pháp lý của mình.
Pháp luật các nước coi M&A là một hình thức đầu tư trực tiếp, cụm từ này
được phát âm cùng nhau, cùng nghĩa với nhau nhưng khi để độc lập thì lại mang
những ý nghĩa và cách thức tiến hành hoàn toàn khác nhau. theo đó:
Acquisition- mua lại là hoạt động của một doanh nghiệp khi muốn nắm giữ
hoặc tìm cách kiểm soát hoạt động của một công ty khác thông qua việc mua một
phần tài sản hoặc cổ phần chi phối đủ để khống chế toàn bộ hoạt động của công ty
mục tiêu hay nói cách khác nếu như một công ty chiếm lĩnh được hoàn toàn một
công ty khác và đóng vai trò là người chủ sở hữu mới thì việc mua lại công ty đối
tác được gọi là mua lại (38, Tr. 7-8). Trên góc độ pháp lý công ty bị mua sẽ
ngừng hoạt động, công ty tiến hành mua lại sẽ nắm giữ quyền quản lý hoạt động
công ty của công ty kia, tuy nhiên cổ phiếu của công ty đi mua lại vẫn được giao
dịch bình thường. Một công ty có thể mua lại công ty khác bằng tiền mặt, cổ
doanh nghiệp không đưa ra định nghĩa về “mua bán doanh nghiệp”, tuy nhiên lại có
quy định riêng về “bán doanh nghiệp tư nhân” tại điều 145, việc bán loại hình doanh
nghiệp này đơn giản hơn so với công ty TNHH hay công ty cổ phần do tính chất một
chủ. Như vậy LDN chỉ thừa nhận mua bán doanh nghiệp tư nhân. Đối với các doanh
11
nghiệp là công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp danh luật này không có quy
định cho phép các doanh nghiệp này được bán toàn bộ doanh nghiệp của mình.
- Trước đây tại Nghị định 103/1999/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày
10/09/1999 về giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê doanh nghiệp nhà nước và sau
này nghị định 109/2008/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 10/10/2008 về bán,
giao doanh nghiệp 100% vốn nhà nước quy định “bán doanh nghiệp là việc chuyển
sở hữu có thu tiền toàn bộ doanh nghiệp hoặc bộ phần doanh nghiệp sang sở hữu
tập thể, cá nhân hoặc pháp nhân” (khoản 1, điều 3). Định nghĩa này cho biết quan
hệ chuyển giao quyền sở hữu và đối tượng của quan hệ mua bán là một phần hoặc
toàn bộ tài sản của doanh nghiệp.
- Luật Cạnh tranh 2004: “mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua
toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ
hoặc một phần ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại”(khoản 3, điều 17); điều 34
Nghị định 116/2005/NĐ-CP ngày 15/09/2005, Nghị định quy định chi tiết một số điều
của Luật Cạnh tranh quy định “kiểm soát hoặc chi phối toàn bộ hoặc một nghành nghề
của doanh nghiệp khác là trường hợp một doanh nghiệp (sau đây gọi là doanh nghiệp
kiểm soát) giành được quyền sở hữu của doanh nghiệp khác (sau đây gọi là doanh
nghiệp bị kiểm soát) đủ chiếm được trên 50% quyền bỏ phiếu tại đại hội đồng cổ đông,
hội đồng quản trị hoặc ở mức mà theo quy định của pháp luật hoặc điều lệ của doanh
nghiệp bị kiểm soát đủ để doanh nghiệp kiểm soát chi phối các chính sách tài chính và
hoạt động của doanh nghiệp bị kiểm soát nhằm thu được lợi ích kinh tế từ hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp bị kiểm soát”. Với quy định này của Luật Cạnh tranh thì
niệm mua bán doanh nghiệp, trong khi đó pháp luật thế giới lại đề cập đến mua bán
doanh nghiệp trong một thuật ngữ chung là M&A.
Từ nghiên cứu pháp luật các nước cũng như Việt Nam, có thể đưa ra khái
niệm “mua bán doanh nghiệp” như sau: “Mua bán doanh nghiệp là một vụ giao dịch
mà ở đó một cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp được biết đến như một bên đề nghị
(bên mua) giành quyền quản lý hoạt động cũng như tài sản của công ty bị mua lại”.
từ đây có thể rút ra một số đặc trưng pháp lý của hoạt động mua bán doanh nghiệp:
Thứ nhất, mua bán doanh nghiệp là một giao dịch dân sự, mang bản chất
pháp lý của quan hệ mua bán- có sự chuyển quyền sở hữu có thu tiền. Tuy nhiên,
13
đối tượng mua bán không phải là tài sản đơn thuần như các giao dịch dân sự thông
thường mà là “doanh nghiệp- một thực thể pháp lý, một hàng hóa đặc biệt”, “hàng
hóa- doanh nghiệp” bao gồm tài sản hữu hình và giá trị tiềm năng của doanh nghiệp
như: tên thương mại, nhãn hiệu hàng hóa, hệ thống khách hàng và các yếu tố khác liên
quan đến sản nghiệp thương mại.
Thứ hai, chủ thể thực hiện là bên bán hoặc bên mua
Bên bán là chủ sở hữu doanh nghiệp. Bên mua có thể là doanh nghiệp, cá
nhân, tổ chức và phải thỏa mãn điều kiện không bị cấm góp vốn vào doanh nghiệp
theo quy định tại khoản 4 điều 13, LDN 2005.
Thứ ba, mua bán doanh nghiệp có nội dung là sự chuyển giao toàn bộ quyền
và nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp mục tiêu. Bao gồm chuyển giao tài sản,
quyền và nghĩa vụ pháp lý khác như các nghĩa vụ và quyền lợi về lao động, quyền
và nghĩa vụ đối với khách hàng, chủ nợ và con nợ.
Thứ tư, mục đích của hoạt động mua bán là giành quyền chi phối đối với
hoạt động của doanh nghiệp vì thế hậu quả pháp lý chỉ có thể dẫn đến việc chấm
dứt hoạt động kinh doanh của chủ đầu tư mà không chấm dứt hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp, chủ đầu tư sẽ mất đi tư cách chủ sở hữu toàn bộ hoặc một phần
thủ tục hành chính, bên cạnh đó M&A cũng giúp các doanh nghiệp tiết kiệm chi phí
“bôi trơn” khi thành lập một doanh nghiệp mới và các chi phí phát sinh khác.
1.3. Pháp luật về mua bán doanh nghiệp
Mua bán doanh nghiệp có tính phức tạp, bao trùm tất cả các vấn đề về tài
sản, nguồn vốn, thị trường, thương hiệu, cấu trúc quản lý, nhân sự, văn hóa… mua
bán doanh nghiệp được nghiên cứu dưới góc độ kinh tế, tài chính, pháp lý và nội
dung nghiên cứu về mua bán doanh nghiệp khác nhau do tiếp cận ở các góc độ khác
nhau. Pháp luật mua bán doanh nghiệp có thể được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa
hẹp. Theo nghĩa rộng: pháp luật mua bán doanh nghiệp là tổng hợp các quy phạm
pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau điều chỉnh các quan hệ xã hội
phát sinh trong quá trình các bên tiến hành hoạt động mua bán doanh nghiệp. Theo
nghĩa hẹp pháp luật mua bán doanh nghiệp là hệ thống các quy phạm pháp luật điều
chỉnh trực tiếp các quan hệ xã hội phát sinh giữa bên mua, bên bán doanh nghiệp
trong việc ký kết hợp đồng mua bán doanh nghiệp và quan hệ giữa cơ quan quản lý
15
nhà nước có thẩm quyền với doanh nghiệp trong việc đăng ký thay đổi chủ sở hữu
doanh nghiệp hoặc thực hiện kiểm soát nhà nước về tập trung kinh tế. Pháp luật về
mua bán doanh nghiệp theo nghĩa hẹp bao gồm các quy định cụ thể điều chỉnh trực
tiếp mối quan hệ giữa các bên tham gia thương vụ mua bán doanh nghiệp. Cụ thể
pháp luật về mua bán doanh nghiệp theo nghĩa hẹp với nội hàm: quy định về các
hình thức mua bán doanh nghiệp; quy định về chủ thể với vai trò là bên bán, bên
mua doanh nghiệp; quy định về hợp đồng mua bán doanh nghiệp; quy định về thủ
tục mua bán doanh nghiệp; quy định về kiểm soát doanh nghiệp dưới góc độ của
pháp Luật Cạnh tranh.
Hiện nay, trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam chưa có văn
bản quy phạm pháp luật luật hay văn bản dưới luật quy định về hoạt động mua bán
doanh nghiệp mà chỉ có quy định rải rác trong các văn bản với những nội dung chủ
yếu sau:
thông qua chào mua công khai (điều 32), quy định về bảo vệ cổ đông thiểu số khi
việc chào mua dẫn đến nắm 80% cổ phiếu; quy định về nghĩa vụ báo cáo của cổ
đông sở hữu 5% cổ phiếu có quyền biểu quyết trở lên phải báo cáo công ty đại
chúng, Ủy ban Chứng khoán nhà nước(điều 29), quy định này giúp cho cổ đông
công ty sớm phát hiện mục tiêu thôn tính công ty của nhà đầu tư.
- Các quy định liên quan còn được xuất hiện tại một số văn bản khác như
luật các tổ chức tín dụng 2010; Nghị định109/2008/NĐ-CP hướng dẫn giao, bán,
khoán doanh nghiệp 100% vốn nhà nước; Nghị định 102/2010/NĐ-CP hướng dẫn
thi hành LDN 2005.
Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động mua bán doanh nghiệp hiện nay của Việt
Nam chưa thống nhất và đồng bộ, vì vậy gây nhiều quan ngại cho các nhà đầu tư.
17
TIỂU KẾT
Hoạt động mua bán doanh nghiệp có vai trò quan trọng đối với các chủ thể
tham gia cũng như đối với nền kinh tế trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới đang
diễn ra nhanh chóng. Mua bán doanh nghiệp đã hình thành từ lâu trên thế giới và ở
Việt Nam tuy hình thành khá muộn nhưng xu thế phát triển trong tương lai là điều
chắc chắn.
Trong chương 1, tác giả đã nêu sơ lược về lịch sử phát triển của hoạt động
mua bán doanh nghiệp trên thế giới cũng như Việt Nam, vai trò của hoạt động này
cũng như đưa ra quan niệm về “mua bán doanh nghiệp” và nêu tổng thể về pháp
luật mua bán doanh nghiệp tại Việt Nam. Mục đích của nghiên cứu này là đưa ra cái
nhìn tổng quát về hoạt động mua bán doanh nghiệp cũng như pháp luật mua bán
doanh nghiệp ở Việt Nam.
18
19
sẽ tiến hành ĐHĐCĐ đối với công ty cổ phần (điều 97, LDN 2005) hoặc họp HĐTV
đối với công ty TNHH (điều 50, LDN 2005). LDN đã có quy định về bảo vệ cổ đông
thiểu số, cũng như thành viên yếu thế trong công ty khi khoản 6 điều 97 cho phép “cổ
đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông trong thời hạn
liên tục ít nhất 6 tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại điều lệ công ty được
quyền triệu tập họp ĐHĐCĐ nếu Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát không triệu tập”;
đối với công ty TNHH thì khoản 3 điều 50 cho phép “thành viên hoặc nhóm thành viên
sở hữu trên 25% vốn điều lệ hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn do điều lệ công ty quy định
có quyền triệu tập họp HĐTV nếu chủ tịch HĐTV không triệu tập”.
Quyết định bán sẽ được thông qua khi ít nhất 75% tổng số phiếu biểu quyết của
tất cả cổ đông dự họp ĐHĐCĐ chấp thuận (điểm b, khoản 3, điều 104, LDN 2005)
hoặc ít nhất 75% tổng số vốn góp của các thành viên dự họp HĐTV chấp thuận (điểm
b, khoản 2, điều 52, LDN 2005).
+ Chào bán công khai
Để thực hiện chào bán, các cổ đông phải tiến hành các thủ tục liên quan đến
việc ra quyết định bán công ty như đã phân tích ở trên, giá chào bán trong trường hợp
này có thể bằng hoặc thấp hơn giá trị tài sản định giá của công ty. Sau khi ĐHĐCĐ
hoặc HĐTV ra quyết định bán công ty, người đại diện theo pháp luật hoặc người được
cử thực hiện giao dịch sẽ thông báo thông tin lên các phương tiện đại chúng. Nếu có
nhà đầu tư đồng ý thực hiện giao dịch hai bên sẽ tiến hành gặp gỡ, đàm phán và thương
thảo hợp đồng.
Chào mua công khai và chào bán công khai là giai đoạn đầu tiên của một
thương vụ mua bán doanh nghiêp, sau khi bên mua và bên bán đã gặp nhau ở nhu cầu
chuyển nhượng công ty và giá thành, hai bên sẽ tiếp tục tiến hành các thủ tục tiếp theo
đó là ký kết hợp đồng mua bán công ty. Hợp đồng này sẽ là căn cứ pháp lý để thực
hiện các thủ tục tiếp theo như thanh toán, chuyển giao quyền sở hữu và thủ tục đăng ký
với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
nhập. Đối với trường hợp mua lại toàn bộ công ty thì sẽ không thể có loại hợp đồng
này. Vì vậy, việc thực hiện hợp nhất, sáp nhập trên chỉ đơn giản là hợp nhất, sáp
nhập về mặt tài sản giữa công ty mua và công ty bị mua lại và thủ tục tiến hành sẽ
khác so với quy định tại điều 152. 153 LDN 2005. Theo đó thủ tục như sau: Đối với
công ty bị mua: tiến hành thủ tục đóng mã số thuế[18]. Đối với công ty mua: sau khi
21