BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
o0o
TIỂU LUẬN
KINH TẾ PHÁT TRIỂN
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
THU HÚT NGUỒN VỐN ODA Ở VIỆT NAM
NHÓM THỰC HIỆN : NHÓM 6
GVHD : PGS. TS QUYỀN ĐÌNH HÀ
LỚP : CH23 - QLKTD
HÀ NỘI - 2014
NHÓM 6 - LỚP CH23QLKTD - KHOA QLKT- HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VN
Nhóm của gồm 5 học viên:
HỌ VÀ TÊN MÃ SINH VIÊN
1. Lý Thu Doan
23160 283
2. Hoàng Minh Giang
23160 294
3. Nguyễn Hoàng Giáp
23160 295
4. Trịnh Văn Thảo
23160 335
5. Phùng Thị Yến
23160 401
6.
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Vốn luôn được coi là một trong những nhân tố quyết định cho quá trình sản xuất
kinh doanh và tăng trưởng kinh tế của các quốc gia. Đặc biệt là để đạt tăng trưởng
kinh tế cao, vấn đề tạo nguồn vốn và sử dụng nó một cách có hiệu quả càng trở nên
cần thiết đối với tất cả các quốc gia muốn công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước
khoản tín dụng ưu đãi (cho vay dài hạn và lãi suất thấp của các Chính phủ, các tổ chức
thuộc hệ thống Liệp hợp quốc, các tổ chức phi Chính phủ (NGO), các tổ chức tài chính
quốc tế (IMF, ADB, WB ) giành cho các nước nhận viện trợ. ODA được thực hiện
bằng việc cung cấp từ phía các nhà tài trợ các khoản viện trợ không hoàn lại, vay ưu
đãi về lãi suất và thời hạn thanh toán (theo định nghĩa của OECD, nếu ODA là khoản
vay ưu đãi thì yếu tố cho không phải đạt 25% trở lên).
Về thực chất, ODA là sự chuyển giao một
phần GNP từ bên ngoài vào một quốc gia, do vậy ODA được coi là một nguồn lực từ
bên ngoài.
1.1.2. Phân loại ODA
Tuỳ theo phương thức phân loại mà ODA được xem có mấy loại:
a. Phân theo phương thức hoàn trả: ODA có 3 loại:
− Viện trợ không hoàn lại: bên nước ngoài cung cấp viện trợ (mà bên nhận
không phải hoàn lại) để bên nhận thực hiện các chương trình, dự án theo sự
thỏa thuận giữa các bên. Viện trợ không hoàn lại thường được
thực hiện dưới các dạng:
+ Hỗ trợ kỹ thuật
+ Viện trợ nhân đạo bằng hiện vật
− Viện trợ có hoàn lại: nhà tài trợ cho nước cần vốn vay một khoản tiền (tùy
theo quy mô và mục đích đầu tư) với mức lãi suất ưu đãi và thời gian trả nợ
thích hợp. Những điều kiện ưu đãi thường là:
+ Lãi suất thấp (tuỳ thuộc vào mục tiêu vay và nước vay)
+ Thời hạn vay nợ dài (từ 20 - 30 năm)
+ Có thời gian ân hạn (từ 10 - 12 năm)
− ODA cho vay hỗn hợp: là các khoản ODA kết hợp một phần ODA không
hoàn lại và một phần tín dụng thương mại theo các điều kiện của tổ chức
Hợp tác kinh tế và phát triển.
b. Nếu phân loại theo nguồn cung cấp, ODA có hai loại:
5
− ODA song phương: Là các khoản viện trợ trực tiếp từ nước này đến nước kia
là đào tạo về kỹ thuật, phân tích kinh tế, quản lý, thống kê, thương mại, hành
chính nhà nước, các vấn đề xã hội.
6
1.1.3. Các nguồn cung cấp ODA
* Trong thời kỳ chiến tranh lạnh và đối đầu Đông Tây: Trên thế giới tồn tại 3
nguồn ODA chủ yếu:
− Liên xô cũ, Đông Âu.
− Các nước thuộc tổ chức OECD.
− Các tổ chức quốc tế và phi Chính phủ.
* Hiện nay, trên thế giới có hai nguồn ODA chủ yếu: các nhà tài trợ đa phương,
và các tổ chức viện trợ song phương.
− Các tổ chức thuộc hệ thống Liên Hiệp Quốc bao gồm:
+ Chương trình phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP)
+ Quĩ nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF)
+ Tổ chức Nông nghiệp và lương thực (FAO)
+ Chương trình lương thực thế giới (WFP)
+ Quĩ dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA)
+ Tổ chức y tế thế giới (WHO)
+ Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hiệp Quốc (UNIDO)
+ Quĩ phát triển nông nghiệp quốc tế (IFDA).
− Các tổ chức tài chính quốc tế:
+ Quĩ tiền tệ quốc tế (IMF)
+ Ngân hàng thế giới (WB)
+ Ngân hàng phát triển Châu á (ADB)
− Liên minh Châu Âu (EU).
− Các tổ chức phi Chính phủ (NGO)
− Tổ chức xuất khẩu dầu mỏ (OPEC)
− Quĩ Cô - Oét.
* Các nước viện trợ song phương:
− Các nước thành viên Uỷ ban Hỗ trợ phát triển (DAC) của tổ chức Hợp tác và
như: Nhãn quan chính trị, quan điểm cộng đồng rộng rãi, dựa trên sự quan tâm
nhân đạo và hiểu biết về sự cần thiết đóng góp vào ổn định kinh tế - xã hội
quốc tế. Cùng mối quan hệ truyền thống với các nước thế giới thứ ba của các
nước phát triển, hay tầm quan trọng của các nước đang phát triển với tư cách
là bạn hàng
thị trường, nơi cung cấp nguyên liệu, lao động). Mặt khác, chính sách đối
ngoại, an ninh và lợi ích chiến lược, trách nhiệm toàn cầu hay cá biệt… cũng
là nhân tố tạo nên xu hướng phân bổ ODA trên thế giới theo vùng. Ngoài
gia còn có thêm lý do
đó là sự chuẩn bị đáp ứng nhu cầu riêng biệt về thủ tục, quy chế, chiến lược,
8
viện trợ khác nhau của các nhà tài trợ trên thế giới cũng tạo nên sự chênh
lệch trong quá trình thu hút và sử dụng ODA giữa các quốc gia hấp thụ nguồn
vốn này.
Chính sự cạnh tranh gay gắt đã tạo nên sự tăng giảm trong tiếp nhận viện trợ
của các nước đang phát triển. Kể từ năm 1970, ODA chủ yếu hướng vào Tiểu
vùng Sahara
và Trung Đông kể cả Ai Cập. Bên cạnh đó, Trung Mỹ là vùng nhận được tỷ
trọng viện trợ tăng lên chút ít, tỷ trọng này đã thực sự bị cắt giảm mạnh đối
với các vùng Nam Á (đặc biệt là Ấn Độ) và Địa Trung Hải trong vòng 10 năm,
từ tài khóa
1983/1984 đến 1993/1994, tỷ trọng thu hút ODA thế giới của tiểu vùng
Sahara đã tăng từ 29,6% lên 36,7%, của Nam và Trung á khác và Châu Đại
Dương từ
20,3% lên 22,9%; Châu Mỹ La Tinh và vùng Caribê từ 12% lên 14%.
− Thứ ba, sự phân phối ODA theo khu vực nghèo của thế giới không đồng đều.
Nguyên nhân tạo nên sự khác biệt như vậy có thể có rất nhiều lý giải khác
nhau, có thể
là do những mong muốn của các quốc gia đi viện trợ như mở rộng quan hệ
hợp tác về chính trị hay kinh tế, mục đích xã hội, điều đó phụ thuộc rất nhiều
lâu, qua các giai đoạn nhất định, có những xu thế vận động riêng, nhìn chung lại,
xu hướng vận động hiện nay hàm chứa cả các yếu tố thuận lợi lẫn khó khăn cho
một số nước đang phát triển như nước ta đang tìm kiếm nguồn hỗ trợ phát triển chính
thức, tuy nhiên các yếu tố thuận lợi là cơ bản. Xét trên phạm vi quốc tế, ODA có thể
huy động được lại tuỳ thuộc vào chính sách đối ngoại khôn khéo và khả năng
hấp thụ vốn nước ngoài của chính nền kinh tế nước đó. Qua đó ta có thể thấy rõ được
những đặc điểm riêng biệt của ODA so với các nguồn vốn khác.
1.2.2. Vai trò của ODA
ODA thể hiện mối quan hệ đối ngoại giữa hai bên cung cấp và bên tiếp nhận, tuy
vậy đối với mỗi bên nó sẽ mang một ý nghĩa khác nhau.
a. Đối với nước xuất khẩu vốn
Viện trợ song phương tạo điều kiện cho các công ty của bên cung cấp hoạt động
thuận lợi hơn tại các nước nhận viện trợ một cách gián tiếp. Cùng với sự gia tăng của
vốn ODA, các dự án đầu tư của những nước viện trợ cũng tăng theo với những điều
kiện thuận lợi, đồng thời kéo theo sù gia tăng về buôn bán giữa hai quốc gia. Ngoài ra,
nước viện trợ còn đạt được những mục đích về chính trị, ảnh hưởng của họ về mặt
kinh tế - văn hóa đối với nước nhận cũng sẽ tăng lên.
Nguồn ODA đa phương mặc dù cũng có ưu điểm giúp các nước tiếp nhận khôi
phục và phát triển kinh tế, nhưng nó cũng có mặt tiêu cực ở chỗ dễ tạo ra nạn tham
nhũng trong các quan chức Chính phủ hoặc phân phối giàu nghèo trong các tầng lớp
dân chúng nếu không có những chính sách kiểm soát và quản lý chặt chẽ việc sử dụng
nguồn vốn này trong nước.
Điều nguy hiểm nhất có thể xảy ra của viện trợ ODA là các nước cung cấp không
nhằm cải tạo nền kinh tế - xã hội của nước đang phát triển mà nhằm vào các mục đích
quân sự.
10
d. Đối với các nước tiếp nhận
Tầm quan trọng của ODA đối với các nước đang và kém phát triển là điều không
thể phủ nhận. Điều này được thể hiện rõ qua những thành công mà các nước tiếp nhận
ODA đã đạt được.
11
nguồn vốn này phải đáp ứng các yêu cầu của bên cấp viện trợ. Mức độ đáp ứng càng
cao thì viện trợ tăng lên càng nhiều.
Ngay ở trong một nước, tình trạng tập trung ODA vào các thành phố trọng điểm
cũng tạo nên sự mất cân đối trong cơ cấu kinh tế - xã hội của quốc gia đó, làm cho hố
ngăn cách giàu nghèo thành thị và nông thôn càng trở nên cách biệt.
Cho đến nay, mặc dù bối cảnh quốc tế đã có nhiều biến đổi, song mục tiêu và lợi
ích của các nước cấp vốn theo đuổi hầu như không thay đổi so với trước đây: tập trung
cho an ninh của hệ thống TBCN, tuyên truyền dân chủ kiểu phương tây, trói buộc sự
phát triển kinh tế của các quốc gia phụ thuộc thế giới thứ ba vào trong một trật tự tự do
mà các trung tâm tự bản đã sắp đặt khuyến khích tự do hoá kinh tế để mở đường cho
tư bản nước ngoài tràn vào …
1.3. Tình hình cung cấp và tiếp nhận ODA trên thế giới
1.3.1. Tình hình chung
Nguồn ODA song phương được phân bố rộng khắp trên thế giới do các nhà tài
trợ một mặt phải thực hiện nghĩa vụ quốc tế như qui định bắt buộc của
Liên Hiệp Quốc, mặt khác bản thân các nhà tài trợ cũng muốn nâng cao vị thế của
mình, vươn rộng tầm ảnh hưởng
ra các khu vực khác. Hơn nữa, trật tự an ninh mà các nhà tài trợ chủ trương thiết lập
tại nước nhận viện trợ dựa trên mong muốn một nền kinh tế phụ thuộc vào nền kinh tế
của họ.
Ở Châu Á: Nhật là nước đầu tư lớn nhất. Trung Quốc và Đông Nam á là khu vực
thu hút nhiều ODA nhất.
Châu Phi: Là khu vực tập trung hầu hết các nước nghèo, kém phát triển nên
nguồn viện trợ chủ yếu là viện trợ không hoàn lại và thường chiếm tỉ lệ cao.
1.3.2. Nhà tài trợ
a. ODA song phương
Mục đích của các nước cung cấp viện trợ đều là xác lập vị trí toàn diện và áp đặt
vai trò của mình ở khu vực muốn thôn tính. Do đó việc phân bổ ODA diễn ra khác
nhau giữa các khu vực.
Trước đây, khi Liên xô và Đông âu chưa tan rã, viện trợ phát triển chính thức
ODA được phân bố theo chế độ chính trị của từng nước. Thế giới lúc bấy giờ chia làm
hai cực do Liên xô và Mỹ đứng đầu luôn có sự cạnh tranh và thù địch. Khối SEV (hội
đồng tương trợ kinh tế), đứng đầu là Liên xô, tập trung viện trợ giúp đỡ các nước trong
hệ thống xã hội chủ nghĩa còn khối tư bản chủ nghĩa do Mỹ đứng đầu cũng ra sức
dùng các khoản viện trợ để mua chuộc sự trung thành của các nước thuộc thế giới thứ
3 theo những quan điểm của Mỹ.
Từ đầu thập niên 90 với sự kết thúc chiến tranh lạnh, nguồn vốn ODA được mở
rộng ra khắp các nước trên thế giới không kể thuộc hệ thống chính nào. Các nước nhận
được nguồn hỗ trợ nhiều hay ít còn tuỳ thuộc vào vị thế kinh tế của từng khu vực, từng
nước. Những năm gần đây, vốn ODA trên thế giới có chiều hướng tập trung vào khu
vực Châu á, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á, Trung quốc là nước thu hút nhiều ODA
nhất trong khu vực này.
14
PHẦN 2. THỰC TRẠNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN ODA TẠI
VIỆT NAM
2.1. Tình hình thu hút ODA của Việt Nam thời gian qua
Trong thời kỳ đầu của sự nghiệp Đổi mới và phát triển đất nước, nguồn vốn viện
trợ phát triển chính thức (ODA) như những “viên gạch” đầu tiên giúp Việt Nam xây
dựng nền tảng để thu hút các nguồn lực khác. Trong 20 năm qua, các nhà tài trợ đã
cung cấp cho Việt Nam một nguồn tài chính đáng kể, góp phần thực hiện cải cách kinh
tế và hội nhập quốc tế.
Hội nghị bàn tròn về viện trợ dành cho Việt Nam diễn ra tại Paris (Pháp) từ ngày
9-10/11/1993 đã đặt nền tảng cho quan hệ hợp tác phát triển giữa Việt Nam và cộng
đồng tài trợ quốc tế dựa trên sự hiểu biết lẫn nhau, tin cậy và xây dựng. Kể từ đó, một
diễn đàn đối thoại thường niên về chính sách phát triển và viện trợ giữa Chính phủ
Việt Nam và các nhà tài trợ được thiết lập với tên gọi là Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà
tài trợ dành cho Việt Nam (gọi tắt là Hội nghị CG).
Đến nay, ở Việt Nam đã có 51 nhà tài trợ, gồm 28 song phương và 23 đa phương
có các chương trình ODA thường xuyên. Tính đến tháng 12/2012, đã có 20 Hội nghị
nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA). Trong bối cảnh có sự thay đổi nói trên
thì năm 2013, Việt Nam vẫn nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ từ phía các nhà tài trợ, tổng
mức ODA cam kết khoảng 7 tỷ USD, tăng 18,5% so với năm trước. Đây là mức tài trợ
cao nhất từ trước đến nay, đồng thời kết quả giải ngân đạt 4,5 tỷ USD, là mức khả
quan so với nhiều năm trước. Thực tế này cho thấy, Việt Nam đang làm tốt việc sử
dụng vốn đúng mục tiêu, đạt hiệu quả như thỏa thuận với nhà tài trợ.
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Việt Nam đã trở thành quốc gia có mức thu nhập
trung bình, quan hệ giữa Việt Nam với các bên cung cấp ODA sẽ được áp dụng theo
thông lệ mới của thế giới. Cụ thể, từ nay Việt Nam sẽ tổ chức những cuộc gặp trực tiếp
và thảo luận để đi đến thống nhất về nhu cầu nhận ODA cũng như khả năng cung cấp
của từng nhà tài trợ theo định kỳ hằng năm. Nếu xét từ góc độ chung và tiền lệ từ các
16
nước khác, các khoản vay sẽ kém ưu đãi hơn hoặc lượng vốn cho vay cũng có thể thấp
hơn so với thời kỳ mà nước ta còn ở mức thu nhập thấp. Từ đó, vấn đề đặt ra là duy trì
mức vay ổn định trong những năm tới, đặc biệt là nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA
trong tình hình mới.
2.2. Tình hình sử dụng ODA
Mặc dù ODA chỉ chiểm khoảng 4% GDP song lại chiếm tỷ trọng đáng kể trong
tổng nguồn đầu tư từ NSNN (bình quân chiếm khoảng 15-17%). Điều này rất có ý
nghĩa trong bối cảnh ngân sách dành cho đầu tư phát triển của nước ta còn hạn hẹp
trong khi nhu cầu phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội lại rất lớn. Căn cứ vào nhu
cầu vốn đầu tư và định hướng phát triển theo ngành, lĩnh vực và vùng lãnh thổ đề ra
trong các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, Chính phủ Việt Nam đã đưa
ra định hướng chiến lược, chính sách ưu tiên sử dụng vốn ODA cho từng giai đoạn.
Các lĩnh vực ưu tiên sử dụng vốn ODA của Chính phủ bao gồm:
(1) Phát triển nông nghiệp và nông thôn (bao gồm nông nghiệp, thuỷ lợi,
lâm nghiệp, thuỷ sản kết hợp xoá đói, giảm nghèo).
(2) Xây dựng hạ tầng kinh tế theo hướng hiện đại.
(3) Xây dựng kết cấu hạ tầng xã hội (y tế, giáo dục và đào tạo, dân số và
phát triển và một số lĩnh vực khác).
hoàn thành và đang thực hiện 132 dự án với tổng vốn ODA hơn 17 tỷ USD,
trong đó đã hoàn thành 83 dự án với vốn ODA đạt 5 tỷ USD và đang thực
hiện 49 dự án với số vốn ODA khoảng 12 tỷ USD. Các chương trình, dự án
ODA trong lĩnh vực này đã hỗ trợ Việt Nam xây dựng và hoàn thiện hệ
thống giao thông quốc gia cũng như giao thông vùng và tại các tỉnh, thành.
+ Trong phát triển đô thị và bảo vệ môi trường: Từ nguồn vốn ODA, hầu hết
các thành phố, thị xã, thị trấn đã được xây dựng mới, cải tạo hoặc mở rộng
hệ thống cung cấp nước sinh hoạt, thoát nước và một số nhà máy xử lý
nước thải. Nhiều thành phố ở Việt Nam đã được cải thiện về môi trường
bằng các dự án vốn ODA, điển hình thành công là dự án kênh Nhiêu Lộc -
Thị Nghè ở thành phố Hồ Chí Minh, với sự hỗ trợ vốn vay của Ngân hàng
Thế giới (WB), dòng kênh tưởng như đã chết này lại hồi sinh, trở thành con
kênh xanh, sạch, đẹp.
+ Trong giáo dục và đào tạo: Tất cả các cấp học đều nhận được sự hỗ trợ
thông qua các chương trình và dự án ODA, giúp tăng cường năng lực dạy
và học, hỗ trợ trẻ em bị thiệt thòi được đến trường, đẩy mạnh giáo dục cho
tất cả mọi người. Bên cạnh đó, còn phải kể đến các dự án hỗ trợ kỹ thuật,
chủ yếu bằng viện trợ không hoàn lại, đã đào tạo và đào tạo lại cho hàng
vạn cán bộ Việt Nam ở các cấp về nhiều lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, công
nghệ, quản lý kinh tế, tài chính ngân hàng, quản trị công Các chương trình
và dự án ODA đưa tới Việt Nam những chuyên gia quốc tế từ khu vực và
thế giới, thông qua đó, cán bộ Việt Nam đã học hỏi được không những về
18
chuyên môn mà còn phong cách làm việc chuyên nghiệp, tinh thần trách
nhiệm đối với công việc được giao.
+ Về y tế: các chương trình, dự án ODA đã tăng cường cơ sở vật chất và kỹ
thuật cho công tác khám và chữa bệnh, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế,
xây dựng cơ sở sản xuất kháng sinh, trung tâm truyền máu quốc
gia Ngoài ra, nhiều chương trình mục tiêu quốc gia về y tế, phòng chống
HIV/AIDS và các bệnh truyền nhiễm được thực hiện bằng vốn ODA đã
giá là “không thành công”.
− Ba là, về đóng góp của ODA cho tăng trưởng GDP, mức đóng góp này đã có
xu hướng tăng dần theo các năm và thường tăng cao vào những thời kỳ
kinh tế đất nước gặp nhiều khó khăn, thách thức (chẳng hạn, trong thời kỳ
khủng hoảng kinh tế Châu Á 1997-1998 và khủng hoảng tài chính và suy
thoái kinh tế toàn cầu 2008 - 2009). Trong năm 2009, ODA chiếm khoảng
4,1% so với GDP, một tỷ trọng không lớn song có thể thấy tác động tích cực
của nó trong việc kích cầu đầu tư, góp phần vào việc duy trì đà tăng trưởng
của nền kinh tế Việt Nam.
− Bốn là, về vấn đề trả nợ ODA, từ năm 1993 đến nay Việt Nam luôn trả được
nợ và trả đúng hạn cả gốc lẫn lãi, chưa để xảy ra tình trạng nợ nước ngoài quá
hạn, vượt khả năng thanh toán. Tuy nhiên, áp lực trả nợ sẽ ngày càng tăng do
vay ưu đãi ODA giảm dần và vay thương mại tăng lên vì Việt Nam đã thoát
ra khỏi nhóm nước nghèo theo tiêu chuẩn tài trợ ODA. Bên cạnh đó, Việt
Nam vay Nhật Bản chủ yếu bằng đồng Yên, vì vậy có thể số tiền trả nợ sẽ
đắt hơn mỗi năm, do xu hướng đồng Yên lên giá. Nợ bằng USD cũng sẽ cần
nhiều tiền hơn để
thanh toán, do Nhà nước mới điều chỉnh tỷ giá gần đây.
Theo số liệu của Bộ Tài chính, nợ nước ngoài của Việt Nam năm 2010 là 31 tỷ
USD, trong đó nợ Nhật Bản lớn nhất với số tiền 8,4 tỷ USD, tiếp đó là đến Hiệp hội
Phát triển Quốc tế (IDA) với số tiền 6,1 tỷ USD, Ngân hàng Phát triển Á châu (ADB)
3,8 tỷ USD, Cộng hòa Pháp hơn 1 tỷ USD… Theo tính toán của Bộ Kế hoạch và Đầu
tư, đến năm 2015 nợ nước ngoài của Việt Nam sẽ tăng lên 57 tỷ USD, và Việt Nam sẽ
phải trả nợ nước ngoài khoảng 6 – 6,6 tỷ USD trong 5 năm từ 2011 đến 2015. Rõ ràng,
đây là khoản tiền không nhỏ trong bối cảnh nguồn thu ngân sách của đất nước còn hạn
hẹp.
Vấn đề đặt ra hiện nay là Việt Nam cần luôn luôn cảnh báo và nghe cảnh báo về
con số nợ để có kế hoạch vay và trả nợ an toàn. Một trong những yếu tố quan trọng
nhất để đảm bảo an toàn là phải có hiệu quả đầu tư. Cần thay đổi một cách căn bản
tư duy lâu nay coi ODA như một thứ “tiền chùa”, đồng thời có chính sách và
cầu. Có thể nhìn nhận thực trạng này thông qua tỷ lệ giải ngân so với nguồn
vốn ODA đã ký kết trong 20 năm qua chỉ đạt khoảng 67%. Riêng thời kỳ
2006-2010, khoảng 7 tỷ USD vốn ODA đã ký kết, nhưng chưa giải ngân, trong
đó có nhiều chương trình, dự án được hưởng các điều kiện tài chính ưu đãi cao
phải chuyển tiếp sang thời kỳ 2011-2015.
− Nhiều chương trình và dự án chậm tiến độ, nhiều trường hợp phải xin gia hạn.
Do chậm tiến độ thực hiện, mà một số dự án bị cắt giảm, hủy một số hạng
mục, hoặc phải tái cấu trúc toàn bộ dự án, gây ảnh hưởng xấu tới hiệu quả sử
dụng nguồn vốn này.
− Hai là, thiết kế của một số chương trình, dự án ODA chưa sát với thực tế Việt
Nam nói chung và của các địa phương nói riêng. Một số dự án ODA thí điểm
21
những mô hình phát triển, như: tín dụng quy mô nhỏ, quản lý và kinh doanh
nước sạch, phát triển sinh kế, bảo vệ và phát triển rừng , nhưng chỉ hoạt động
khi còn dự án, mà không nhân rộng được và áp dụng trong thực tế sau khi dự
án kết thúc. Đồng thời, trong cùng một lĩnh vực như xóa đói giảm nghèo, các
nhà tài trợ áp dụng các mô hình khác nhau, dẫn đến trùng lặp, kém hiệu quả và
lãng phí nguồn lực của địa phương, cũng như của các nhà tài trợ.
− Ba là, việc lồng ghép các chương trình và dự án của Chính phủ trên địa bàn với
các chương trình và dự án ODA, nhiều khi có sự trùng lặp, có những nội dung
gần nhau, như: xóa đói giảm nghèo, giao thông nông thôn, nước sạch nông
thôn làm hạn chế hiệu quả nguồn vốn. Thực tế đã xảy ra trên cùng một địa
bàn thôn, xã có nhiều công trình cùng một lĩnh vực do nhiều nguồn vốn tài
trợ, song chính quyền địa phương không đủ năng lực quản lý và thiếu nguồn tài
chính nhằm duy trì hoạt động của các công trình này một cách có hiệu quả để
phục vụ lâu dài cho người dân.
− Bốn là, nhiều bộ, ngành và địa phương để xảy ra những vụ việc vi phạm các
quy định quản lý ODA của Chính phủ và của nhà tài trợ, có tình trạng tham
nhũng gây ảnh hưởng đến uy tín quốc gia.
− Năm là, sự phối hợp trong nội bộ các bộ, ngành, giữa Trung ương, địa phương
xử lý nước thải, rác thải, );
+ Phát triển các ngành nông nghiệp sử dụng công nghệ cao, các công trình
thủy lợi quy mô lớn và các lĩnh vực hạ tầng khác liên quan đến chương
trình nông nghiệp, nông thôn và nông dân theo tinh thần của Nghị quyết
Trung ương 5.
− Hỗ trợ thực hiện các dự án trong lĩnh vực văn hóa - xã hội, trong đó ưu tiên
xây dựng các trường đại học; phát triển các khu công nghệ cao; các trường
dạy nghề nhằm phát triển nguồn nhân lực trình độ cao; các bệnh viện khu
vực hiện đại, đạt tiêu chuẩn quốc tế, Ngoài ra, ODA cần tập trung hỗ trợ
thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia (xóa đói giảm nghèo, an sinh xã
hội, HIV/AIDS, nông nghiệp, nông thôn và nông dân).
− Hỗ trợ thực hiện các dự án trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, đối phó với biến
đổi khí hậu, hỗ trợ phát triển và ứng dụng các công nghệ thân thiện với môi
trường và xây dựng mô hình tăng trưởng xanh,
− Hỗ trợ xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý đáp ứng yêu cầu của giải đoạn
phát triển mới; tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác khoa học
kỹ thuật, quản lý nhà nước và nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ xã hội
(dịch vụ công, y tế, giáo dục, đào tạo, ).
23
− Ngoài ra, ODA cũng cần ưu tiên sử dụng cho những lĩnh vực sản xuất có khả
năng hoàn trả cao các loại vốn vay ODA kém ưu đãi để tạo ra công ăn việc
làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, góp phần thực hiện mục tiêu xóa đói,
giảm nghèo.
3.2. Các giải pháp
Để thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA trong thời gian tới, nhất là trong
bối cảnh Việt Nam đã trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp, cần phải
thực hiện tốt một số vấn đề sau:
Một là, cần nâng cao nhận thức và hiểu đúng về bản chất của ODA: ODA nên
được coi là nguồn lực có tính chất bổ sung chứ không thay thế nguồn lực trong nước
đối với mọi cấp độ thụ hưởng. Một điều quan trọng nữa là cần nâng cao quyền tự chủ
trưởng kinh tế và phát triển bền vững. Hơn nữa, chiến lược, quy hoạch và kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của từng ngành và địa phương phải
được xem xét để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA.
Năm là, mở rộng diện thụ hưởng ODA tới khu vực tư nhân để thực hiện các
chương trình và dự án phục vụ các lợi ích công cộng. Huy động sự tham gia của các
đối tượng thụ hưởng là một cách quan trọng để đảm bảo nguồn vốn ODA được sử
dụng công khai, minh bạch, có hiệu quả, và tránh được thất thoát, lãng phí và tham
nhũng.
Sáu là, xây dựng kế hoạch hợp lý cho việc phân cấp ODA. Phân cấp quản lý và
sử dụng ODA là tiến trình không thể đảo ngược trên thế giới cũng như ở Việt
Nam. Điều quan trọng là Việt Nam cần phải xác định được phân cấp đến mức độ
nào và những dự án nào cần được phân cấp. Từ cách nhìn này, những kết quả và kinh
nghiệm phân cấp trong thời gian qua cần được xem xét. Một hệ thống các tiêu chí cho
việc phân cấp ODA bao gồm thời gian và chi phí thực hiện dự án, năng lực quản lý
ODA và hiệu quả hoạt động cũng cần phải được xây dựng.
Bẩy là, tăng cường theo dõi và quản lý ODA, bao gồm các giải pháp sau:
− Đảm bảo tính đồng bộ, nhất quán, rõ ràng, đơn giản, minh bạch của hệ thống
pháp lý liên quan đến quản lý và sử dụng ODA;
− Tăng cường nỗ lực chống tham nhũng của Chính phủ;
− Đẩy nhanh cải cách hành chính và hiệu quả hành chính nhà nước;
− Nâng cao đào tạo chuyên nghiệp và đào tạo lại cán bộ quản lý dự án;
− Hoàn thiện chính sách tài chính đối với ODA bao gồm thực hiện quản lý
nợ nước ngoài và đảm bảo chính sách thuế thông thoáng đối với các chương
trình và dự án ODA;
− Tăng cường quản lý vốn ODA theo Luật Ngân sách nhà nước.
Tám là, xây dựng kế hoạch giảm dần ODA với thời gian trả nợ ngắn và gắn với
điều kiện chặt chẽ. Kinh nghiệm từ các nước ASEAN và Trung Quốc cho thấy rằng
lượng ODA huy động phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế trong từng thời kỳ nhất
định. ODA có khuynh hướng giảm ở các nước ASEAN cả về lượng và bình quân đầu
người. Việt Nam cũng cần phải bắt đầu nghiên cứu kế hoạch và chiến lược giảm dần