MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
1.TÍNH TẤT YẾU, NHỮNG RÀNG BUỘC, QUAN ĐIỂM VÀ ĐỊNH
HƯỚNG CHUNG VỀ CHUYỂN ĐỔI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH
TẾ 3
1.1.Tính tất yếu của chuyển đổi mô hình tăng trưởng 3
1.2.Những ràng buộc với chuyển đổi mô hình tăng trưởng 5
1.3.Các quan điểm chuyển đổi mô hình tăng trưởng 7
1.4.Định hướng chung 10
2.PHÁT TRIỂN VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ TRONG
CHUYỂN ĐỔI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG 17
1.5.Phát triển và chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp 17
1.6.Phát triển và chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp 21
1.7.Phát triển và chuyển dịch cơ cấu ngành thương mại, dịch vụ 27
3.MỘT SỐ ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CHUYỂN ĐỔI MÔ HÌNH TĂNG
TRƯỞNG 29
3.1 Yếu tố động lực và cơ chế vận hành để thực hiện mô hình 29
3.2. Những nguồn lực bảo đảm cho chuyển đổi mô hình 34
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
1
LỰA CHỌN MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM:
LUẬN CỨ KHOA HỌC VÀ ĐỊNH HƯỚNG
LỜI MỞ ĐẦU
Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế đến năm 2000 do Đại hội VII
(1991) thông qua đã xác định: “Hiệu quả kinh tế - xã hội là tiêu chuẩn quan
trọng nhất của sự phát triển…Khai thác các yếu tố phát triển cả về chiều
rộng và chiều sâu, ngày càng hướng mạnh vào chiều sâu”
1
. Chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội 2001 – 2010 được thông qua tại Đại hội IX (2001) tiếp
tục khẳng định: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế
vực và trên thế giới. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tiến bộ;
nền kinh tế hội nhập ngày càng sâu rộng vào đời sống kinh tế khu vực và thế
giới; công cuộc xóa đói giảm nghèo đạt được những thành tựu ấn tượng. Đến
năm 2010, với GDP bình quân đầu người đạt 1.168 USD, Việt Nam đã thoát
khỏi nhóm nước nghèo và gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình thấp.
Trong khi khẳng định những thành tựu to lớn đó, cũng cần thấy rằng,
nền kinh tế bộc lộ ngày càng rõ những yếu kém và bất cập. Chất lượng, năng
suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp kém. Tăng trưởng kinh
tế đạt được chủ yếu nhờ tăng đầu tư, khai thác các lợi thế về tài nguyên và sức
lao động giản đơn, trình độ công nghệ và đóng góp của khoa học công nghệ
còn thấp. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm và kém hiệu quả. Việc huy động,
phân bổ và quản lý sử dụng các nguồn lực còn nhiều bất cập Những điều ấy
dẫn đến hậu quả tất yếu là: nội lực kinh tế thấp kém, dễ bị tổn thương trước
những biến động bất lợi của nền kinh tế thế giới; các cân đối kinh tế vĩ mô
luôn ở trong tình trạng bấp bênh và căng thẳng; gia tăng tình trạng ô nhiễm
môi trường; nguy cơ cạn kiệt nhiều loại tài nguyên.
Những hạn chế, yếu kém trên đây có phần nguyên nhân khách quan từ
trình độ ban đầu thấp kém và những biến động bất lợi của kinh tế thế giới.
Nhưng nguyên nhân chủ quan cơ bản là việc theo đuổi quá lâu mô hình tăng
trưởng theo chiều rộng dựa trên cơ sở tăng đầu tư, khai thác lợi thế về tài
3
nguyên và sức lao động giản đơn. Chính mô hình tăng trưởng này đã chi phối
công tác quản lý điều hành thiên về tốc độ tăng trưởng, không coi trọng đúng
mức năng suất, chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển.
Với những bất cập nội tại ấy của nền kinh tế, việc chuyển đổi mô hình
tăng trưởng kinh tế được khẳng định là cần thiết. Hơn nữa, khi Việt Nam hội
nhập ngày càng sâu rộng vào đời sống kinh tế thế giới, những yếu tố mang
tính thời đại tạo ra những cơ hội to lớn và những thách thức gay gắt với Việt
Nam càng đòi hỏi phải thúc đẩy mạnh hơn quá trình chuyển đổi mô hình tăng
trưởng. Đó là:
định mô hình tăng trưởng của Việt Nam.
Với thực trạng nêu trên, điều chỉnh mô hình tăng trưởng kinh tế trong
khuôn khổ tái cấu trúc nền kinh tế là yêu cầu tất yếu và cấp thiết đối với Việt
Nam. Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu cũng như tình
trạng suy giảm tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong những năm 2008 -
2009 chỉ cho thấy rõ hơn những yếu kém của nền kinh tế chứ không phải là lý
do chủ yếu, lại càng không phải là lý do duy nhất, đòi hỏi phải điều chỉnh mô
hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.
1.2. Những ràng buộc với chuyển đổi mô hình tăng trưởng
Việc điều chỉnh mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam phải tính
đến những ràng buộc cơ bản sau đây:
- Ràng buộc về yêu cầu toàn dụng lao động. Với tốc độ tăng dân số
hiện nay, hàng năm số lượng lao động tăng thêm cần giải quyết việc làm lên
tới 1,7 triệu người. Giải quyết vấn đề có ý nghĩa sâu sắc cả về kinh tế và chính
trị - xã hội này là một bài toán hết sức phức tạp. Nếu chỉ tập trung phát triển
theo chiều sâu, phát triển các ngành công nghệ cao, sẽ không có khả năng tạo
thêm nhiều việc làm mới và sẽ không giải được bài toán lao động. Điều này
chắc chắn sẽ mang lại những hệ lụy xã hội khó lường.
5
- Ràng buộc về nguồn lực tài nguyên. Với mỗi quốc gia, nguồn lợi do
tự nhiên mang lại không bao giờ được coi là vô tận. Việt Nam không phải là
một ngoại lệ. Việc lạm dụng những nguồn lợi tự nhiên với việc khai thác quá
mức các nguồn lợi tự nhiên, không những chỉ dẫn đến sự mất cân bằng sinh
thái ngay ở thời điểm hiện tại, mà còn làm cạn kiệt khả năng phát triển của
các thế hệ tương lai.
- Ràng buộc của phát triển khoa học công nghệ. Trong thời đại ngày
nay, khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ và có ảnh hưởng sâu rộng và
trực tiếp đến các mặt của đời sống kinh tế - xã hội. Trình độ khoa học công
nghệ cũng là yếu tố tạo nền tảng cơ bản để nâng cao khả năng cạnh tranh ở cả
cấp độ quốc gia, ngành, doanh nghiệp và sản phẩm. Nhưng vấn đề không phải
trọng hàng đầu trong xác định mô hình tăng trưởng của đất nước. Điều này có
nghĩa, phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với phát
triển các lĩnh vực xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái. Trong khi coi phát
triển kinh tế và nhiệm vụ trọng tâm, xác định tốc độ tăng trưởng hợp lý, coi
trọng năng suất, chất lượng và hiệu quả, cần chú trọng nhiệm vụ phát triển xã
hội, đẩy mạnh vững chắc công cuộc xóa đói giảm nghèo, phát triển văn hóa
và giáo dục, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, đồng thời áp dụng đồng bộ
và kiên quyết các biện pháp bảo vệ môi trường sinh thái. Quan điểm này cần
được quán triệt và thực thi từ phạm vi từng đơn vị cơ sở, từng địa phương đến
phạm vi toàn ngành và toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Thứ hai, phát huy có hiệu quả lợi thế so sánh của đất nước.
Trong thời đại toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế vừa tạo ra những
cơ hội to lớn, vừa đặt ra những thách thức gay gắt, trong đó thách thức lớn
nhất là tình trạng cạnh tranh ngày càng gay gắt ở cả cấp độ quốc gia, ngành,
sản phẩm và doanh nghiệp. Để vượt qua thách thức đó, cần đánh giá đúng và
khai thác có hiệu quả các lợi thế so sánh sẵn có, chuyển lợi thế so sánh thành
7
lợi thế cạnh tranh, đồng thời, tạo lập các lợi thế cạnh tranh mới. Tài nguyên
thiên nhiên, vị trí địa - kinh tế là những lợi thế so sánh sẵn có, tuy rất quan
trọng nhưng không phải là quyết định nhất. Thực tiễn đã khẳng định nguồn
lực con người là yếu tố nội sinh năng động, quyết định lợi thế cạnh tranh dài
hạn của một quốc gia. Điều này phù hợp với điều kiện khoa học công nghệ -
sản phẩm trí tuệ của con người đóng vai trò quyết định với tăng trưởng và
phát triển. Việt Nam không chỉ có lợi thế về số lượng lao động dồi dào và lao
động trẻ, mà quan trọng hơn là con người Việt Nam cần cù, thông minh, có
khả năng tiếp thu nhanh kỹ thuật mới và khả năng thích nghi với sự thay đổi.
Quán triệt quan điểm này, trong mô hình tăng trưởng mới cần thể hiện việc
khai thác có hiệu quả các lợi thế của đất nước về vị trí địa lý và về tài nguyên
thiên nhiên, đồng thời cần chú trọng phát huy tài nguyên nhân lực trên cơ sở
không ngừng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tạo động lực cho người
những thành tựu mới của khoa học công nghệ phải trở thành nền tảng cơ bản
để nâng cao hiệu quả và chất lượng tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh
ở cả cấp độ quốc gia, ngành, doanh nghiệp và sản phẩm.
- Việc hoàn thiện quan hệ sản xuất phải quán triệt trong cả tư duy,
cơ chế chính sách và hành động thực tế chủ trương chiến lược về phát
triển nền kinh tế nhiều thành phần trên cơ sở đa dạng hóa các hình thức sở
hữu, bảo đảm môi trường cạnh tranh và hợp tác bình đẳng giữa các thành
phần kinh tế.
- Việc xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới phù hợp với
yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
không phải vì mục đích tự thân, mà nhằm phát triển lực lượng sản xuất,
huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài
nước vào đầu tư phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế một
cách có hiệu quả.
9
Thứ năm, mở rộng và nâng cao hiệu quả của hội nhập quốc tế.
Ngày nay, toàn cầu hóa đã thực sự trở thành một xu hướng khách quan.
Phù hợp với xu thế này, kinh tế của mỗi quốc gia là một bộ phận của kinh tế
toàn cầu, có ảnh hưởng và chịu sự tác động trực tiếp của những biến động
kinh tế toàn cầu. Bởi vậy, xác định mô hình tăng trưởng mới phải đặt trong
điều kiện đất nước hội nhập ngày càng sâu rộng vào đời sống kinh tế - xã hội
toàn cầu. Với trình độ phát triển còn thấp kém, mô hình tăng trưởng mới phải
thể hiện việc phát huy lợi thế so sánh của đất nước, của từng ngành, từng
nhóm sản phẩm hàng hóa và dịch vụ trong tham gia các quan hệ kinh tế quốc
tế. Đồng thời, mô hình tăng trưởng mới cũng phải thể hiện yêu cầu và nội
dung hợp tác quốc tế trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi, giữ vững độc lập tự
chủ và chủ quyền lãnh thổ quốc gia.
1.4. Định hướng chung
Trên cơ sở các quan điểm cơ bản này, định hướng chung của quá trình
chuyển đổi mô hình tăng trưởng trong thời gian tới sẽ phải là kết hợp giữa
Qúa trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng cũng là quá trình chuyển từ
“nền công nghiệp gia công” hiệu quả thấp và phụ thuộc vào nước ngoài sang
chủ động khai thác lợi thế cạnh tranh, thực hiện quan hệ liên kết chặt chẽ giữa
khai thác và chế biến, nâng cao giá trị gia tăng của sản xuất và xuất khẩu các
sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao. Việc chú trọng phát triển công nghiệp
hỗ trợ không những chỉ là một trong những điều kiện cơ bản để thực hiện yêu
cầu này, mà còn là cách thức tham gia chủ động vào mạng sản xuất toàn cầu và
cải thiện vị trí trong mạng sản xuất toàn cầu.
Mô hình tăng trưởng mới phải hướng tới mục tiêu phát triển con người.
Điều đó được thể hiện trên các nội dung chủ yếu sau đây:
11
- Tăng trưởng kinh tế gắn với cải thiện các khía cạnh liên quan đến phát
triển con người: phát huy tác động của tăng trưởng kinh tế đến thúc đẩy phát
triển xã hội, trong đó trọng tâm là xóa đói giảm nghèo bền vững, giải quyết việc
làm, phát triển giáo dục, y tế, thể dục thể thao, văn hóa nghệ thuật, bảo đảm bình
đẳng dân tộc và bình đẳng giới.
- Tăng trưởng kinh tế gắn liền với tạo điều kiện ngày càng công bằng cho
mọi người về cơ hội phát triển. Điều này liên quan đến việc cần phải thực hiện
các chính sách tạo điều kiện cho mọi người dân nâng cao năng lực tham gia vào
quá trình thực hiện tăng trưởng kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội.
- Bảo đảm tăng trưởng kinh tế luôn gắn với nâng cao mức sống cho
người dân. Điều này được thực hiện qua chính sách phân phối và phân phối
lại thu nhập. Mô hình tăng trưởng vì con người đặt ra yêu cầu sử dụng để và
có hiệu quả hai phương thức phân phối thu nhập: 1/ Phân phối thu nhập theo
chức năng, tức là thu nhập của mỗi người được xác định trên cơ sở đóng góp
về số lượng và chất lượng các nguồn lực mà họ đóng góp vào việc tạo ra thu
nhập cho nền kinh tế; 2/ Phân phối lại thu nhập dưới hình thức trực tiếp (thuế,
trợ cấp) và gián tiếp (qua chính sách giá tiếp cận dịch vụ công) để góp phần
điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội.
Mô hình tăng trưởng mới còn thể hiện tăng trưởng kinh tế theo hướng
- Tăng cường quản lý vốn đầu tư, nhằm nâng cao hiệu quả của vốn đầu
tư làm gia tăng nhanh năng lực tài sản sản xuất của nền kinh tế.
- Sử dụng triệt để vốn sản xuất đã được trang bị.
- Nâng cao năng suất lao động, trong giai đoạn này tập trung trước hết
vào việc sắp xếp, bảo đảm việc làm, giảm tối thiểu tỷ lệ thất nghiệp ở thành
thị và nâng cao tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn; nâng cao hiệu
suất làm việc của người lao động (gồm: đào tạo nghề, kỹ năng phù hợp với
điều kiện làm việc nhằm tạo điều kiện cho người lao động có thể tiếp nhận
13
việc làm trong điều kiện chuyển đổi nghề nghiệp và yêu cầu lao động cao
hơn; tăng cường ý thức, kỷ luật và phong cách người lao động nhằm nâng
cao hiệu suất việc làm; xúc tiến và hỗ trợ giải quyết việc làm nhằm tạo cơ hội
có việc làm phù hợp cho người lao động
Tạo dựng tốt các lợi thế cạnh tranh quốc tế trên cơ sở phát triển các
ngành mũi nhọn và các vùng động lực
Để tạo dựng được các lợi thế cạnh tranh quốc tế, trước hết cần xác định
các lợi thế so sánh, và sau đó là tiến hành đầu tư để chuyển các lợi thế so sánh
thành lợi thế cạnh tranh. Theo hướng này, có hai điểm nhấn về phương thức
thực hiện:
- Nguồn lực tăng trưởng phải được phân bổ theo hướng tập trung
(không phân tán, dàn đều cho mọi ngành, mọi địa phương trong cả nước), cho
các điểm động lực, bao gồm các ngành mũi nhọn và các vùng động lực.
- Nếu xét trên bình diện chung toàn quốc, nội dung chính của giai đoạn
này là thực hiện nâng cao hiệu quả các hình thức đầu tư theo chiều rộng, thì
các điểm động lực lại cần được đầu tư vốn và lao động theo chiều sâu, để có
được công nghệ cao và nguồn nhân lực chất lượng cao (nhân tài) nhằm tạo
dựng vững chắc các lợi thế cạnh tranh quốc tế.
Quá trình tạo dựng các lợi thế cạnh tranh quốc tế nói trên có liên
quan trực tiếp đến việc hình thành và phát triển các ngành mũi nhọn và
vùng động lực tăng trưởng.
Nội dung: đạt tới mục tiêu cuối cùng của mô hình tăng trưởng là bền
vững, hiệu quả và vì con người, trên cơ sở: (i) tập trung đầu tư vốn và lao
động theo chiều sâu trên phạm vi toàn nền kinh tế; (ii) phát huy lợi thế của cơ
cấu kinh tế mở hiện đại, được hoàn thiện theo các lợi thế cạnh tranh ngành sản
phẩm và vùng động lực được phát triển trong giai đoạn 2011-2020; (iii) vận
hành thông suốt cơ chế kinh tế thị trường và gắn chặt quá trình tăng trưởng với
thực hiện tiến bộ xã hội cho con người.
Phương thức thực hiện xác định những điểm chính sau đây:
Chuyển sang tăng trưởng theo chiều sâu trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế
15
Giai đoạn từ 2021 đến 2030, mô hình tăng trưởng của Việt Nam xét theo
yếu tố đầu vào hoàn toàn được dựa trên yếu tố tăng trưởng theo chiều sâu với
sự đóng góp 2/3 của yếu tố TFP (ngang với Hàn Quốc hiện nay). Trong giai
đoạn này, đi đôi với đầu tư vào công nghệ và lao động chất lượng cao dựa trên
cơ sở tiếp tục thực hiện đầu tư trực tiếp với nước ngoài theo các mô hình liên
kết đầu tư trực tiếp, là việc đẩy mạnh nghiên cứu và triển khai trong nước với
sự phát triển mạnh của các khu công nghệ cao của quốc gia và các “vườn ươm
công nghệ” ở các thành phố và khu đô thị lớn. Tăng trưởng kinh tế trong giai
đoạn này nhấn mạnh chủ yếu vào khía cạnh chất lượng với hiệu quả đạt được
các chỉ tiêu tăng trưởng ngày càng cao hơn.
Hoàn thiện và khai thác tốt các lợi thế cạnh tranh đã tạo dựng từ các
sản phẩm mũi nhọn và vùng động lực tăng trưởng:
- Đối với các ngành mũi nhọn: Trên cơ sở của việc đầu tư vốn và lao
động theo chiều sâu cho các ngành có dấu hiệu lợi thế so sánh ở giai đoạn
2011-2020, danh mục các ngành kinh tế mũi nhọn đã được hình thành rõ rệt.
Giai đoạn 2021-2030 tiếp tục đầu tư theo chiều sâu cho các ngành này để
hoàn thiện và nâng cao hơn nữa chất lượng sản phẩm, đầu tư phát triển các
ngành công nghiệp hỗ trợ cho nó để hoàn thiện lợi thế cạnh tranh của sản
phẩm trên thị trường quốc tế. Các ngành kinh tế mũi nhọn sẽ được định
hướng bố trí, tổ chức sản xuất qua các mô hình hiện đại như tập đoàn kinh tế,
trên hai đường cong. Đường thẳng nằm giữa thể hiện mức thu nhập trung bình
của các quốc gia và là chỉ giới phân định hai giai đoạn phát triển trong công
nghiệp hóa. Lợi thế so sánh bậc thấp bao gồm: (i) lao động giản đơn; (ii)
nguyên liệu thô, sản phẩm sơ chế; (iii) vốn vừa và nhỏ; (iv) công nghệ phù
hợp (thâm dụng lao động); và (v) sức mua thấp. Các lợi thế so sánh bậc cao
bao gồm: (i) lao động chất lượng cao; (ii) nguyên liệu tinh chế; (iii) vốn lớn;
(iv) công nghệ hiện đại; và (v) sức mua cao.
Như vậy, trong giai đoạn hiện nay và vài năm sau đó, Việt Nam vẫn phải
còn phải dựa vào các lợi thế bậc thấp và dần chuyển sang các lợi thế bậc cao.
Đặc biệt, cần chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, kết hợp
giữa công nghệ thâm dụng lao động và thâm dụng vốn và phát triển các ngành
công nghiệp hỗ trợ cơ bản. Với việc trở thành nước thu nhập trung bình, Việt
Nam cần chuyển sang giai đoạn 2 và 3 của quá trình công nghiệp hóa.
- Phát triển các ngành công nghiệp ưu tiên
LTSS bậc cao
LTSS bậc thấp
TNTB thấp
(1000 USD)
TNTB trung bình
(5 000 USD)
TNTB cao
(10 000 USD)
18
Đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp ưu tiên đã được xác định
trong chiến lược công nghiệp hóa Việt Nam – Nhật Bản bao gồm cơ khí,
luyện kim; chế biến nông lâm thủy sản; điện tử và công nghệ thông tin; năng
lượng; công nghiệp hóa chất; dệt may, da giầy.
- Phát triển các cụm ngành công nghiệp, tăng cường tham gia vào chuỗi
giá trị toàn cầu.
Định hướng phát triển theo quy trình công nghệ
thiết kế mẫu, v.v.).
Định hướng phát triển cơ cấu theo quy trình nhằm vào những khâu tạo
giá trị gia tăng lớn mà không bị giới hạn ở việc sản phẩm đó là “công nghệ
cao” hay “không cao”. Cách tiếp cận này mở rộng cơ hội tham gia của các
doanh nghiệp vào hệ thống phân công lao động quốc tế.
Định hướng phát triển mạnh những ngành sử dụng nhiều lao động phổ
thông sang ngành sử dụng lao động có kỹ năng
Trong giai đoạn trước, sự phát triển cơ cấu ngành bị thiên lệch, nghiêng
về các ngành thâm dụng vốn. Trong khi đó, Việt Nam lại dư thừa nhiều lao
động phổ thông tiền lương thấp. Tình trạng mâu thuẫn này gây ra hậu quả
nghiêm trọng kéo dài: sự “lệch pha” trong quá trình chuyển dịch cơ cấu
ngành: cơ cấu sản lượng biến đổi tích cực và nhanh hơn nhiều so với cơ cấu
lao động. Cũng vì thế, lợi thế tiềm năng to lớn của nguồn nhân lực (lợi thế
tĩnh) không tận dụng được, gây căng thẳng xã hội.
Việc giải quyết tình trạng bất cập này là một trong những ưu tiêu hàng đầu
của mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam trong giai đoạn tới.
Việc giải quyết vấn đề gắn với việc trả lời câu hỏi: lực lượng kinh tế nào
giúp cho quá trình chuyển dịch cơ cấu theo hướng phát triển mạnh những
ngành sử dụng nhiều lao động diễn ra một cách hiệu quả nhất? Kinh nghiệm
thực tế đã đưa ra một phương án trả lời rất rõ: tạo điều kiện thuận lợi cho khu
20
vực tư nhân phát triển. Như vậy, trọng tâm vấn đề lại chuyển sang hệ thống
chính sách khuyến khích và cơ chế.
1.6. Phát triển và chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp
Thứ nhất, đẩy mạnh xây dựng đầu tư cơ sở vật chất, hệ thống hạ tầng
cho nông nghiệp, nông thôn thông qua thực thi Chương trình xây dựng nông
thôn mới một cách thiết thực, vững chắc, tránh chạy theo phong trào, hình
thức gây lãng phí, hiệu quả kinh tế, xã hội thấp. Hiện nay Chương trình xây
dựng nông thôn mới đang ở giai đoạn đẩy nhanh.
Theo mục tiêu của xây dựng nông thôn mới, đến năm 2015 có 20% số xã
nông nghiệp, nông thôn; (ii) bên cạnh các chính sách thu hút vốn, quá trình
công nghiệp hóa cần nâng cao năng lực của các đơn vị cá nhân sử dụng vốn,
khắc phục các đặc điểm sản xuất nông nghiệp và chất lượng lao động thấp.
- Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa nông
nghiệp, nông thôn: Hiện tại, chất lượng nguồn lao động của nông nghiệp,
nông thôn ở mức độ thấp nếu so với yêu cầu của công nghiệp hóa nông
nghiệp, nông thôn. Vì vậy, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho
nền kinh tế nói chung, cho nông nghiệp, nông thôn nói riêng là rất cần thiết.
Đối với đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn cần lưu ý:
+ Trong xu hướng biến động nguồn lao động có lượng rất lớn lao động
nông nghiệp, nông thôn với chất lượng cao luôn muốn bứt và đã bứt ra khỏi
nông nghiệp, nông thôn. Vì vậy, xác định nguồn vốn đầu tư cho nông nghiệp,
nông thôn cần phải tính tới hiện tượng lao động với chất lượng cao chuyển ra
khỏi khu vực này. Nói cách khác cần tính tới nhiệm vụ của nông nghiệp, nông
thôn đào tạo cho các ngành và lĩnh vực khác để có sự đầu tư hợp lý.
+ Đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn với chất lượng
thấp như vậy, nên nội dung đào tạo rất lớn, đối tượng đào tạo phức tạp, số
lượng lớn, vì vậy cần có những hình thức và thời gian đào tạo hợp lý.
22
+ Nguồn lao động nông nghiệp, nông thôn với mức sống thấp, điều kiện
học tập khó khăn, vì vậy cần có chính sách hỗ trợ, thu hút trong đào tạo.
Trước mắt cần rà soát lại chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn
theo Quyết định 1956 của Chính phủ. Thực hiện tốt các chương trình phổ cập
những kiến thức kỹ thuật mới, các kiến thức kinh tế thị trường cho nông dân
thông qua các tổ chức khuyến nông và các chương trình dự án.
- Về vấn đề đa dạng hóa các hình thức tổ chức sản xuất: Đẩy mạnh sắp
xếp, đổi mới các doanh nghiệp nhà nước thuộc ngành; chú trọng sắp xếp, đổi
mới các nông trường, lâm trường quốc doanh, công ty lâm nghiệp nâng cao
hiệu quả sử dụng tài nguyên rừng và đất; đổi mới và nâng cao hiệu quả, trách
nhiệm của các công ty thủy nông; tiếp tục nghiên cứu hình thức tổ chức phù
Khi thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp cần phải lưu ý đến 3 nội dung quan
trọng, đó là: tái cơ cấu không gian sản xuất nông nghiệp; tái cơ cấu chuỗi
ngành hàng nông sản và tái cơ cấu đối tượng tham gia sản xuất nông nghiệp.
Thực tế cho thấy, trên mỗi vùng của đất nước, nông nghiệp có lợi thế và chức
năng, vai trò kinh tế, xã hội, sinh thái môi trường khác nhau. Do vậy, cần thiết
có nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp phù hợp với từng vùng. Quá trình tái
cơ cấu cần định hình rõ cơ chế, chính sách, chiến lược phát triển các mô hình
sản xuất phù hợp theo vùng miền. Có như vậy, tiềm năng lợi thế của từng
vùng mới được phát huy; sản phẩm nông nghiệp mới có sức cạnh tranh cao,
nông nghiệp mới đạt được mục tiêu phát triển hiệu quả và bền vững.
Thứ tư, đổi mới công tác xây dựng và tổ chức quy hoạch phát triển kinh
tế nông thôn. Nâng cao chất lượng quy hoạch, rà soát, gắn chiến lược với xây
dựng quy hoạch, kế hoạch, quản lý giám sát nâng cao hiệu lực quản lý nhà
nước đối với quy hoạch, cụ thể:
- Rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch sản xuất nông nghiệp trên cơ sở
phát huy lợi thế sản phẩm và lợi thế vùng miền; đảm bảo thực hiện chiến lược
phát triển xanh và ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu; loại bỏ các dự án
24
treo, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên.
- Rà soát, đánh giá lại quy hoạch rừng, duy trì hợp lý diện tích rừng đầu
nguồn, rừng đặc dụng, đổi mới cơ chế và tổ chức quản lý rừng theo hướng nâng
cao quyền tự chủ cho các hộ gia đình và doanh nghiệp, chuyển đổi số diện tích
rừng còn lại sang phát triển vùng rừng nguyên liệu tập trung, phát triển và khai
thác rừng một cách có hiệu quả, bền vững, nâng cao thu nhập và đời sống của
người lao động lâm nghiệp.
- Rà soát, quy hoạch và quản lý vùng nuôi an toàn môi trường, an toàn
thực phẩm; điều tra ngư trường, phân tích nguồn, trữ lượng hải sản và giám
sát mức độ đánh bắt, bảo vệ nguồn lợi và môi trường.
- Tăng cường kiểm tra, giám sát thực hiện quy hoạch, nhất là sự kết hợp
giữa quy hoạch vùng với quy hoạch ngành, lĩnh vực, quy hoạch tổng thể phát