Đề án môn học
Đề tài: “Phát triển dịch vụ Logistics đối với loại
hình doanh nghiệp 3PL ở Việt Nam giai đoạn
2007-2012 và định hướng đến 2015”.
Đề án môn học GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
SV: Trần Thị Hà May 2 Lớp: Kinh tế quốc tế 51E LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính tất yếu
Trong tình hình kinh tế toàn cầu hiện nay, tính hiệu quả trong hoạt động là yếu
tố then chốt quyết định sự thành công của doanh nghiệp. Các nhà quản trị doanh
nghiệp đã đặt ra câu hỏi: Làm thế nào để đạt được hiệu quả trong toàn bộ các hoạt
động của doanh nghiệp từ khâu đầu tiên của quá trình sản xuất đến khâu cuối cùng
của quá trình phân phối. Logistics đã ra đời như một giải pháp hữu hiệu để giúp
(với tư cách là 3PL) đồng thời với việc đánh giá việc thực hiện vai trò của
Logistics đối với kinh tế quốc gia trước xu thế chung của thế giới.
Định hướng cho sự phát triển của các doanh nghiệp 3PL đến năm 2015 cũng
như đề xuất giải pháp cho những vấn đề còn tồn tại giúp cho các doanh nghiệp
Logistics Việt Nam cạnh tranh và phát triển trong môi trường WTO.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng
Phát triển dịch vụ Logistics đối với loại hình doanh nghiệp 3PL ở Việt Nam.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về chủ thể: Các doanh nghiệp 3PL ở Việt Nam.
Về thời gian: Tập trung vào giai đoạn sau khi Việt Nam gia nhập WTO từ 2007
đến 2012, từ đó đưa ra định hướng phát triển đến năm 2015.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề án sử dụng các phương pháp nghiên cứu: phân tích, tổng hợp, so sánh,…
Nguồn dữ liệu được thu thập từ: Tổng cục Thống kê, Viện Nghiên cứu kinh tế
và phát triển - Đại học Kinh tế quốc dân, Tổng cục đường bộ Việt Nam, Tổng công
ty đường sắt Việt Nam,… và từ mạng Internet.
Đề án môn học GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
SV: Trần Thị Hà May 4 Lớp: Kinh tế quốc tế 51E
5. Kết cấu
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề án được
trình bày trong ba chương sau:
Chương 1: Đặc trưng phát triển dịch vụ Logistics đối với loại hình doanh
nghiệp 3PL
Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ Logistics đối với loại hình doanh
nghiệp 3PL ở Việt Nam giai đoạn 2007-2012
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển dịch vụ Logistics đối với loại
hình doanh nghiệp 3PL ở Việt Nam đến năm 2015
xúc với các kết quả nghiên cứu về Logistics trong thời gian vừa qua của Viện để
em bổ sung thêm kiến thức và những số liệu cần thiết trong quá trình thực hiện đề
án.
Vì thời gian thực hiện tương đối ngắn và vốn kiến thức của em còn hạn chế nên
đề án này không thể tránh khỏi những thiếu sót. Do đó em mong nhận được những
nhận xét của các thầy cô để đề án được hoàn thiện hơn.
Cuối cùng em xin kính chúc các thầy cô dồi dào sức khỏe và thành công trong
công việc cũng như trong cuộc sống.
Xin chân thành cảm ơn.
Hà Nội, ngày 27 tháng 6 năm 2012
Sinh viên thực hiện
Trần Thị Hà May
Đề án môn học GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
SV: Trần Thị Hà May 6 Lớp: Kinh tế quốc tế 51E
CHƯƠNG 1
ĐẶC TRƯNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ LOGISTICS ĐỐI VỚI
LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP 3PL
1.1.Đặc trưng phát triển
1.1.1.Quá trình phát triển loại hình doanh nghiệp 3PL
“Logistics bên thứ ba” (3PL): là người thay mặt cho chủ hàng quản lý và thực
hiện các dịch vụ Logistics cho từng bộ phận chức năng, ví dụ: thay mặt cho người
gửi hàng thực hiện thủ tục xuất khẩu và vận chuyển nội địa hoặc thay mặt cho
người nhập khẩu làm thủ tục thông quan và vận chuyển hàng hóa tới địa điểm quy
định… Do đó, 3PL bao gồm nhiều dịch vụ khác nhau, kết hợp chặt chẽ việc luân
chuyển, tồn trữ hàng hóa, xử lý thông tin… và có tính tích hợp vào chuỗi cung ứng
của khách hàng. Sử dụng phương thức này có nghĩa là doanh nghiệp sử dụng các
dựng dựa trên sự liên kết giữa các bên tham gia. Theo đúng như định nghĩa của nó,
3PL nhấn mạnh đến mối quan hệ hợp tác lâu dài giữa khách hàng và người cung
ứng chứ không chỉ là mối quan hệ chộp giật, theo mùa vụ như trước đây. Đề án môn học GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
SV: Trần Thị Hà May 8 Lớp: Kinh tế quốc tế 51E
Bảng 1.1: Sự khác biệt giữa hoạt động thuê ngoài Logistics
truyền thống và hiện đại
Thuê ngoài truy
ền thống
Thuê ngoài hi
ện
đ
ại
-
Không đư
ợc thiết kế
-Thường riêng lẻ: hoặc vận tải hoặc
kho bãi
tải, giao nhận, nhà cung cấp kho bãi truyền thống, đồng thời cả từ những công ty tư
vấn, cung cấp giải pháp công nghệ nữa.
Ta có thể thấy xu hướng này qua các ví dụ sau:
Đề án môn học GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
SV: Trần Thị Hà May 9 Lớp: Kinh tế quốc tế 51E
+Hầu hết các hãng tàu lớn đều mở thêm các mảng dịch vụ Logistics (3PL) như
Maersk Line thành lập Maerk Logistics, APL Line-NOL mở APL Logistics, MOL
mở MOL Logistics…
+Hầu hết các nhà giao nhận lớn cũng như vậy: Kuehne-Nagel, DHL mở thêm
bộ phận contract Logistics…
+Phần lớn các hãng vận tải đường bộ lớn cũng mở rộng hoạt động Logistics của
mình như Ryder, YRC Logistics…
1.2.Nội dung phát triển
1.2.1.Các xu hướng phát triển
Một là, đảm bảo an ninh trong vận tải container, vận tải hàng không. Đây là một
trong những vấn đề quan trọng trong nhiều năm tới đối với sự phát triển của ngành
giao nhận vận tải nói riêng và Logistics nói chung. Các công ty 3PL hàng đầu thế
giới như DHL, FedEX, UPS… đã có kinh nghiệm lâu năm trong thực hiện các
công việc của mình một cách an toàn và hiệu quả. Nhờ đó, họ đã xây dựng được
lòng tin nơi khách hàng và nắm giữ thị phần lớn trong thị trường 3PL toàn cầu. Có
thể nói, các vấn đề về an ninh sẽ vẫn luôn là những vấn đề quan trọng không thể
thiếu khi các khách hàng đánh giá và lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ cho mình.
Điều đó cũng có nghĩa là các doanh nghiệp 3PL phải đảm bảo đáp ứng yêu cầu của
khách hàng về những vấn đề này, và nó sẽ là xu hướng chủ đạo của phát triển loại
hình dịch vụ 3PL hiện nay.
Hai là, minh bạch hóa quá trình hoạt động và tình hình tài chính của các 3PL.
Đây là một trong những vấn đề quan trọng nhằm đạt được sự tin tưởng của khách
hàng trong quá trình tìm hiểu cũng như thực hiện hợp đồng 3PL với nhà cung ứng.
Mặc dù, thực tế hiện nay thì các công ty thường cung cấp những dữ liệu không đủ
Đề án môn học GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
SV: Trần Thị Hà May 11 Lớp: Kinh tế quốc tế 51E
1.2.2.Nâng cấp cơ sở hạ tầng Logistics
Cơ sở hạ tầng Logistics là yếu tố quan trọng trong phát triển ngành Logistics
nói chung và loại hình 3PL nói riêng. Nhìn chung, các chính phủ đều hướng tới cải
thiện hệ thống giao thông vận tải, hệ thống kho bãi, … nhằm tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp khai thác cơ sở hạ tầng một cách tối ưu và phát triển nhanh chóng.
1.2.3.Cải thiện hệ thống thông tin Logistics
Logistics không phải là một hoạt động đơn lẻ mà là một chuỗi các dịch vụ được
cung cấp và liên kết chặt chẽ với nhau, điều đó có nghĩa là phải có một hệ thống
công nghệ thông tin đủ khả năng kết nối các quy trình của chuỗi Logistics và giúp
doanh nghiệp vận hành, kiểm soát các hoạt động được thực hiện. Hệ thống thông
tin Logistics bao gồm:
+Thông tin nội bộ từng tổ chức thuộc hệ thống Logistics: doanh nghiệp, nhà
cung cấp, khách hàng, người mua hàng…
+Thông tin trong từng bộ phận chức năng của mỗi doanh nghiệp: Logistics, kỹ
thuật, kế toán, marketing, sản xuất…
+Thông tin trong từng khâu của dây chuyền cung ứng dịch vụ khách hàng, vận
tải, kinh doanh…
Những thành tựu đạt được từ cuộc cách mạng về công nghệ thông tin và truyền
thông đã tạo nên sự chuyển biến mạnh mẽ và đem lại hiệu quả cao đối với hệ thống
Logistics. Giao dịch thương mại điện tử được sử dụng phổ cập ở hầu hết các quốc
gia đặc biệt trong ngành Logistics đem lại giá trị gia tăng cao hơn cho các hoạt
động của doanh nghiệp.
Sự giao thương trao đổi hàng hóa cũng như nguyên nhiên vật liệu trong sản
xuất, tiêu dùng ngày càng sôi động, không chịu ảnh hưởng bởi vị trí địa lý. Sự phát
triển của ICT đã giúp doanh nghiệp 3PL có thể tích hợp, xử lý, trao đổi và quản lý
hiệu quả dòng thông tin trong quá trình vận chuyển hàng hóa cũng như lưu hành và
SV: Trần Thị Hà May 13 Lớp: Kinh tế quốc tế 51E
thường xuyên. Điều này có được là do Chính phủ Trung Quốc đã đưa chương trình
phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng vào Kế hoạc phát triển 5 năm lần thứ 11 (2006-
2010). Kế hoạch này vạch ra chiến lược xây dựng và phát triển đường sắt, đường
cao tốc và cơ sở hạ tầng khác.
Cơ sở hạ tầng Logistics ở Trung Quốc không chỉ được đầu tư từ nguồn vốn của
chính phủ mà còn được tài trợ từ các công ty có năng lực trong ngành Logistics.
Các công ty cung cấp dịch vụ Logistics trong nước và nước ngoài đã nhận ra rằng
cơ sở hạ tầng yếu kém của Trung Quốc là một trong những cơ hội lớn và đã đầu tư
vào lĩnh vực này với những dự án lớn mang lại khoản lợi nhuận khổng lồ.
*Hai là, sự tham gia ngày càng nhiều của các công ty cung ứng dịch vụ
Logistics vào thị trường Trung Quốc: Thị trường Logistics Trung Quốc hiện nay
có giá trị cao nhất khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Trong một báo cáo của
Trung Quốc, giá trị thị trường Logistics Trung Quốc vào khoảng 470 tỷ USD năm
2007, trong đó thị trường cung cấp dịch vụ 3PL chỉ chiếm 5%. Hơn thế nữa, tốc độ
tăng trưởng thị trường Logistics được dự đoán khoảng 18-20% hằng năm. Vì thế,
không có gì ngạc nhiên khi có rất nhiều công ty tham gia vào thị trường này. Theo
thống kê, hiện nay ở Trung Quốc có khoảng 18.000 công ty cung cấp dịch vụ
Logistics ở mọi quy mô. Các công ty này đã cùng với Chính phủ đầu tư vào cơ sở
hạ tầng Logistics để đáp ứng nhu cầu phát triển.
Trung Quốc là một nước phát triển liên tục trong hơn một thập kỷ, sự bùng nôt
về thương mại điện tử và việc gia nhập WTO năm 2001 là các yếu tố chính thúc
đẩy sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống Logistics và phân phối của Trung Quốc.
Gia nhập WTO đã làm cho thương mại và đầu tư của nước này tăng lên nhanh
chóng. Các tập đoàn đa quốc gia hàng đầu thế giới chọn Trung Quốc làm nơi đặt
các nhà máy của mình vì giá nhân công ở đây rẻ. Đi cùng với các tập đoàn này là
các nhà cung cấp dịch vụ Logistics. Đồng thời, sự tăng trưởng liên tục của Trung
Đề án môn học GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
SV: Trần Thị Hà May 14 Lớp: Kinh tế quốc tế 51E
hoạch này có sức ảnh hưởng to lớn vì khẳng định ngành Logistics là một bộ phận
then chốt cho sự phồn vinh của nền kinh tế Trung Quốc, là một ngành có đủ
“quyền lực” cũng như cần thiết phải hiện đại hóa.
Theo Lee Perkins, kế hoạch này như một bộ khung pháp lý với mục tiêu chuyển
đổi ngành Logistics còn manh mún và non trẻ của Trung Quốc thành một ngành
mang tính cạnh tranh toàn cầu với nhiều công ty Logistics quốc tế; nâng cao vai trò
và quy mô của các công ty 3PL; đạt tăng trưởng 10% tổng giá trị gia tăng của
ngành; giảm chi phí Logistics/GDP ngang bằng với các quốc gia phát triển khác.
Trong kế hoạch này, chính phủ đã xác định cần phải khuyến khích các công ty
sản xuất trong nước thực hiện nhiều hơn hoạt động thuê ngoài dịch vụ Logistics,
bởi vì hiện tại mức thuê ngoài này (khoảng 20%) vẫn còn tụt hậu so với các quốc
gia phát triển khác (ở Mỹ là 50%, Nhật Bản là 80%). Tỷ lệ thấp trong hoạt động
thuê ngoài này là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự không hiệu quả trong
ngành Logistics. Trong khi hầu hết các công ty đa quốc gia hoạt động tại Trung
Quốc thực hiện thuê ngoài hoạt động Logistics thì các doanh nghiệp Trung Quốc
chỉ thuê ngoài một phần, mà theo ước tính thì tỷ lệ này chiếm 15%.
Ngoài ra, kế hoạch này cũng cung cấp một số phác thảo chương trình mà chính
phủ Trung Quốc sẽ thực hiện trong những năm tới như xây dựng 9 khu vực
Logistics, 10 hành lang Logistics và phát triến 10 trung tâm Logistics kết nối 38
thành phố chính. Kế hoạch cũng cho thấy nhu cầu cần hiện đại hóa hầu hết các lĩnh
vực Logistics, và đưa ra 9 dự án trọng điểm có sức ảnh hưởng tới hầu như mọi lĩnh
vực trong ngành Logistics từ cơ sở hạ tầng Logistics và vận tải đa phương thức đến
hoạt động nghiên cứu và phát triển, nhằm đưa ngành Logistics Trung Quốc đạt tới
các chuẩn của quốc tế.
Kế hoạch đã đưa ra nhu cầu cần phải cải thiện hoạt động đào tạo nhằm phát
triển đội ngũ nhân sự cho ngành logistics. Việc thiếu hụt nhân sự được xem như là
Đề án môn học GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
SV: Trần Thị Hà May 16 Lớp: Kinh tế quốc tế 51E
thách thức lớn nhất cho môi trường hoạt động kinh doanh của Trung Quốc. Để có
vùng tại Singapore và hiện nay có hơn 3000 công ty Logistics đang hoạt động tại
đây.
Ngành Logistics đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế và thương mại quốc
gia cũng như các hoạt động sản xuất. Chính phủ Singapore đã xác định Logistics là
một trong bốn ngành công nghiệp phát triển chính yếu của thiên niên kỷ này.
Singapore đã giới thiệu chương trình ứng dụng và đề cao dịch vụ Logistics (LEAP)
năm 1997 nhằm duy trì hiệu quả và tính cạnh tranh trong dài hạn của Singapore.
Bốn chìa khóa đột phá của chương trình là: Phát triển những sáng chế kỹ thuật,
Phát triển nguồn nhân lực, Phát triển cơ sở hạ tầng, Đề cao cách thức kinh doanh.
Để thực hiện chương trình phát triển công nghiệp Logistics, chính phủ khuyến
khích các công ty giao nhận trong nước liên doanh với các hãng nước ngoài để
thiết lập hệ thống Logistics toàn cầu. Nhà nước cho phép thành lập các trung tâm
cung cấp dịch vụ phân phối hàng hóa và cung cấp cho khách hàng của mình những
thông tin liên quan đến tiến độ sản xuất, lưu trữ, phân phối. Nhà nước còn đứng ra
thành lập các trung tâm phân phối và cho các công ty hoạt động trong lĩnh vực này
thuê lại. Với việc thành lập các trung tâm này, Chính phủ Singapore muốn nhanh
chóng tăng nhanh lượng hàng chuyển tải qua sân bay Changi và cảng biển quốc tế
Singapore, tạo sự tối ưu hóa trong vận chuyển đường biển và đường không để thu
hút lượng hàng hóa chuyển tải trong khu vực, đồng thời để duy trì vị thế cạnh tranh
so với trung tâm chuyển tải quốc tế ở HongKong.
Bên cạnh sự hỗ trợ của Chính phủ, Hiệp Hội Logistics Singapore cũng đóng vai
trò quan trọng trong phát triển công nghiệp Logistics. Các chi phí liên quan đến
giao nhận, chuyển tải đều do Hiệp Hội thống nhất quy định chung và các thành
viên được khuyến khích áp dụng để tránh tình trạng cạnh tranh về giá. Điều này tạo
điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các doanh nghiệp Logistics ở Singapore.
Đề án môn học GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
SV: Trần Thị Hà May 18 Lớp: Kinh tế quốc tế 51E
Hơn nữa, Singapore đặt mục tiêu trở thành một trung tâm tích hợp Logistics và
vận tải lớn, đặc biệt về Logistics điện tử. Do đó, Singapore đang đầu tư mạnh mẽ
đầu tư… Bên cạnh đó, Singapore cũng thu hút các nhà đầu tư nước ngoài thành lập
các trung tâm mua bán, quảng cáo và phân phối hàng hóa nhờ có các luật đầu tư
nước ngoài minh bạch, cơ chế hành chính hợp lý, hiệu quả. Vì vậy, những điều
kiện tối cần thiết thúc đẩy hoạt động kinh doanh ở Singapore ngày càng phát triển.
Dịch vụ Logistics không thể phát triển được nếu không có công nghệ thông tin
(IT), Sự tiến bộ vượt trội của IT đã giúp các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ
Logistics có thể tập hợp thông tin, xử lý và trao đổi thông tin trong quá trình vận
chuyển hàng hóa và chứng từ một cách dễ dàng, thuận lợi.
Công nghệ thông tin viễn thông (ICT) là công nghệ tiện ích nhất giúp cho
ngành dịch vụ Logistics giảm tối thiểu chi phí và có những thông tin trao đổi một
cách chính xác, giúp cho dịch vụ Logistics vận hành được hài hòa, theo phương
châm đùng lượng, đúng chỗ và đúng lúc. Singapore có thị trường ICT tụ do nhất
trong khu vực và được xem là nước đi đầu trong lĩnh vực IT. Trên thực tế,
Singapore có thể được xem là một trong những nước phát triển IT nhất trên thế
giới.
Giao thông vận tải là một trong những chất xúc tác chính cho phát triển kinh tế
và cạnh tranh quốc tế, có vai trò như một khu vực dịch vụ Logistics quan trọng.
Giao thông vận tảo là một ngành dịch vụ Logistics lớn bao gồm các phân ngành
như vận tải đường bộ, vận tải đường không, vận tải đường biển… Singapore nổi
tiếng thế giới về hệ thống cảng biển. Cảng của Singapore là một trong những cảng
container sầm uất nhất trên thế giới. Thế mạnh cảng biển của Singapore chính là
việc tạo điều kiện thuận lợi và cơ sở hạ tầng hiện đại với một cơ chế minh bạch,
Đề án môn học GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
SV: Trần Thị Hà May 20 Lớp: Kinh tế quốc tế 51E
khẩn trương, năng lực hiệu quả, hệ thống cảng dịch vụ thuận tiện gồm 400 tuyến
đường biển nối trực tiếp tới hơn 700 cảng biển trên thế giới.
Hải quan là một trong những ngành chủ chốt thúc đẩy nền kinh tế, tạo điều kiện
thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, giảm thời gian lưu hàng tại cảng, giảm
thời gian lưu kho, lưu bãi, giảm thời gian làm thủ tục giấy tờ. Kết quả là giảm chi
làm lạnh, kho giữ ấm,… và hàng loạt các dịch vụ bảo quản thực phẩm, thuốc men
và các sản phẩm nhạy cảm khác.
+Về cơ sở hạ tầng giao thông vận tải: bằng cách hoàn thiện hệ thống đường sá,
nâng cấp hệ thống giao thông vận tải đường sông, biển, giảm tắc nghẽn giao thông
đường bộ thành phố và phát triển mạng lưới giao thông vận tải liên kết, Chính phủ
Nhật Bản ban hành hàng loạt chính sách khuyến khích thích hợp như giảm một số
sự điều chỉnh, thành lập những tổ chức liên kết và cung cấp trợ giúp chính thức.
*Tình hình phát triển Logistics của Nhật Bản
Số lượng các công ty 3PL ở Nhật Bản ngày càng tăng cao do hoạt động quản trị
chuỗi cung ứng toàn cầu GSCM ngày càng trở nên phức tạp và cần thiết cho tính
cạnh tranh quốc tế. Các ngành công nghiệp tăng trưởng nhanh đang cố gắng đáp
ứng những yêu cầu thuê ngoài bằng việc cung cấp các dịch vụ Logistics 3PL.
Chính phủ Nhật Bản đề xuất chính sách ủng hộ ngành công nghiệp Logistics thông
qua việc cung cấp các dịch vụ Logistics hiện đại và phù hợp nhằm đáp ứng được
xu hướng thuê ngoài – cuộc cách mạng trong kinh doanh hiện nay. Công nghiệp
Logistics Nhật Bản hiện đang phải đối diện với xu hướng cạnh tranh gay gắt của
các đối thủ nước ngoài và sẽ gây cản trở tốc độ tăng trưởng 3PL của Nhật Bản.
Tuy nhiên, thị trường Logistics trong nước của Nhật Bản đã hoàn toàn được cách
ly khỏi cuộc cạnh tranh bên ngoài. Xu hướng phát triển mới đang trỗi dậy trong
ngành Logistics Nhật Bản.
Nhật Bản là một trong những quốc gia đầu tiên đề xuất và phát triển khái niệm
dịch vụ Logistics và cũng là một trong những quốc gia có lĩnh vực Logistics phát
Đề án môn học GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
SV: Trần Thị Hà May 22 Lớp: Kinh tế quốc tế 51E
triển nhanh nhất thế giới. Thị trường Logistics 3PL đã thực sự thu hút được sự chú
ý của các doanh nhân Nhật Bản. Tăng trưởng thị trường 3PL của Nhật Bản rất
nhanh và đóng góp tới 40% giá trị thị trường châu Á – Thái Bình Dương năm
2006. Theo đánh giá của Viện nghiên cứu Yano Nhật Bản, thị trường 3PL của
Nhật Bản tăng rất nhanh, từ mức 1 nghìn tỷ Yên năm 2003 dự đoán lên mức 1,8
tải biển có quy mô nhỏ.
+Khối lượng vận chuyển bằng đường không tăng nhanh gấp 4-5 lần trong giai
đoạn 1998-2008. Giá trị vận chuyển đường hàng không tính bằng đồng Yên chiếm
tới 28% tổng giá trị hàng hóa, trong khi khối lượng vận chuyển chỉ chiếm 0,3%.
1.3.2.Bài học đối với Việt Nam
Sự phát triển Logistics của Trung Quốc, Singapore và Nhật Bản có thể cung cấp
cho Việt Nam các bài học kinh nghiệm tham khảo có giá trị, đặc biệt là với trường
hợp của Trung Quốc khi có nhiều điểm tương đồng giữa hai quốc gia cả về văn
hóa xã hội, đặc điểm địa lý … lẫn quá trình phát triển kinh tế quốc dân.
Ta có thể rút ra một số bài học cho sự phát triển của hoạt động Logistics tại
Việt Nam như sau:
*Một là, bài học về chính sách và tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước.
Trong tương lai khi mà chính sách quản lý hoạt động Logistics của Việt Nam
ngày càng được nới lỏng, đồng thời ngày càng xuất hiện nhiều công ty cung cấp
dịch vụ Logistics trong nước và quốc tế thì càng đòi hỏi phải tăng cường vai trò
của Nhà nước và các công cụ pháp lý trong quản lý các hoạt động Logistics. Việt
Nam cần phải tăng cường vai trò quản lý của nhà nước từ ban hành các văn bản
pháp luật, xây dựng các quy hoạch, chiến lược phát triển đến kiểm tra, kiểm soát
các hoạt động Logistics ở nước ta.
Nhằm đảm bảo cho sự phát triển bền vững ngành Logistics, Việt Nam cần phải
xem xét, đánh giá và hoàn thiện hệ thống các chính sách phát triển Logistics, cụ
Đề án môn học GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng
SV: Trần Thị Hà May 24 Lớp: Kinh tế quốc tế 51E
thể như quy định về cạnh tranh, về sản phẩm và dịch vụ Logistics, về pháp nhân
hoạt động Logistics…
Ngoài ra, Chính phủ cần có sự điều chỉnh và quy hoạch hợp lý các khu kinh tế,
các khu tự do thương mại và các trung tâm Logistics nhằm tạo sự kết nối tốt hơn,
hiệu quả hơn với hệ thống cảng biển, đường sắt và sân bay trên toàn quốc.
*Hai là, bài học về phát triển cơ sở hạ tầng Logistics.
*Năm là, bài học về phát triển các doanh nghiệp Logistics
Cần tăng độ bao phủ trên phạm vi toàn cầu: độ bao phủ của các doanh nghiệp
Logistics Việt Nam chỉ trong phạm vi nội địa hoặc một vài nước trong khu vực. So
với các công ty Logistics lớn trên thế giới, độ bao phủ của các công ty 3PL nước ta
không đủ để thỏa mãn yêu cầu của các công ty quốc tế do sự trải rộng của những
nguồn cung cấp của các doanh nghiệp này. Xu hướng thế giới yêu cầu các 3PL
phải có độ bảo phủ rộng khắp toàn cầu và duy trì mối liên hệ chặt chẽ giữa các bộ
phận của chuỗi cung ứng toàn cầu. Chính vì vậy, chúng ta cần phải tích cực mở
rộng phạm vi hoạt động và độ bao phủ của các doanh nghiệp Logistics Việt Nam.
Cần đa dạng hóa các dịch vụ Logistics, đặc biệt là các dịch vụ có giá trị gia tăng
cao: phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam chỉ tập trung vào khai thác những mảng
nhỏ và thị trường ngách trong dịch vụ Logistics, phổ biến là hình thức giap nhận
vận tải. Đây là hình thức khá đơn giản và chỉ mới chiếm một phần nhỏ trong toàn
bộ chuỗi giá trị gia tăng Logistics. Do vậy, trong thời gian tới các doanh nghiệp
nước ta phải tập trung phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ, đặc biệt là các dịch
vụ có giá trị gia tăng cao (thiết kế…)
Cần nâng cao năng lực cạnh tranh để có thể tham gia vào các hợp đồng xuất
khẩu, đặc biệt là các hợp đồng mà trong đó Việt Nam là đối tác gia công hoặc sản
xuất nhằm nâng tầm ảnh hưởng quốc gia và gia tăng giá trị xuất khẩu.