MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC VIẾT TẮT iv
DANH MỤC SƠ ĐỒ HÌNH VẼ v
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết, ý nghĩa của đề tài
Trong kế toán hiện đại có rất nhiều bộ phận kế toán: Kế toán tiền mặt,
kế toán tài sản cố định, kế toán vật tư, kế toán công nợ…và trong số đó không
thể không nhắc tới kế toán các khoản thanh toán với người lao động. Đây có
thể coi là một trong những bộ phận kế toán quan trọng đối với bất kỳ doanh
nghiệp và tổ chức nào. Bởi lẽ nó gắn bó mật thiết với người lao động, lực
lượng lao động của doanh nghiệp nói riêng và của toàn xã hội nói chung.
Công tác kế toán với người lao động nếu được thực hiện khoa học sẽ
đảm bảo kết hợp một cách hài hòa giữa lợi ích của tổ chức và lợi ích của
người lao động. Mọi doanh nghiệp đều mong muốn giảm tối đa chi phí trong
đó có chi phí tiền lương, chi phí lao động…Trong khi đó người lao động luôn
mong muốn có thu nhập cao để bù đắp sức lao động và đảm bảo cuộc sống
của bản thân cũng như gia đình họ. Và nhiệm vụ của kế toán các khoản thanh
toán với người lao động là giải quyết vấn đề này đảm bảo cho người lao động
và tổ chức đều có được lợi ích.
Bên cạnh đó Nhà nước luôn có chính sách đổi mới chế độ thanh toán
với người lao động cũng như chế độ tiền lương cho phù hợp với thực tế, giúp
các doanh nghiệp ngày càng hoàn thiện hơn hệ thống trả lương cho người lao
động một cách có khoa học. Chế độ kế toán mà Nhà nước ban hành là chung
cho tất cả các doanh nghiệp, nhưng mỗi doanh nghiệp phải lựa chọn, áp dụng
một hình thức kế toán phù hợp.
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh Công ty Xây dựng
tình hình chi trả lương của doanh nghiệp, thu nhập của người lao động, từ đó
chia ra các chính sách phù hợp.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu: Kế toán các khoản thanh toán với người lao
động tại Công ty Xây dựng thương mại du lịch Nam Nghệ
Không gian nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu giới hạn tại Công ty Xây
dựng thương mại du lịch Nam Nghệ
Thời gian nghiên cứu: số liệu được sử dụng chủ yếu là tháng 3 năm 2014
4. Phương pháp (cách thức) thực hiện đề tài
a. Phương pháp thu thập và tổng hợp dữ liệu
Phương pháp điều tra:
3
Để thực hiện phương pháp điều tra ta sử dụng các phiếu điều tra. Nội
dung cơ bản của phiếu điều tra đi sâu tìm hiểu về cơ tổ chức công tác kế toán
tại Công ty và công tác kế toán các khoản thanh toán với người lao động tại
Công ty. Các tiêu thức đưa ra trong phiếu điều tra chủ yếu dưới dạng câu hỏi
trắc nghiệm một cách cụ thể, dễ hiểu và ngắn gọn.
Các phiếu điều tra gửi tới các nhân viên phòng kế toán. Sau đó căn cứ
vào các phiếu điều tra đã phát ra trong đợt thực tập tại Công ty, tổng hợp lại
kết quả các phiếu điều tra, để có những nhận định chính xác về tình hình kế
toán các khoản thanh toán với người lao động tại Công ty hiện nay.
Phương pháp phỏng vấn:
Phỏng vấn là một loạt các câu hỏi mà người nghiên cứu đưa ra để hỏi
người trả lời, được áp dụng theo hình thức phòng vấn trực tiếp các cô chú
trong ban lãnh đạo Công ty và phòng kế toán tài chính về tình hình kế toán
các khoản thanh toán với người lao động tại Công ty, phỏng vấn người lao
động về vấn đề tính lương và thanh toán lương của Công ty.
Bảng câu hỏi được xây dựng xoay quanh vấn đề nghiên cứu. Trong hệ
thống câu hỏi có cả câu hỏi đóng và câu hỏi mở nhằm thu thập thông tin một
cách hiệu quả phục vụ cho quá trình viết khóa luận.
với người lao động tại công ty Xây dựng thương mại du lịch Nam Nghệ
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CÁC KHOẢN
THANH TOÁN VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG
1.1. Một số khái niệm và lý thuyết về kế toán các khoản thanh toán với
người lao động
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
*Khái niệm về tiền lương
Tại điều 55, chương IV “Tiền lương” của Bộ luật lao động ban hành
năm 1994 có ghi “Tiền lương của người lao động do hai bên thỏa thuận trong
hợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu
quả công việc”.
Theo giáo trình kế toán tài chính 2 – Đại học Thương Mại “ Tiền lương
hay tiền công là phần thù lao lao động để tái sản xuất sức lao động, bù đắp
hao phí lao động của công nhân viên đã bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh
doanh. Tiền lương (tiền công) gắn liền với thời gian và kết quả lao động mà
công nhân đã tham gia, thực hiện trong quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp”.
5
Trong doanh nghiệp sản xuất tiền lương một mặt là một khoản chi phí
sản xuất hình thành nên giá trị sản phẩm, một mặt nhằm bù đắp lại hao phí
sức lao động của người lao động để tái tạo ra sức lao động mới nhằm tiếp tục
quá trình sản xuất.
Nói tóm lại. tiền lương (hay tiền công) là số tiền thù lao mà người sử
dụng lao động phải trả cho người lao động theo số lượng và chất lượng lao
động mà họ đóng góp để tái sản xuất sức lao động, bù đắp hao phí lao động
của họ trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Chúng ta cần phân biệt giữa hai khái niệm của tiền lương:
Tiền lương danh nghĩa: Là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho
người lao động. Số tiền này nhiều hay ít phụ thuộc trực tiếp vào năng suất lao
động, phụ thuộc vào trình độ, kinh nghiệm làm việc…ngay trong quá trình lao
Thuế TNCN là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của mỗi cá nhân
trong xã hội, trong khoảng thời gian nhất định (thường là một năm). Thuế
TNCN là một sắc thuế có tầm quan trọng lớn trong việc huy động nguồn thu
cho ngân sách và thực hiện công bằng xã hội. Thuế TNCN đánh vào cả cá
nhân kinh doanh và cá nhân không kinh doanh. Thuế này thường được coi là
loại thuế đặc biệt vì có lưu ý đến hoàn cảnh của các cá nhân có thu nhập phải
nộp thuế thông qua việc xác định miễn, giảm thuế hoặc khoản miễn trừ đặc
biệt.
b. Quỹ tiền thưởng:
Khái niệm: Là tổng số tiền doanh nghiệp trả cho người lao động nhằm
nâng cao năng suất lao động, rút ngắn thời gian làm việc. Tiền thưởng thực
chất là khoản tiền bổ sung cho tiền lương nhằm quán triệt hơn nguyên tắc
phân phối lao động và nâng cao hiệu quả trong sản xuất kinh doanh và năng
suất lao động của các doanh nghiệp.
- Đối tượng xét thưởng:
+ Lao động có thời gian làm việc tại doanh nghiệp từ một năm trở lên.
+ Có đóng góp vào kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty.
- Mức thưởng: Mức thưởng một năm không thấp hơn một tháng theo
nguyên tắc sau:
+ Căn cứ vào kết quả đóng góp của người lao động đối với doanh
nghiệp thể hiện qua năng suất lao động, chất lượng công việc.
+ Căn cứ vào thời gian làm việc tại doanh nghiệp.
- Các loại tiền thưởng: Tiền thưởng bao gồm tiền thưởng thi đua (lấy
từ quỹ khen thưởng) và tiền thưởng trong sản xuất kinh doanh (thưởng nâng
7
cao chất lượng sản phẩm, thưởng tiết kiệm vật tư, thưởng phát minh sáng
kiến…).
+ Tiền thưởng trong sản xuất kinh doanh (thường xuyên): Hình thức
này có tính chất lương, đây thực chất là một phần của quỹ lương được tách ra
để trả cho người lao động dưới hình thức tiền thưởng cho một tiêu chí nhất
công việc, mà chưa sử dụng hết hoặc tạm ứng tiền lương tháng sẽ được khấu
trừ trực tiếp vào tiền lương. Ngoài ra, còn các khoản như: Tiền điện, nước,
thuê nhà do Công ty trả thay người lao động
1.1.2. Một số vấn đề lý thuyết về các khoản thanh toán với người lao động
*Quỹ tiền lương
Quỹ tiền lương của DN là toàn bộ tiền lương của DN dùng để trả cho
tất cả các loại lao động do DN quản lý và sử dụng. Thành phần quỹ tiền lương
của DN bao gồm các khoản:
Tiền lương trả cho người lao động theo thời gian làm việc.
Tiền lương trả cho người lao động theo số lượng sản phẩm hay công
việc hoàn thành.
Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian ngừng việc vì mưa,
bão, lũ lụt, thiếu nguyên vật liệu…hoặc nghỉ phép theo quy định hay đi học.
Các khoản phụ cấp (thường xuyên) được tính vào tiền lương như: Phụ
cấp thâm niên, làm đêm, thêm giờ… quỹ tiền lương thường được chia thành
hai loại theo mối quan hệ với quá trình sản xuất kinh doanh.
+ Tiền lương chính: Là tiền lương trả cho người lao động theo lương
làm việc thực tế trên cơ sở nhiệm vụ được giao như: Tiền lương theo thời
gian, lương sản phẩm và các khoản phụ cấp được tính vào lương.
+ Tiền lương phụ: Là tiền lương trả cho người lao động trong thời gian
nghỉ việc theo quy đinh của Nhà nước như nghỉ lễ, nghỉ phép…hoặc nghỉ vì
những lý do bất thường khác không phải do công nhân viên gây ra như thiếu
nguyên vật liệu, máy hỏng.
Xác định quỹ lương kế hoạch:
V
kh
= T
min
x (Hs
cbcvbq
nghiệp người ta trả lương theo hai chế độ:
Chế độ trả lương theo thời gian giản đơn:
Theo chế độ này tiền lương nhận được của mỗi người lao động là do
bậc lương cao hay thấp, thời gian làm việc thực tế nhiều hay ít quyết định.
Có 3 hình thức trả lương theo thời gian giản đơn:
+ Lương tháng: Tính theo số lương cấp bậc tháng.
Mức lương tháng
=
Lương cơ bản x Hệ số lương + Phụ
cấp
+ Lương ngày: áp dụng cho những công việc có thể chấm công theo
ngày.
Mức lương ngày
=
Mức lương tháng + Phụ cấp
Số ngày làm việc theo chế độ
+ Lương giờ: Căn cứ vào mức lương ngày, số giờ làm việc trong ngày.
Lương giờ dùng tính lương trả thuê cho người lao động do làm thêm ca thêm
giờ.
Ưu điểm: Dễ
tính, dễ
trả lương cho người lao động.
Mức lương giờ
=
Mức lương ngày
Số ngày làm việc theo chế độ
10
Nhược điểm: Mang tính bình quân nên không khuyến khích được
người lao động tích cực trong công việc, sử dụng thời gian hợp lý, tiết kiệm
nguyên vật liệu…và không quán triệt theo nguyên tắc phân phối lao động.
thuật, nghiệp vụ để nâng cao trình độ lành nghề, ra sức phát huy sáng kiến,
cải tiến kỹ thuật cải tiến phương pháp lao động, sử dụng tốt máy móc thiết bị
để nâng cao năng suất lao động.
Tiền lương theo sản phẩm gồm:
11
Tiền lương sản phẩm trực tiếp: Áp dụng trả cho những công nhân
chính trực tiếp sản xuất. Lương trả cho người lao động được tính theo số
lượng sản phẩm hoàn thành. Sản pẩm này phải đúng quy cách, phẩm chất,
định mức kinh tế và đơn giá tiền lương sản phẩm đã quy định.
Tiền lương
sản phẩm
=
Khối lương
sản phẩm
x
Đơn giá tiền
lương sản phẩm
Hình thức trả lương theo sản phẩm gián tiếp: Được áp dụng đối với
các công nhân phục vụ cho công nhân chính như công nhân bảo dưỡng máy
móc thiết bị, vận chuyển nguyên vật liệu, thành phẩm…
Tiền lương
sản phẩm
gián tiếp
=
Đơn giá tiền
lương gián
tiếp
x
Số lượng sản phẩm hoàn thành
của công nhân sản xuất chính
động cũng là tiết kiệm về chi phí lao động, hạ giá thành tiết kiệm chi phí, tăng
lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Tiền lương không chỉ là vấn đề chi phí trong nội bộ doanh nghiệp mà
còn là vấn đề kinh tế - chính trị - xã hội mà chính phủ mỗi quốc gia quan tâm.
Ý nghĩa của tiền lương:
Tiền tệ, giá cả, tiền lương và những chính sách quan trọng của một
quốc gia không chỉ là đòn bẩy kinh tế mà còn là yếu tố nhạy cảm tác động đến
tình hình kinh tế. Do đó tiền lương có ý nghĩa hết sức quan trọng:
+ Tiền lương là thước đo giá trị sức lao động.
+ Tiền lương đảm bảo tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng.
Không ngừng nâng cao đời sống vật chất tinh thần.
+ Tiền lương là cơ sở để kích thích sản xuất.
+ Tiền lương đảm bảo việc tích lũy để dành.
*Nhiệm vụ của kế toán các khoản thanh toán với người lao động
Các khoản thanh toán với người lao động có ý nghĩa rất quan trọng
không chỉ đối với người lao động, mà còn rất quan trọng đối với nhà nước,
đối với sự sống còn của nền kinh tế. Vì vậy việc tổ chức công tác kế toán hết
13
sức quan trọng và để thực hiện tốt điều đó kế toán cần thực hiện tốt các nhiệm
vụ sau:
Kiểm tra tình hình huy động và sử dụng lao động, việc chấp hành chính
sách, chế độ tiền lương, chế độ lao động, trợ cấp bảo hiểm xã hội và tình hình
sử dụng quỹ tiền lương, bảo hiểm xã hội.
Hướng dẫn và kiểm tra các bộ phận trong doanh nghiệp thực hiện đầy
đủ, đúng đắn các chế độ lao động về tiền lương và bảo hiểm xã hội đúng chế
độ, đúng phương pháp.
Tính toán và phân bổ chính xác đúng đối tượng các khoản chi phí, tiền
lương các khoản trích BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ vào chi phí sản xuất
kinh doanh của các đơn vị sử dụng lao động.
Ngăn chặn những hành vi vô trách nhiệm, vi phạm chính sách lao động
Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp
đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên;
Theo Điều 91 Luật BHXH: quy định mức đóng và phương thức đóng
của người lao động như sau:
Hàng tháng, người lao động sẽ đóng 5% mức tiền lương, tiền công vào
quỹ hưu trí và tử tuất. Và từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một lần đóng thêm
1% cho đến khi đạt mức đóng là 8%.
Vậy từ ngày 1/1/2012, mức trích lập BHXH là 24% trên quỹ tiền
lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội, trong đó người lao động đóng góp 7%
và người sử dụng lao động đóng góp 17%.
Với tổng mức đóng vào quỹ BHXH bắt buộc của cả người sử dụng lao
động và người lao động là 24% thì có 3% đóng góp vào quỹ ốm đau, thai sản;
1% vào quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và 20% vào quỹ hưu trí, tử
tuất.
Và tỷ lệ này cứ 2 năm sẽ tăng thêm 2% (trong đó người lao động đóng
thêm 1% và người sử dụng lao động đóng thêm 1%) cho đến khi đạt tỷ lệ
trích lập là 26%, trong đó người lao động đóng 8% và người sử dụng lao động
đóng 18%.
15
Bảo hiểm y tế
Theo Luật BHYT thì mức trích lập tối đa của quỹ BHYT là 6% tiền
lương tiền công hàng tháng của người lao động, trong đó người lao động chịu
1/3 (tối đa là 2%) và người sử dụng lao động chịu 2/3 (tối đa là 4%)
Theo nghị định số 62/2009/NĐ-CP ban hành ngày 27/7/2009 (có hiệu
lực thi hành từ ngày 1/10/2009) của Thủ tướng Chính phủ quy định mức trích
lập BHYT từ 1/1/2010 như sau:
Đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác
định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên; người lao
động là người quản lý doanh nghiệp hưởng tiền lương, tiền công; cán bộ,
công chức, viên chức thì mức trích lập BHYT bằng 4,5% mức tiền lương, tiền
+Bảng chấm công – Mẫu số 01 – LĐTL
+Bảng thanh toán tiền lương – Mẫu số 02 – LĐTL
+Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành - Mẫu số 06 –
LĐTL
+Bảng thanh toán tiền thưởng - Mẫu số 05 – LĐTL
+Bảng chia lương sản phẩm
+Bảng phân bổ tiền lương
+Phiếu báo làm thêm giờ - Mẫu số 07 – LĐTL
+Hợp đồng giao khoán - Mẫu số 08 – LĐTL
+Biên bản điều tra tai nạn lao động - Mẫu số 09 – LĐTL
+Định mức khoán sản phẩm, phiếu nghiệm thu, bản vẽ kỹ thuật, bình
xét của tổ, tổng hợp giờ công, phiếu chi, chứng từ về các khoản khấu trừ…
b. Tài khoản sử dụng:
Tài khoản 334: “phải trả người lao động”.
Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản phải trả và tình hình thanh
toán các khoản phải trả cho người lao động của doanh nghiệp về tiền lương,
phụ cấp, tiền công, tiền thưởng, BHXH và các khoản phải trả khác thuộc về
thu nhập của người lao động.
Kết cấu nội dung phản ánh của tài khoản 334 “Phải trả người lao
động”:
17
Bên nợ:
- Các khoản tiền lương, phụ cấp lao động, tiền công, tiền thưởng,
BHXH và các khoản khác đã ứng, đã trả cho công nhân.
- Các khoản khấu trừ vào tiền lương, tiền công của công nhân viên.
- Các khoản tiền công đã trả, đã ứng cho lao động thuê ngoài.
Bên có:
- Các khoản tiền lương, tiền công, BHXH và các khoản phụ cấp phải
trả cho người lao động.
- Các khoản tiền công phải trả cho lao động thuê ngoài.
toán ghi:
Nợ TK 338 – Phải trả, phải nộp khác
Có TK 334 – Phải trả người lao động
(4) Tính số tiền lương nghỉ phép thực tế phải trả cho CNV, kế toán ghi:
Nợ TK 623,627,641,642
Nợ TK 335 –Chi phí phải trả (DNtrích trước lương nghỉ
phép)
Có TK334 (3341) – Phải trả công nhân viên
(5) Các khoản khấu trừ vào lương và thu nhập của CNV của DN như
tiền tạm ứng, BHYT, BHXH, tiền thu bồi thường về tài sản thiếu… kế toán
ghi:
Nợ TK 334 (3341) – Phải trả công nhân viên
Có TK 141 – Tạm ứng
Có TK 338 – Phải trả phải nộp khác
Có TK 138 – Phải thu khác
(6) Tính tiền thuế thu nhập cá nhân của CNV của DN phải nộp nhà
nước, kế toán ghi:
Nợ TK 334 – Phải trả người lao động
Có TK 333 – Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước
(7) Khi ứng trước hoặc thực trả tiền lương, tiền công, tiền thưởng, tiền
phúc lợi và các khoản phải trả CNV
19
Nợ TK 334 (3341) – Phải trả công nhân viên
Có TK 111,112: tiền mặt, tiền gửi ngân hàng
(8) Xác định và thanh toán tiền ăn ca phải trả người lao động của
doanh nghiệp
Nợ TK 622,623,627,641,642
Có TK 334 – Phải trả người lao động
Khi chi tiền ăn ca:
Nợ TK 334 – Phải trả người lao động
Nợ TK 622 – Chi phí nhân công trược tiếp
Nợ TK 623 – Chi phí sử dụng máy thi công
Nợ TK 627 – Chi phí sản xuất chung
Có TK 335 – Chi phí phải trả
-Khi trả tiền lương nghỉ phép của CNSX, kế toán ghi:
Nợ TK 335 – Chi phí phải trả
Có TK 334 – Phải trả người lao động
1.2.2.2. Nội dung kế toán các khoản trích theo lương theo Quyết định số
15/2006/QĐ- BTC:
a. Chứng từ sử dụng:
+ Bảng thanh toán lương mẫu 02 LĐ-TL
+ Phiếu nghỉ hưởng BHXH mẫu 03 LĐ-TL
+ Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH
+ Phiếu thanh toán BHXH; quyết toán BHXH
+ Phiếu chi, giấy báo của ngân hàng
b. Tài khoản sử dụng:
Để theo dõi các khoản trích theo lương kế toán sử dụng TK 338 “Phải
trả phải nộp khác”.
Kết cấu nội dung phản ánh tài khoản 338 “Phải trả phải nộp khác”:
Bên nợ:
- Bảo hiểm xã hội phải trả cho công nhân viên
- Kinh phí công đoàn chi tại đơn vị.
- Số BHXH, BHYT và KPCĐ đã nộp cho cơ quan quản lý quyc
BHXH, BHYT và KPCĐ.
- Các khoản đã trả đã nộp khác.
Bên có:
- Trích BHXH, BHYT, KPCĐ tính vào chi phí sản xuất kinh doanh.
- BHXH, KPCĐ vượt chi được cấp bù.
- BHXH, BHYT trừ vào lương công nhân viên
- Các khoản phải trả phải nộp khác
Nợ TK 338 – Phải trả, phải nộp khác
Có TK 111,112 – Tiền mặt, tiền gửi ngân hàng
22
(5) Chi tiêu KPCĐ
Nợ TK 338 (3382) – Phải trả, phải nộp khác
Có TK 111,112
(6) BHXH, KPCĐ vượt chi được cấp bù
Nợ TK 111,112 – Phải trả, phải nộp
Có TK 338 (3382,3383) – Phải trả phải nộp khác
(7) Số BHXH chi trả cho công nhân viên khi được cơ quan BHXH
thanh toán:
Nợ TK 111, 112 – tiền mặt, tiền gửi ngân hàng.
Có TK 338 (3383): BHXH
1.2.2.3.Sổ kế toán
Tùy thuộc vào đặc điểm sản xuất và yêu cầu trình độ quản lý mà doanh
nghiệp có thể áp dụng các hình thức ghi sổ phù hợp với đặc thù kinh doanh
của doanh nghiệp mình.
Hình thức nhật ký chung: Là hình thức kế toán đơn giản số lượng sổ
sách gồm: Sổ kế toán tổng hợp là nhật ký chung, sổ cái TK 334, TK 338, sổ
nhật ký thu tiền, chi tiền. Ngoài ra cũng lập các sổ chi tiết TK 3341, TK 3348,
TK 3382, TK 3383, TK 3384, TK 3389, sau đó lấy số liệu trên các sổ nhật
ký để ghi vào Sổ cái theo từng nghiệp vụ kinh tế phát sinh. (Phụ lục 01: sơ đồ
1.1)
Hình thức nhật ký sổ cái: Là hình thức kế toán trực tiếp, đơn giản bởi
đặc trưng về số lượng sổ, loại sổ, kết cấu sổ, các loại sổ cũng như hình thức
Nhật ký chung. Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh được kết hợp ghi chép theo
trình tự thời gian và theo nội dung kinh tế trên cùng một quyển sổ kế toán
tổng hợp duy nhất là sổ Nhật ký – Sổ Cái. Căn cứ để ghi vào sổ Nhật ký – Sổ
cái là các chứng từ gốc hoặc bảng tổng hợp chứng từ gốc.(Phụ lục02: sơ đồ
1.2)
Mức BHXH cũng đã được thay đổi: từ 1/1/2012 tỷ lệ trích BHXH sẽ là 24%:
doanh nghiệp chịu 17 %, người lao động chịu 7%. Các văn bản luật và thông
tư hướng dẫn và hoạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương cũng
được quy định rõ ràng giúp cho công tác kế toán các khoản thanh toán với
người lao động có cơ sở thực hiện một cách chính xác và hiệu quả hơn.
24
Nhìn chung công tác kế toán các khoản thanh toán với người lao động
trong các doanh nghiệp được thực hiện một cách khoa học, đúng đắn, tuân thủ
theo đúng chế độ, chính sách hiện hành của Bộ tài chính, trình tự hạch toán,
chứng từ sổ sách phù hợp với điều kiện cụ thể của từng Công ty.
Tuy nhiên công tác kế toán các khoản thanh toán với người lao động
trong các doanh nghiệp vẫn còn những hạn chế, tồn tại. Đối với một số doanh
nghiệp việc trả lương vẫn chưa thực sự khoa học, hợp lệ, chưa thực hiện đúng
chính sách của Nhà nước.
Qua thời gian nghiên cứu, tìm hiểu em thấy có nhiều công trình nghiên
cứu về vấn đề kế toán các khoản thanh toán với người lao động ở các doanh
nghiệp của sinh viên trường Đại học Thương Mại.
Tác giả sinh viên Đinh Thị Thu Hòa (K36D7) với đề tài: “Hoàn thiện
kế toán tiền lương và các khoản thanh toán với cán bộ công nhân viên tại
công ty tư vấn đầu tư mỏ và công nghiệp”. Luận văn đã nghiên cứu và nêu lên
lý luận chung về kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong các
doanh nghiệp. Luận văn đã đánh giá tổng quan, thực trạng kế toán tiền lương
và các khoản trích theo lương tại công ty tư vấn đầu tư mỏ và công nghiệp.
Thành công của Công ty là đã xây dựng được hình thức trả lương hợp lý với
đặc thù tại Công ty, các chính sách lương, thưởng đã khuyến khích CBCNV
hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Bên cạch đó vẫn còn những tồn tại mà
Công ty chưa xây dựng được: chưa trích trước tiền lương nghỉ phép cho công
nhân trực tiếp sản xuất. Luận văn cũng đã trình bày cụ thể giải pháp trích
trước tiền lương cho công nhân trực tiếp sản xuất. Đó là giải pháp hoàn toàn
hợp lý.