Luận văn tốt nghiệp Ngô Thị Thu Trang
Lời mở đầU
1. Đặt vấn đề.
Hoà trong dòng chảy mạnh mẽ của cuộc cạnh tranh kinh tế khốc liệt trong
khu vực cũng như trên toàn cầu, với xuất phát điểm là một quốc gia đang phát
triển, có thu nhập thấp, Việt Nam đã, đang và phải thực hiện công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước. Thủ đô Hà Nội, với vị trí là trung tâm đầu não về chính
trị, văn hoá, khoa học - kỹ thuật, đồng thời là trung tâm lớn về kinh tế, giao dịch
quốc tế của cả nước, cũng đang cùng với cả nước thực hiện công cuộc công
nghiệp hoá, hiện đại hoá với nhịp độ cao. Trong hơn ba thập kỉ qua, Hà Nội thực
sự đã phát triển mạnh mẽ trên mọi mặt của đời sống kinh tế- chính trị- văn hoá-
xã hội. Nền kinh tế của thủ đô Hà Nội đạt mức tăng trưởng cao và đều khắp ở
các ngành, các lĩnh vực, tình hình chính trị ổn định, nền văn hoá được nâng cao
rõ rệt, xã hội có những bước cải tiến sâu sắc về nhiều mặt.
Tuy nhiên, ngoài những tác động tích cực mà đô thị hoá và công nghiệp
hoá đem lại thì chính đây lại là nguyên nhân gây áp lực mạnh mẽ đối với môi
trường, làm suy giảm chất lượng môi trường bao gồm cả môi trường đất,
nước, không khí. Trong những năm qua, trên địa bàn Hà Nội luôn tồn tại tình
trạng hàng loạt ao hồ nội thành cùng với hệ thống sông chảy trong lòng Thành
phố bị rác thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp đổ vào; sinh vật, đặc biệt là cá
sống trong môi trường đó thì bị chết hàng loạt. Rồi mỗi khi mùa mưa tới, người
dân nội thành lại lo sợ không biết năm nay có bị ngập hay không? Đi sâu và
tìm hiểu, người ta thấy ngoài chức năng là cảnh quan du lịch, điều hoà khí hậu
thì hầu như môi trường nước mặt tại thành phố Hà Nội chỉ còn có chức năng
chứa và thoát nước mưa, nước thải cho Thành phố. Hơn nữa, khi càng đẩy mạnh
việc phát triển kinh tế và dân số ngày càng tăng thì lượng nước thải ngày càng
nhiều, chất lượng nước ngày càng bị suy giảm. Trong khi đó việc xử lý nước lại
chưa thể đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng đó.
Xuất phát từ những nhận thức về tầm quan trọng của vấn đề này, nên qua
một thời gian đi sâu tìm hiểu tình hình thực tế về nước thải và thoát nước trên
địa bàn Hà Nội, cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy Lê Trọng Hoa và tập thể
triển kinh tế- xã hội tới hệ thống thoát nước Hà Nội.
Khoa Kinh tế - quản lý môi trường và đô thị
Luận văn tốt nghiệp Ngô Thị Thu Trang
Lời cảm ơn.
Do thời gian thực tập, nghiên cứu tại Viện chưa nhiều cùng với trình độ,
kiến thức còn hạn chế nên luận văn của em không thể tránh khỏi những thiếu
sót. Vì vậy, em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô và bạn bè để luận
văn này có chất lượng tốt hơn.
Em xin chân thành cảm ơn thầy Lê Trọng Hoa cùng toàn thể cán bộ
phòng Nghiên cứu kinh tế - Viện nghiên cứu phát triển kinh tế-xã hội Hà Nội đã
nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thành luận văn này.
Hà nội ngày 20 tháng 5 năm 2002.
Sinh viên
Ngô Thị Thu Trang
Khoa Kinh tế - quản lý môi trường và đô thị
Luận văn tốt nghiệp Ngô Thị Thu Trang
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN
i. tổng quan về nước thải.
1. Khái niệm về ô nhiễm nước.
Ô nhiễm nước là sự thay đổi bất lợi môi trường nước, hoàn toàn hay đại
bộ phận do các hoạt động khác nhau của con người tạo nên.
Hiến chương Châu Âu về nước đã định nghĩa “Sự ô nhiễm là một biến đổi
nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm ô nhiễm nước và gây nguy
hiểm cho con người, cho công ngiệp, nông ngiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi giải trí, đối
với động thực vật nuôi và các loài hoang dại”.
Nước thải là chất lỏng được thải ra sau quá trình sử dụng của con người
và đã bị thay đổi tính chất ban đầu của chúng.
Nguồn gốc gây ô nhiễm có thể là tự nhiên hoặc nhân tạo.
- Sự ô nhiễm có nguồn gốc tự nhiên là do mưa, tuyết tan. Nước mưa rơi
thể mang theo chất ô nhiễm hoà tan để thấm sâu xuống đất tới mực nước ngầm.
Các chất ngấm theo nước thường là các chất hữu cơ, các muối hoà tan của kim
loại (Fe, Mn…).
2.2. Nước thải công nghiệp.
Nước thải công nghiệp là nước thải từ các cơ sở sản xuất công nghiệp,
tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải.
Các nguồn ô nhiễm chính do công nghiệp gây ra:
1- Nước thải công nghiệp :
Khi nước thải công nghiệp xả ra ao hồ, cống rãnh thì các chất ô nhiễm có
thể thấm sâu qua đất tới nước ngầm. Mức độ gây ô nhiễm phụ thuộc vào độ sâu
của nước ngầm, thành phần và tính chất của các chất ô nhiễm có trong nước
thải, thành phần và cấu trúc của các lớp đất phía trên mực nước ngầm.
Khoa Kinh tế - quản lý môi trường và đô thị
Luận văn tốt nghiệp Ngô Thị Thu Trang
2- Thẩm lậu qua các bể chứa và ống dẫn:
Việc tồn trữ và truyền ngầm một lượng lớn các nhiên liệu và hoá chất
lỏng khác nhau thường gặp ở nhiều cơ sở sản xuất. Những bể chứa và ống dẫn
này có thể bị hỏng trong quá trình sử dụng gây ra sù rò rỉ nhiên liệu và các loại
hoá chất công nghiệp sẽ trở thành nguồn gây ô nhiễm nước ngầm. Bên cạnh đó,
vì tính chất các loại xăng dầu pha trộn kém, khi bị rò rỉ vào đất sẽ di chuyển
xuống dưới dễ gây nên ô nhiễm nước ngầm.
3- Hoạt động khai khoáng:
Hoạt động khai thác ở các vùng mỏ có thể gây ô nhiễm nước ngầm. Sự ô
nhiễm này phụ thuộc vào loại quặng khai thác và hình thức của các quá trình xử
lí quặng như nghiền, tuyển chọn… Các vùng mỏ than, phôtphat, sắt, đồng, chì,
kẽm…dù là khai thác ngầm hay lé thiên đều thường trải rộng ở dưới mực nước
ngầm nên thường xuyên phải bơm tiêu nước. Những loại nước tiêu này thường
có pH thấp, nồng độ các ion kim loại và các sunphat cao (Ví dụ: Trong than đá
có chứa các hợp chất lưu huỳnh trong đó pyrit là một thành phần. Khi tiếp xúc
với nước, pyrit bị ô xy hoá do vi khuẩn và tạo thành FeSO
-
, SO
4
2-
,Cl
-
và NO
3
-
.
2- Chất thải động vật:
Phân và nước tiểu của động vật là nguồn gây ô nhiễm khá lớn đối với các
nguồn nước. Đặc tính ô nhiễm của chất thải động vật là chứa hàm lượng chất
hữu cơ dễ phân huỷ cao và mang nhiều loại vi sinh gây bệnh.
2.4. Nước chảy tràn trên mặt đất.
Nước mưa được xem như nước thải tự nhiên. Nước chảy tràn trên mặt đất
do nước mưa hoặc do thoát nước từ đồng ruộng có thể cuốn theo các chất thuốc
trừ sâu, phân bón… làm ô nhiễm các nguồn nước tiếp nhận.
2.5. Nước sông bị ô nhiễm do các yếu tố tự nhiên.
Nước sông bị nhiễm măn, phèn ở vùng biển có thể chuyển nước mặn vào
các vùng nội địa gây suy giảm chất lượng nước ở các vùng tiếp nhận.
2.6. Nước thải đô thị.
Nước thải đô thị là thuật ngữ chung chỉ chất lỏng trong hệ thống cống
thoát của một thành phố. Đó là hỗn hợp của các loại nước thải sinh hoạt, công
nghiệp, nước thải tự nhiên (nước chảy tràn).
Nước thải đô thị thường chứa khoảng 50% nước thải sinh hoạt, 14% là
các loại nước thấm và 36% là nước thải sản xuất.
II. Một số đặc điểm về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của thủ đô Hà
Nội.
1. Đặc điểm về điều kiện tự nhiên thành phố Hà Nội.
Cấu trúc địa chất không phức tạp đã tạo cho địa hình Hà Nội đơn giản hơn
so với nhiều khu vực khác ở miền Bắc nước ta. Phần lớn diện tích của Hà Nội và
vùng phụ cận là vùng đồng bằng, thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam theo
hướng chung của địa hình và cũng là theo hướng của dòng chảy sông Hồng.
Vùng đồng bằng, địa hình đặc trưng của Hà Nội, đã được khai thác sử dụng
từ lâu đời, địa hình rất bằng phẳng, được bồi tích phù sa dày. Nơi đây dân cư sống
đông đúc, với nền văn minh lúa nước, trồng hoa màu, chăn nuôi gia sóc
Phía Bắc là vùng đồi núi thấp và trung bình, dãy Sóc Sơn với đỉnh cao
nhất là Chân Chim có độ cao 462 m. Phía Tây Hà Nội và vùng phụ cận là dãy
núi Ba Vì với đỉnh cao nhất là đỉnh Vua có độ cao 1270 m; ngoài ra còn có các
đỉnh Tản Viên (1227 m) và Ngọc Hoa (1131 m). Vùng đồi núi của Hà Nội và
phụ cận có thể tổ chức nhiều loại hình du lịch và phát triển chăn nuôi
Nhìn chung, địa hình của Hà Nội so với các khu vực khác ở miền Bắc và
miền Trung là tương đối đơn giản, nhưng cũng khá đa dạng, làm nền tảng cho
Khoa Kinh tế - quản lý môi trường và đô thị
Luận văn tốt nghiệp Ngô Thị Thu Trang
cảnh quan tự nhiên, tạo những nét độc đáo cho phong cảnh cũng như cho việc
phát triển các loại hình kinh tế, đặc biệt là cho du lịch.
1.3. Khí hậu.
Hà Nội nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới Èm, độ Èm trung bình trong
năm là 81-82%, tháng cao nhất vào khoảng 85-86%. Nhiệt độ trung bình có
chiều hướng tăng, năm 1985 là 23,5°C, từ năm 1990-1995 nhiệt độ trung bình là
24°C (có năm tới 24,1°C-1991, 1997 là 24,3°C và 1998 là 25,1°C). Hàng năm
bình quân có từ 8-10 cơn bão và áp thấp nhiệt đới đi qua.
Tổng lượng mưa trong năm, theo thống kê những năm gần đây có những
biến động lớn, cụ thể là:
Năm Lượng mưa (đơn vị: mm)
1995 1.245
1996 1.595,6
1997 1.871,6
+ Tốc độ trung bình mùa hè: 2,2 m/s
+ Tốc độ trung bình mùa đông: 2,8 m/s
+ Số cơn bão đổ bộ vào khu vực trung bình: 2-3 cơn/năm.
+ Cấp bão thường gặp: cấp 7-8.
- Mưa:
+ Lượng mưa trung bình năm: 1,676 mm.
+ Lượng mưa trung bình ngày lớn nhất: 168 mm, lượng mưa ngày lớn nhất
đã đo được là 588,6 mm (ngày 11/7/1902) và 394,4 mm (ngày10/9/1984).
+ Lượng mưa từ tháng 5 đến tháng 10: 1.430 mm (90,5% cả năm).
+ Số ngày có mưa trung bình: 144,5 ngày/năm.
+ Số ngày có mưa phùn: 38,7 ngày/ năm.
Khoa Kinh tế - quản lý môi trường và đô thị
Luận văn tốt nghiệp Ngô Thị Thu Trang
- Nắng:
+ Số giờ chiếu nắng trung bình năm: 1.464,6 giờ/năm.
1.4. Thuỷ văn.
Khu vực thành phố có 2 con sông chính chảy qua là sông Hồng và sông
Nhuệ; ngoài ra còn có 4 con sông nhỏ nằm trong thành phố là sông Lừ, sông
Sét, sông Kim Ngưu và sông Tô Lịch.
Sông Hồng: bắt nguồn từ cao nguyên Vân Nam (Trung Quốc) chảy vào
địa phận Việt Nam ở tỉnh Lào Cai, đổ ra biển ở cửa Ba Lạt. Chiều dài dòng
sông: 1.126 km. Phần nằm trong địa phận Việt Nam là 556 km, tổng diện tích
lưu vực: 155.080 km
2
.
- Lưu lượng nước dao động rất lớn: 350 m
3
/s về mùa khô, 22.200 m
3
/s về
Trong mùa mưa lũ, mực nước các sông dâng cao gây khó khăn và tốn
kém tiền của cho công tác thoát nước của thành phố. Mặt khác địa hình trong
nội thành hiện tại thấp, độ dốc địa hình tự nhiên nhỏ (0.0003) nên nhiều khu vực
bị úng ngập, làm ảnh hưởng lớn môi trường đô thị và sức khoẻ của nhân dân.
2. Đặc điểm về kinh tế-xã hội của Thủ đô Hà Nội trong giai đoạn 10 năm
phát triển (1991-2000).
2.1. Những thành tựu về kinh tế xã hội của thủ đô trong 10 năm (1991-2000).
2.1.1. Tăng trưởng GDP:
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của Hà Nội thời kỳ 1991-1995 đạt
12,52%, thời kỳ 1996-2000 là 10,38%. Hà Nội là một trong số các địa phương
có tốc độ tăng truởng cao (tốc độ tăng GDP trung bình của Thủ đô giai đoạn
1990-1999 cao hơn cả nước từ 2-3%); GDP của Thành phố ước năm 2000 gấp
2,9 lần so với năm 1990 và 1,6 lần so với năm 1995. Năm 2000, GDP của Hà
Nội chiếm 7,22% so với cả nước, khoảng 41% so với vùng Đồng bằng sông
Hồng và 65,47% so với vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc.
GDP bình quân đầu người tăng từ 470 USD (năm 1991) lên 915 USD
(năm 1999), gần 990 USD vào năm 2000, bằng khoảng 2,29 lần vùng Đồng
bằng sông Hồng và 2,07 lần cả nước.
Khoa Kinh tế - quản lý môi trường và đô thị
Luận văn tốt nghiệp Ngô Thị Thu Trang
2.1.2. Cơ cấu kinh tế và sự phát triển các ngành kinh tế:
Kinh tế Thủ đô phát triển với cơ cấu công nghiệp-dịch vụ-nông nghiệp.
Ngành công nghiệp mở rộng tăng từ 29,1% năm 1990 lên 34,88% năm 1996 và
38% năm 2000; ngành nông-lâm nghiệp và thuỷ sản từ 9% giảm xuống 5,12%
năm 1996 và còn 3,8% năm 2000.
Thành phố đã đẩy mạnh công tác thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI), khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng từ 0% năm 1990 lên 12,64%
trong cơ cấu GDP thành phố năm 2000. Kinh tế nhà nước Trung ương chiếm tỷ
trọng 59% trong khu vực kinh tế trong nước (năm 2000), có tốc độ tăng trưởng
bình quân 9,57%/năm (giai đoạn 1996-2000), kinh tế nhà nước địa phương
tải, kho bãi, thông tin có tốc độ tăng trưởng GDP là 14,68%/năm. Năm 1990,
tổng số máy điện thoại trên địa bàn mới có 0,82 máy/100 dân, đến nay đạt bình
quân 18 máy/100 dân, 100% các xã ngoại thành đều có điện thoại.
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ trên thị trường xã hội tăng bình
quân 24,4%/năm.
Nông nghiệp:
Nông nghiệp và nông thôn ngoại thành có chuyển biến tích cực. Trong 5
năm (1996-2000), sản xuất nông- lâm nghiệp và thuỷ sản đạt mức tăng trưởng
bình quân 4,89%/năm. Đến nay, giá trị sản xuất nông, lâm, thuỷ sản và dịch vụ
bình quân 1 ha canh tác tăng gần 4 lần so với năm 1989, đạt 40,4 triệu ha năm
1999. Từng bước ứng dụng công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ sinh học vào
phát triển nông nghiệp. Nhiều ngành nghề truyền thống được khôi phục; kinh tế
trang trại bước đầu được hình thành và phát huy tác dụng. Kết cấu hạ tầng nông
thôn được đầu tư xây dựng. Bộ mặt nông thôn ngoại thành thay đổi rõ rệt, đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao, mức thu nhập hiện nay
tăng 2,4 lần so với năm 1990. Đến nay tỉ lệ hộ giàu ở nông thôn đạt 24%.
Về thu hút các nguồn vốn:
Đầu tư từ nguồn vốn nước ngoài tăng mạnh trong những năm 1992-1996,
Khoa Kinh tế - quản lý môi trường và đô thị
Luận văn tốt nghiệp Ngô Thị Thu Trang
chiếm tới 54% tổng đầu tư xã hội. Do khủng hoảng tài chính- tiền tệ khu vực vì
vậy trong những năm 1997-2000 có xu hướng chững lại, năm 1999 giảm sút chỉ
còn chiếm 23-24% trong tổng đầu tư xã hội của Thành phố.
Tổng đầu tư xã hội của Thành phố bình quân hàng năm giai đoạn 1996-
2000 đạt 12.830 tỉ đồng. Tỉ trọng vốn đầu tư từ nguồn vốn trong nước tăng
mạnh và tăng ở tất cả các nguồn: Vốn nhà nước chiếm tỉ trọng 11,1% năm 1996
tăng lên 21,5% năm 2000; vốn tín dụng Nhà nước từ 1,8% lên 3,2%; vốn doanh
nghiệp tự đầu tư từ 17,8% tăng lên 20,3%; vốn đầu tư của các thành phần kinh
tế ngoài nhà nước từ 15,4% lên 26%; vốn dân tự đầu tư từ 1,3% tăng lên 7,1%.
Vốn đầu tư XDCB từ ngân sách được tập trung chủ yếu cho lĩnh vực cơ
tuyến đường, trục đường lớn, nót giao thông quan trọng: Liễu Giai- Nguyễn Chí
Thanh, Láng- Hoà Lạc, Láng Hạ, Trần Khát Chân- Đại Cồ Việt, đường Huỳnh
Thúc Kháng, Hoàng Quốc Việt phù hợp với quy hoạch chung. Nhà ở đã có cải
thiện, mức nhà ở bình quân hiện nay là 6 m
2
/người so với 4,5 m
2
/người năm
1990. Các lĩnh vực thoát nước, cấp nước, chiếu sáng, công viên cây xanh, vệ
sinh môi trường đã và đang được chú trọng đầu tư. Tỷ lệ thu gom, xử lý rác thải
tăng từ 40% (năm 1990) lên 80%. Khối lượng cung cấp nước sạch tăng lên 2,5
lần. Đang triển khai dự án ODA về xây dựng hệ thống thoát nước; xây dựng
xong trạm tiêu thoát Yên Sở giai đoạn 1 với công suất 45m
3
/giây, cùng với việc
cải tạo hệ thống sông thoát nước thải nội thành. Tăng diện tích cây xanh từ 1,8
m
2
/người (năm 1990) lên 3,5 m
2
/người hiện nay. Bộ mặt đường phố Hà Nội
ngày càng khang trang, sạch đẹp, phát triển theo hướng đô thị hiện đại.
2.1.4. Về văn hoá- xã hội:
Hà Nội là địa phương đi đầu cả nước về các mặt: phổ cập trung học cơ sở
(vào năm 1999), và hoàn thành xoá bỏ việc học ca 3, tiêm chủng cho trên 99% trẻ
em, loại trừ các bệnh phong, bại liệt, bạch liệt; giảm tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng từ
34% năm 1994 xuống còn 18,7% năm 2000; tất cả các trạm y tế xã, phường đều
có bác sĩ. Tỉ lệ tăng dân số bình quân năm 1989 là 1,51% giảm xuống còn 1,08%
vào năm 1999. Đến nay không còn hộ đói, nhà dột nát, tỉ lệ hộ nghèo chỉ còn
1,3%. Cuộc vận động xây dựng gia đình văn hoá, thực hiện nếp sống mới trong
quá tải. Mạng lưới giao thông chưa đồng bộ; tình trạng thiếu nước sạch, úng
Khoa Kinh tế - quản lý môi trường và đô thị
Luận văn tốt nghiệp Ngô Thị Thu Trang
ngập, thiếu nhà ở đang là những vấn đề đang được nhiều người quan tâm, lo
lắng. Các khu vui chơi giải trí còn Ýt.
Các cơ sở hạ tầng xã hội như: hệ thống trường học, bệnh viện, các trung tâm
văn hoá, thể thao mặc dù đã được quan tâm đầu tư, song đang trong tình trạng quá
tải, thiếu thốn về cơ sở vật chất, cần được tập trung đầu tư trong nhiều năm tới.
Nhiều vấn đề xã hội bức xúc chưa được khắc phục: tăng dân số cơ học ở
tỉnh ngoài về Hà Nội chưa có xu hướng giảm, một số tệ nạn xã hội có chiều
hướng gia tăng.
2.3. Đánh giá chung:
Sau 10 năm thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, Hà Nội đã có
bước phát triển toàn diện. Kinh tế Thủ đô đã tăng trưởng liên tục, đạt mức cao
hơn so với cả nước. Vai trò của Hà Nội trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
và trong nền kinh tế quốc dân ngày một nâng cao. Hạ tầng kỹ thuật đô thị được
tăng cường; Thủ đô từng bước được cải tạo và xây dựng theo hướng đồng bộ,
hiện đại. Vấn đề môi trường đã và đang được quan tâm. Công tác văn hoá xã
hội đạt được những thành tựu tốt, nhiều chỉ tiêu dẫn đầu cả nước. Nông thôn
ngoại thành đã có bước khởi sắc. Hệ thống chính trị được củng cố; an toàn
quốc phòng được giữ vững; trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. Đời sống vật
chất và tinh thần nhân dân đã có bước cải thiện rõ rệt, mức sống tăng lên hơn 2
lần so với năm 1990. Quan hệ đối ngoại được mở rộng, vị thế của Thủ đô trong
khu vực và quốc tế ngày càng được nâng cao. Năm 1999, Hà Nội là thành phố
duy nhất trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương được nhận danh hiệu cao quý
của UNESCO "Thành phố vì Hoà bình".
Khoa Kinh tế - quản lý môi trường và đô thị
Luận văn tốt nghiệp Ngô Thị Thu Trang
chương ii
tác động của phát triển kinh tế - xã hội tới hệ thống thoát nước Hà
3
/ngđ.
Như vậy có thể nói trong những năm tới lượng nước thải sinh hoạt vẫn
chiếm tỷ lệ đáng kể, lượng nước thải tỷ lệ với tăng trưởng GDP. Ngoài những
năm 2020, lượng nước thải mới tăng đáng kể.
1. Thực trạng hệ thống thoát nước trên địa bàn nội thành Hà Nội.
Trong những năm qua, hệ thống thoát nước Hà Nội đã được cải thiện
đáng kể cả về số lượng lẫn chất lượng. Việc triển khai dự án thoát nước Hà Nội
đã góp phần không nhỏ cho sự phát triển của hệ thống thoát nước nội thành Hà
Nội. Cụ thể là đã đặt thêm một số tuyến cống giải quyết úng ngập cục bộ cho
một số lưu vực quan trọng như: Trần Bình Trọng, Nguyễn Trường Tộ , đang
hoàn thiện các công trình đầu mối như: đào hồ điều hoà Yên Sở, xây dựng trạm
bơm Yên Sở với công suất giai đoạn đầu là 45 m
3
/s (đã hoàn thành trước mùa
mưa năm 2000), nạo vét và xây kè hai bên bờ của 4 con sông thoát nước và một
số hồ trong Thành phố . Tuy nhiên, khả năng của các hệ thống thoát nước nội
thành Hà Nội thực sự đã quá tải. Hà Nội phát triển nhanh làm cho nhu cầu thoát
nước thải cũng tăng lên nhanh chóng, mà đặc trưng của nước thải Hà Nội là từ
nhiều nguồn khác nhau như từ: nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt, nước
thải từ các bệnh viện Theo ước tính lượng nước thải vào khoảng 350-
400m
3
/ngày đêm. Lượng nước này được thu gom trong 127 km đường ống trong
nội thành. Cống thoát nước được nối với hệ thống mương máng dài 38 km và chảy
vào 4 sông thoát chính của thành phố là sông Tô Lịch, sông Sét, sông Lừ và sông
Kim Ngưu. Bốn sông này có chiều dài 36,8 km và chiều rộng của chúng từ 20-45
m. Trong đó dòng thoát chủ yếu là sông Tô Lịch và sông Kim Ngưu có chiều dài
và bề rộng lớn hơn cả. Trong nhiều năm qua, các con sông thoát nước này bị bồi
lắng dần. Mặc dù Công ty thoát nước Hà Nội đã có một đội quân khá đông đảo
của Hà Nội đến năm 2010" - UBND Thành phố Hà Nội.
Một thành phần nữa không thể không nói tới khi xem xét hệ thống thoát
nước Hà Nội, đó là hệ thống hồ nội thành. Với khoảng trên 20 hồ chiếm diện
tích gần 600 ha, hồ Hà Nội vừa làm chức năng điều hoà nước mưa, vừa làm
chức năng sinh hoạt, văn hoá, vui chơi giải trí. Dung tích điều hoà của các hồ
(không kể hồ Tây) khoảng 1,2 triệu m
3
, khả năng tự làm sạch của các hồ khá
lớn. Hầu hết các hồ như: hồ Tây, Thiền Quang, Trúc Bạch, Giảng Võ, Hoàn
Kiếm, Thủ Lệ…đều đã được xây kè xung quanh bờ hồ và được chú ý làm vệ
sinh (nhặt rác, lá cây… trên mặt hồ) nhưng vẫn tồn tại một số hồ đang bị ô
nhiễm khá nặng do nước thải xả vào quá nhiều mà không được xử lý. Mặt khác,
nhiều hồ đang trong tình trạng bị thu hẹp do nhu cầu xây dựng không được kiểm
soát chặt chẽ.
Ngoài ra, việc triển khai dự án thoát nước Hà Nội giai đoạn I không
những thực hiện nạo vét , kè hai bên bờ cho các con sông, hồ nội thành mà còn
đặt thêm được một số tuyến cống cho các vùng úng ngập trọng điểm như: Trần
Bình Trọng, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Đình Chiểu Tuy vậy, một số khu
vực úng ngập cục bộ vẫn chưa được giải quyết dứt điểm. Đó là các khu vực:
Khoa Kinh tế - quản lý môi trường và đô thị
Luận văn tốt nghiệp Ngô Thị Thu Trang
Nguyễn Công Trứ, Kim Liên-Trung Tự, Văn Chương, Nam Đồng, Thanh Xuân
Bắc, Thanh Xuân Nam, Nghĩa Đô, Ngọc Khánh, Bạch Mai, Phùng Hưng-Đường
Thành, Nguyễn Gia Thiều
Nhìn chung, hệ thống thoát nước Hà Nội hoạt động thực sự chưa đáp ứng
được nhu cầu tối thiểu của người dân nội thành.
2. Thực trạng chất lượng nước thải thành phố.
Như đã nói trên, tất cả các kênh thoát nước trên địa bàn nội thành Hà Nội
đều bị ô nhiễm nặng nề. Các cống ngầm và nhất là các kênh mương hở bị ô nhiễm
nặng. Mùi hôi bốc lên và nước đen ngòm, bùn lấp làm dòng chảy kém. Ước tính
Về mùa khô: Nước sông phần lớn là chứa nước thải.
-Hàm lượng BOD, COD trên toàn bộ sông đều vượt quá chỉ tiêu cho phép
(tiêu chuẩn Việt Nam: TCVN 5942-1995), BOD đo được khoảng 115 mg/l, tại
cầu Dậu lên tới 80 mg/l.
-Sông thường ở trong tình trạng yếm khí, lượng ôxy hoà tan trung bình
trên toàn sông khoảng 1 mg/l.
-Hàm lượng các chất hữu cơ đều vượt quá tiêu chuẩn, sông ở trong tình
trạng phì dinh dưỡng, NO
2
-
: 0,1-0,4 mg/l, tại cầu Mới: 0,75 mg/l, PO
4
-
từ 4-7,3
mg/l, tại cầu Bươu: 10,5 mg/l.
-Lượng chất lơ lửng(SS):123-137 mg/l.
-Độ dẫn điện (COND): 441-750 µS/cm, tại cống Bưởi 810 µS/cm, chứng
tỏ trong nước sông có chứa nhiều ion kim loại từ nước thải công nghiệp.
-Hàm lượng các kim loại nặng, độc hại lên rất cao. Pb: từ 0,3-0,4 mg/l; Cr
+6
:
0,1-0,15 mg/l. Hợp chất có chứa CN
-
: 0,25-0,35 mg/l. Tại cầu Dậu: 0,48 mg/l.
-Các kim loại khác như: Fe, Zn, Mn, Sn đã xuất hiện trong nước sông.
-Lượng chất dầu mỡ ở trong sông rất cao từ: 3,9-6,2 mg/l. Tại cầu Dậu
lên tới 7,15 mg/l, váng dầu có thể tìm thấy dọc sông.
-Lượng Colifrom Fc, Fs rất cao: Fc (MPN/100 ml): 10.000-17.000
Fs (MPN/100ml): 10.000-15.000.
-Nước sông có màu đen, mùi hôi, đặc biệt vào những ngày nắng nóng, rau
Như vậy, từ những đánh giá trên có thể rót ra nhận xét rằng sông Tô Lịch
đang ở trong tình trạng ô nhiễm nặng đặc biệt là về mùa khô.
Khoa Kinh tế - quản lý môi trường và đô thị
Luận văn tốt nghiệp Ngô Thị Thu Trang
2.1.2. Sông Kim Ngưu.
Bắt nguồn từ cống Lò Đúc, dài 12,2 km, rộng trung bình 25-30 m, sâu 2-4
m. Sông Kim Ngưu đón nhận toàn bộ nước thải khu vực Quỳnh Lôi, Mai
Hương, Vĩnh Tuy với tổng diện tích lưu vực 1400 ha với dân số 400.000 người
và khu công nghiệp Văn Điển có diện tích gần 400 ha. Lượng nước xả vào sông
tại khu vực nội thành gần 100.000-120.000 m
3
/ngày.
Dọc sông Kim Ngưu có 14 cửa xả và có độ ô nhiễm nặng nề hơn. Cũng
như sông Tô Lịch, vào mùa mưa sông Kim Ngưu còn nhận cả nước mưa nên
mức độ ô nhiễm giảm hơn. Tuy nhiên ngày trong mùa mưa các chỉ tiêu BOD,
COD và Colifrom cũng vẫn vượt qua giới hạn cho phép.
Đoạn 4 km đầu, hàm lượng BOD
5
gần 130mg/l. Ở đây diễn ra hiện tượng
lên men kỵ khí tạo ra H
2
S, CH
4
, CO
2
. Đoạn cuối sông hàm lượng NH
4
khá cao.
Mặt khác, vào mùa khô nồng độ kim loại nặng tăng lên.
Tuy nhiên, trong nước sông Kim Ngưu, hàm lượng các kim loại nặng vẫn