Quy định của pháp luật về quyền sử dụng đất của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài của lào và việt nam dưới góc độ so sánh - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

KHITTHACHANH PHETOUTHONE

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
CỦA DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
CỦA LÀO VÀ VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ SO SÁNH
Chuyên ngành

: Luật Kinh tế

Mã số

: 60.38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG

HÀ NỘI - 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn: “Quy định pháp luật về quyền sử dụng đất
của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài của Lào và Việt Nam dưới góc
độ so sánh” là do bản thân tự thực hiện và không sao chép các công trình
nghiên cứu của người khác để làm sản phẩm của riêng mình. Những nội dung

:

Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào

CHXHCN

:

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

CNH - HĐH

:

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

ĐNDCM Lào

:

Đảng nhân dân cách mạng Lào

ĐTNN

:

Đầu tư nước ngoài

FDI


1.2. Vai trò của pháp luật về quyền sử dụng đất của doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài.............................................................................. 17
1.3. Pháp luật về quyền sử dụng đất của doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài của Lào .................................................................................. 20
1.3.1. Khái quát về sự hình thành và phát triển của pháp luật về quyền sử
dụng đất của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài của Lào ............... 20
1.3.2. Nội dung cơ bản của pháp luật về quyền sử dụng đất của doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài của Lào .............................................. 26
1.4. Pháp luật về quyền sử dụng đất của doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài của Việt Nam ......................................................................... 28
1.4.1. Khái quát về sự hình thành và phát triển của pháp luật về quyền sử
dụng đất của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài của Việt Nam ....... 28


1.4.2. Nội dung cơ bản của pháp luật về quyền sử dụng đất của doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài của Việt Nam ..................................... 33
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ..................................................................................... 35
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA
DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI CỦA LÀO VÀ VIỆT NAM NHÌN TỪ GÓC ĐỘ SO SÁNH .............................................................................. 36

2.1. Quy định của pháp luật về hình thức sử dụng đất (Nhà nước giao
đất, cho thuê đất) của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài của Lào
và Việt Nam .............................................................................................. 36
2.1.1. Quy định của pháp luật về hình thức sử dụng đất của doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài của Lào .......................................................... 36
2.1.2. Quy định của pháp luật về hình thức sử dụng đất của doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài của Việt Nam................................................. 38
2.2. Quy định của pháp luật về thời hạn sử dụng đất của doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài của Lào và Việt Nam ..................................... 43
2.3. Quy định của pháp luật về các quyền và nghĩa vụ chung cơ bản

3.3. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền sử dụng
đất của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Lào ....................... 79
3.3.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về quyền sử dụng đất của
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Lào ..................................... 79
3.3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền sử dụng đất của doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Lào ................................................ 82
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 ..................................................................................... 87
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................90


1

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thu hút đầu tư nước ngoài là vấn đề mang tính chất toàn cầu và là xu
thế của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới nhằm thúc đẩy sự phát
triển của thị trường sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, thu hút nguồn vốn, chia sẻ
tiến bộ của khoa học kỹ thuật, nâng cao hiệu quả kinh doanh, tận dụng và
phát triển tối đa nguồn tài nguyên, nguyên liệu tại chỗ, nâng cao đời sống
kinh tế - xã hội, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các quốc gia. Nhận thức
được tầm quan trọng đó, thời gian qua, Nhà nước, Chính phủ Lào đã ban hành
một số văn bản pháp luật khuyến khích và thu hút đầu tư nước ngoài, một
trong số những chính sách nhằm thu hút đầu tư từ nước ngoài đó là việc mở
rộng các quy định của pháp luật về quyền sử dụng đất của doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài tại Lào trong Luật đất đai 2003.
Đất đai là loại tài sản đặc biệt của mỗi quốc gia, là tài có giá trị lớn và
có tầm quan trọng đối với chủ sử dụng trong việc duy trì, đảm bảo và phát
triển cuộc sống. Do đó, việc xác lập quyền sử dụng đất đai cần phải được quy
định một cách rõ ràng, hợp lý nhằm tạo cơ sở pháp lí để bảo đảm quyền và lợi

là việc hoàn thiện các chế định liên quan đến đất đai trong đó có việc ghi nhận
quyền sử dụng đất của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Việc học tập
kinh nghiệm của Việt Nam trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật của Lào
nói chung, pháp luật về quyền sử dụng đất của doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài nói riêng là thực sự cần thiết đối với Lào.
Với mong muốn tìm hiểu các quy định của pháp luật Lào và Việt Nam
trong việc quy định về quyền sử dụng đất của doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài, thông qua đó, giúp nhìn nhận những hạn chế và tiến bộ của pháp
luật mỗi quốc gia, thông qua việc học tập kinh nghiệp của Việt Nam sẽ đóng
góp vào việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về
quyền sử dụng đất của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Lào, để tiếp
tục thú hút mạnh mẽ hơn nữa đầu tư nước ngoài vào Lào, tôi đã quyết định
chọn đề tài: “Quy định pháp luật về quyền sử dụng đất của doanh nghiệp có


3

vốn đầu tư nước ngoài của Lào và Việt Nam dưới góc độ so sánh.” làm đề
tài luận văn tốt nghiệp cao học Luật của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Quy định của pháp luật về quyền sử dụng đất của doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài của Lào và Việt Nam dưới góc độ so sánh là một đề tài
tương đối mới. Trước đây, việc nghiên cứu về quyền sử dụng đất đã có nhiều
công trình nghiên cứu tuy nhiên chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu quyền sử dụng
đất của cá nhân, tổ chức trong nước hoặc một khía cạnh cụ thể của quyền sử
dụng đất như: Nguyễn Thị Hồng Nhung (2012), “Pháp luật về chuyển nhượng
quyền sử dụng đất trong kinh doanh bất động sản ở Việt Nam” Luận án tiến sĩ
luật học; Nguyễn Thị Thu Thủy (2013) “Hoàn thiện các quy định về thế chấp
quyền sử dụng đất của Luật Đất đai năm 2003” luận văn thạc sĩ luật học;
Nguyễn Thu Trang (2012) “Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất - Một số

nước trên thế giới cũng như trong khu vực nhằm rút ra bài học kinh nghiệm
cho Lào trong quá trình hoàn thiện pháp luật đất đai nói chung, hoàn thiện các
quy định pháp luật về quyền sử dụng đất của doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài tại Lào nói riêng trong thời gian tới.
4. Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của luận văn.
Nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài này là trình bày một cách có hệ
thống, so sánh, phân tích và chứng minh một cách có căn cứ các quy định của
pháp luật về quyền sử dụng đất của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
tại Lào và Việt Nam để thấy được quá trình hình thành, phát triển, hoàn thiện
và tiến bộ của pháp luật mỗi quốc gia về quyền sử dụng đất của doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài qua từng giai đoạn. Ngoài ra, tác giả luận văn cũng
trình bày những thành công và ưu điểm của pháp luật về quyền sử dụng đất
của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; đồng thời cố gắng trình bày đầy
đủ những khuyết điểm và bất cập của các quy định pháp lý về quyền sử dụng
đất của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong hệ thống pháp luật thực
định ở mỗi quốc gia.


5

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là lập luận một cách thuyết phục
về việc cần phải hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện hành về quyền sử
dụng đất của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Lào; Luận văn nêu ra
phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền sử dụng đất
của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng như các giải pháp để thực
thi có hiệu quả các quy định pháp luật trong lĩnh vực này tại Lào hiện nay.
5. Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
- Thực trạng pháp luật về quyền sử dụng đất của doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài của Lào và Việt Nam – nhìn từ góc độ so sánh: So sánh
điểm tương đồng và khác việt trong các quy định của pháp luật hai nước về

sử dụng đất của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài của một số nước trên
thế giới; từ đó, rút ra những kinh nghiệm phù hợp cho việc hoàn thiện pháp
luật về quyền sử dụng đất của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Lào.
- Luận văn trình bày, đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm
hoàn thiện pháp luật về quyền sử dụng đất của doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài tại Lào trên cơ sở học tập những điểm tiến bộ của pháp luật Việt
Nam.
8. Kết cấu của luận văn.
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo kết cấu
của luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1. Một số vấn đề lý luận về pháp luật quyền sử dụng đất của
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài của Lào và Việt Nam
Chương 2. Thực trạng pháp luật về quyền sử dụng đất của doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài của Lào và Việt Nam – nhìn từ góc độ so sánh
Chương 3. Một số yêu cầu và giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền
sử dụng đất của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài của Lào từ kinh
nghiệm của Việt Nam.


7

CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT QUYỀN SỬ DỤNG
ĐẤT CỦA DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
CỦA LÀO VÀ VIỆT NAM
1.1 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về quyền sử dụng đất của
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của quyền sử dụng đất
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là tài sản, là tư liệu
sản xuất đặc biệt rất quan trọng không thể thay thế trong tất cả các hoạt động

tế, đơn vị vũ trang, cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, các hộ gia
đình và cá nhân sử dụng có hiệu quả ổn định lâu dài. Nhà nước còn cho kiều
dân, người không quốc tịch và người nước ngoài thuê đất. Các tổ chức hoặc
nhóm người không được lấy đất làm hàng hoá mua bán, chuyển nhượng.
Về cơ bản, quy định về chế độ sở hữu đất đai của Lào và Việt Nam
tương đối giống nhau, theo đó đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân, không
thuộc về một cá nhân hay tổ chức nào. Quyền quản lý đất đai thuộc về Nhà
nước; các tổ chức, cá nhân chỉ được quyền sử dụng theo quy định của pháp
luật mà không được giao bán, chuyển nhượng đất đai như một loại hàng hóa
thông thường. Như vậy, các tổ chức, cá nhân không phải là chủ sở hữu đất,
nhưng được Nhà nước giao đất và trao cho QSDĐ. Đây là một quyền năng
đặc biệt không giống với quyền sử dụng bất kỳ một tài sản nào khác, NSDĐ
không chỉ được khai thác các lợi ích từ đất một cách ổn định lâu dài, mà họ
còn được chuyển QSDĐ, thực hiện các giao dịch dân sự và kinh tế về QSDĐ,
được cấp giấy chứng nhận QSDĐ. Nhà nước đã trao cho NSDĐ nhiều quyền
năng gần giống với quyền sở hữu đất, tiến gần đến quyền sở hữu để NSDĐ có
thể chủ động, độc lập quyết định việc sử dụng đất mang lại hiệu quả kinh tế
cao cho chính họ và cho Nhà nước. Vậy quyền sử dụng đất là gì?


9

Theo như nhận xét của ông Akiyama Ysuhiro giảng viên trường Đại
học Waseda, Nhật bản thì “riêng về QSDĐ nếu xem nội dung của nó, chúng
ta sẽ thấy rằng quyền này có bản chất rất gần với quyền sở hữu”1.
Theo định nghĩa của TS. Lê Xuân Bá thì: “Quyền sử dụng đất là một bộ
phận cấu thành của quyền sở hữu đất. Thông qua việc được độc quyền giao đất,
cho thuê đất, Nhà nước trao cho NSDĐ thực hiện trong thời hạn thuê đất, nhận
giao đất những quyền và nghĩa vụ nhất định, trong đó có sự phân biệt theo loại
đất, theo đối tượng sử dụng đất, theo hình thức thuê đất hoặc giao đất”2.

quyết định việc sử dụng đất của người sử dụng, do vậy QSDĐ có giới hạn về
thời gian và diện tích, về mục đích sử dụng, về quyền và nghĩa vụ sử dụng.
Việc phát sinh, thay đổi, chấm dứt QSDĐ phải được Nhà nước cho phép hoặc
công nhận. Về nguyên tắc Nhà nước chỉ trao QSDĐ cho những người có nhu
cầu, có khả năng sử dụng đất mang lại hiệu quả kinh tế cao phù hợp với lợi
ích của Nhà nước, xã hội và NSDĐ, do vậy căn cứ vào mục đích sử dụng và
nghĩa vụ tài chính mà Nhà nước quy định QSDĐ nông nghiệp khác với
QSDĐ phi nông nghiệp; QSDĐ của cá nhân, tổ chức trong nước khác với
QSDĐ của cá nhân, tổ chức nước ngoài. Bằng việc giao QSDĐ cho người sử
dụng cụ thể, Nhà nước đã thực hiện QSDĐ của mình, đó chính là cách thức,
biện pháp thực hiện QSDĐ của Nhà nước, thông qua việc sử dụng đất của các
tổ chức, cá nhân trong xã hội để thực hiện quyền sở hữu toàn dân về đất đai.
Ở đây lợi ích của Nhà nước và của toàn dân và người sử dụng là thống nhất
với nhau3.
Thứ hai, QSDĐ là một quyền tài sản: Trước hết đất đai là một tài sản,
một bất động sản rất có giá trị. Với chế định QSDĐ được vào giao lưu trên thị
trường, tham gia vào các giao dịch dân sự và kinh tế, trở thành một loại hàng
hóa, với các đặc điểm khác với các hàng hóa thông thường. Đất đai không do
con người tạo ra, diện tích có giới hạn, không có khả năng tái tạo, nhưng giá
trị sử dụng lại vô hạn. Qua quá trình khai thác không bị mất đi giá trị sử dụng
mà hơn thế thông qua lao động trực tiếp và gián tiếp, con người đã sáng tạo
nên giá trị sử dụng mới của đất đai và QSDĐ ngày càng trở nên có giá trị, giá
trị QSDĐ được xác định thành tiền khi góp vốn liên doanh, thế chấp, bảo lãnh
và các giao dịch khác trên thị trường. Đất đai là một loại tài sản, một loại
hàng hóa có giá trị rất lớn và không thể thay thế bằng bất kỳ tài sản nào khác
trong sản xuất, kinh doanh.
3

Nguyễn Thị Hồng Nhung, Pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong kinh doanh bất động sản ở
Việt Nam, luận án tiến sĩ luật học 2012

nào là doanh nghiệp có vốn ĐTNN, cũng không quy định về tổ chức kinh tế
có vốn ĐTNN mà chỉ quy định nhà ĐTNN và cách thức, hình thức đầu tư của


12

nhà ĐTNN, tại Luật khuyến khích đầu tư 2009. Theo đó, Luật khuyến khích
đầu tư 2009 của Lào đã thừa nhận hai hình thức doanh nghiệp có vốn ĐTNN:
doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp có một phần vốn
góp của nhà ĐTNN – hình thức đầu tư góp vốn chung giữa nhà đầu tư trong
nước và nhà ĐTNN. Từ quy định của pháp luật thực định, có thể hiểu một
cách đơn giản, doanh nghiệp có vốn ĐTNN là hình thức đầu tư mà ở đó các
nhà ĐTNN đầu tư một phần hoặc toàn bộ vốn để lập ra pháp nhân mới tại
nước nhận đầu tư theo quy định của pháp luật nước nhận đầu tư nhằm thực
hiện mục tiêu chung của các nhà đầu tư.
Doanh nghiệp có vốn ĐTNN tồn tại dưới hai hình thức: doanh nghiệp
100% vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp liên doanh. Theo đó:
- Doanh nghiệp 100% vốn ĐTNN là doanh nghiệp thuộc sở hữu của
nhà đầu tư nước ngoài, do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước nhận đầu
tư tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh.
- Doanh nghiệp liên doanh vốn ĐTNN là hình thức đầu tư góp cổ phần
giữa nhà đầu tư trong và ngoài nước: là nhà đầu tư trong nước với nhà đầu tư
nước ngoài cùng tiến hành kinh doanh, cùng sở hữu và tạo lập doanh nghiệp
mới theo quy định của pháp luật, việc tổ chức hoạt động, quản lý, quyền và
nghĩa vụ của nhà đầu tư góp vốn chung được quy định tại thoả thuận góp vốn
điều lệ của doanh nghiệp mới.
Dù tồn tại dưới hình thức nào thì doanh nghiệp có vốn ĐTNN cũng có
những đặc điểm cơ bản sau:
- Thứ nhất, về chủ sở hoặc đồng sở hữu doanh nghiệp là cá nhân, tổ
chức nước ngoài. Đây là đặc điểm quan trọng để phân biệt doanh nghiệp

nguồn vốn mà họ mang tới, do đó nếu quy định thành lập các hình thức doanh
nghiệp đối nhân, việc quản lý và xử lý trách nhiệm vô hạn, trách nhiệm nhân
thân đối với cá nhân, tổ chức nước ngoài là vấn đề phức tạp và không khả thi.
- Các nhà đầu tư vốn nước ngoài có quyền sở hữu một phần hay toàn
bộ tài sản của doanh nghiệp. Như trên đã đề cập, doanh nghiệp có vốn ĐTNN
tồn tại dưới hai hình thức: doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài và


14

doanh nghiệp liên doanh nước ngoài. Do đó, các nhà đầu tư nước ngoài có
quyền sở hữu một phần hay toàn bộ tài sản của doanh nghiệp phụ thuộc vào
hình thức đầu tư của họ.
- Trong doanh nghiệp có vốn ĐTNN, các nhà ĐTNN trực tiếp tham gia
vào quản lý doanh nghiệp. Việc quản lý doanh nghiệp được thực hiện thông
qua quyền kiểm soát doanh nghiệp, theo đó, nhà đầu tư tùy thuộc vào phần
vốn góp của mình vào doanh nghiệp mà có quyền tham gia vào các quyết
định quan trọng ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp như
thông qua chiến lược hoạt động của công ty, thông qua phê chuẩn kế hoạch
hành động do người quản lý hàng ngày của doanh nghiệp lập ra, quyết định
việc phân chia lợi nhuận doanh nghiệp, quyết định phần vốn góp giữa các
bên, tức là những quyền ảnh hưởng lớn đến sự phát triển, sống còn của doanh
nghiệp. Quyền kiểm soát doanh nghiệp, xuất phát từ quyền sở hữu đối với
vốn mà chủ đầu tư bỏ ra, và xuất phát từ mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận của
mình mà các chủ đầu tư được quyền kiểm soát hoạt động để đảm bảo lợi ích
từ hoạt động đầu tư đó.
- Doanh nghiệp có vốn ĐTNN chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước
thành lập doanh nghiệp. Bất kỳ hoạt động kinh tế nào cũng phải chịu sự giám
sát và điều tiết của nhà nước. Nước nhận vốn đầu tư cần có cơ chế giám sát và
cấp phép đầu tư vào các ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh nhất định nhằm cân

trong quá trình chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đất đai, nhằm sử dụng đất đai
có hiệu quả vì lợi ích của nhà nước, người sử dụng và của toàn xã hội.
Pháp luật về QSDĐ của doanh nghiệp có vốn ĐTNN là một bộ phận
của pháp luật đất đai, đồng thời có mối liên hệ chặt chẽ với pháp luật kinh tế
(doanh nghiệp, đầu tư) và pháp luật dân sự. Các quy tắc chung trong pháp luật
dân sự và pháp luật kinh tế có ảnh hưởng sâu sắc tới nội dung của pháp luật
đất đai. Tuy nhiên, so với pháp luật đất đai nói chung, pháp luật về QSDĐ của
doanh nghiệp có vốn ĐTNN có điểm khác biệt cơ bản là yếu tố nước ngoài
xuất hiện trong quan hệ pháp luật này, do đó ngoài hệ thống các văn bản pháp
luật của quốc gia (Hiến pháp, luật), còn một bộ phận của pháp luật về QSDĐ


16

của doanh nghiệp có vốn ĐTNN nằm trong các điều ước quốc tế song phương
hoặc đa phương và tập quán quốc tế.
Pháp luật về QSDĐ của doanh nghiệp có vốn ĐTNN mang những đặc
điểm đặc trưng có thể kể đến như sau:
Thứ nhất, pháp luật về QSDĐ của doanh nghiệp có vốn ĐTNN là tập
hợp của chế định pháp luật kinh tế với các quy định của một số ngành luật
khác như luật hành chính, luật tài chính, luật thương mại, luật đầu tư, pháp
luật thuế,… Các quy định của các đạo luật này có sự khác nhau nhất định về
chức năng và nội dung cụ thể, tuy nhiên luật đất đai nói chung và pháp luật về
QSDĐ của doanh nghiệp có vốn ĐTNN nói riêng là một bộ phận và có mối
liên hệ chặt chẽ với các bộ phận cấu thành khác của các luật trên.
Thứ hai, pháp luật về QSDĐ của doanh nghiệp có vốn ĐTNN được
hình thành và phát triển trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần. Hệ
thống pháp luật về đất đai đã kịp thời được quan tâm xây dựng, đổi mới ngày
càng phù hợp hơn với tình hình kinh tế - xã hội và nhu cầu đổi mới nền kinh
tế mỗi quốc gia.

hiện các biện pháp quản lý và bảo vệ đất đai để khỏi có sự xâm lược từ bên
ngoài. Pháp luật đất đai nói chung, pháp luật về QSDĐ của doanh nghiệp có
vốn ĐTNN nói riêng là một trong những công cụ quan trọng để Nhà nước
quản lý, sử dụng và bảo vệ đất đai một cách có hiệu quả nhất. Ngoài những
vai trò của pháp luật nói chung, pháp luật về QSDĐ của doanh nghiệp có vốn
ĐTNN còn có những vai trò đặc thù riêng, cụ thể như:
Thứ nhất, đối với Nhà nước: Cơ quan chính quyền các cấp thực hiện
chức năng quản lý nhà nước bằng chính sách và pháp luật thống nhất để đảm
bảo kỷ cương xã hội và lợi ích cơ bản lâu dài. Đó là các việc: quy hoạch và kế
hoạch, thu thuế hoặc tiền sử dụng đất, giao và cho thuê đất, thu hồi hoặc tịch
thu (do giải tỏa cho mục đích chung, do vi phạm pháp luật), cấm sử dụng sai
mục đích, cấm xây dựng (một số loại công trình trên một số loại đất), đăng ký
và chứng nhận QSDĐ, xử lý các tranh chấp về đất đai, quản lý thị trường đất
đai… Đó chính là quyền định đoạt (cao nhất) và hưởng lợi của Nhà nước.


18

Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đầu tư trực
tiếp nước ngoài (FDI) được xem là một trong những nguồn vốn, góp phần vào
tăng trưởng kinh tế - xã hội của đất nước. Do đó, ở các quốc gia, đặc biệt là
các nước đang phát triển, để thu hút nguồn vốn ĐTNN đòi hỏi phải có những
chính sách và biện phát thu hút đầu tư hiệu quả, nhiều ưu đãi cho nhà đầu tư,
hành lang pháp lý thông thoáng. Một trong những ưu đãi đầu tư được các nhà
ĐTNN đặc biệt quan tâm đó là ưu đãi về QSDĐ, pháp luật về QSDĐ của
doanh nghiệp có vốn ĐTNN càng tiến bộ và phù hợp càng tạo thuận lợi cho
các doanh nghiệp trong và ngoài nước đẩy mạnh đầu tư. Có thể thấy, khả
năng thu hút vốn ĐTNN có mối liên quan chặt chẽ với việc đổi mới chính
sách đất đai nhất là chính sách về QSDĐ của doanh nghiệp có vốn ĐTNN,
việc đổi mới sẽ mang lại những hiệu quả tích cực đối với thu hút ĐTNN qua


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status