Nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng tại Công ty Tây hồ - Pdf 27

Website: Email : Tel : 0918.775.368
MỞ ĐẦU
Vấn đề hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay đang được bàn đến rất nhiều trên
các thông tin đai chúng, đặc biệt sau khi Việt Nam ra nhập tổ chức thương
mại WTO. Đảng và Nhà nước đã khẳng định điều này sẽ mang đến nhiều cơ
hội những cũng sẽ ẩn chứa nhiều thách thức mà ta sẽ phải đối mặt.
Muốn Việt Nam vững bước trên con đường hội nhập thì ta phải giải
quyết triệt để các vấn đề nổi cộm trong xã hội hiện nay. Hiện nay, một trong
những vấn đề gây bức xúc nhiều trong giới dư luận chính là việc các công
trình đầu tư lớn của Nhà nước bị đổ sập. Năm vừa qua là năm liên tiếp sập các
công trình xây dựng như vụ sập cầu Cần thơ, cao ốc Pacific cuối năm
1997 . . . Nó thật sự là thảm họa đã cướp đi sinh mạng của nhiều người và gây
thiệt hại hàng tỷ đồng cho ngân sách nhà nước. Vấn đề đặt ra ở đây là làm thế
thế nào để giải quyết được tình trạng chất lượng công trình đang ngày càng bị
vi phạm một cách nghiệm trọng như vậy. Phải chăng chúng ta nên quan tâm
đúng mức hơn nữa đến vấn đề nâng cao chất lượng công trình? Đúng vậy, vấn
đề này đã trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết trong toàn xã hội, trong đó doanh
nghiệp xây dựng giữa vai trò hết sức quan trọng bởi họ chính là những người
trực tiếp thực hiện các công trình. Do vậy, các doanh nghiệp cần chủ động
hơn nữa trong việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất lượng để tránh
xảy ra những tình trạng đáng tiếc như trong năm vừa qua.
Công ty Tây Hồ là đơn vị thuộc tổng cục Công nghiệp quốc phòng, được
thành lập năm 1996, từ đó đến nay Công ty đã tham gia nhiều công trình xây
dựng cơ bản và tất cả các công trình đến nay vẫn trong quá trình sử dụng tốt.
Nhưng cũng có một số công trình trong khi đang thi công đã gặp sự cố về chất
lượng. Mặc dù Công ty đã kịp thời phát hiện và khắc phục nhưng dù sao thì
nó cũng đã gây tổn thất về mặt tài chính cho Công ty và làm giảm sức cạnh
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tranh của Công ty với các đối thủ trên thị trường xây dựng. Thật ra đây là vấn
đề cũng hay mắc phải của các doanh nghiệp Việt Nam, do trình độ máy móc

Chất lượng sản phẩm là một khái niệm đã xuất hiện từ lâu và được sử
dụng rất phổ biến trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người. Tuy nhiên, để
hiểu rõ và đầy dủ về khái niệm chất lượng sản phẩm thì thật không hề đơn
giản. Bởi đây là một phạm trù phức tạp phản ánh tổng hợp các nội dung kỹ
thuật, kinh tế và xã hội. Đứng ở những góc độ khác nhau và tùy theo mục
tiêu, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh có thể đưa ra những quan niệm về chất
lượng sản phẩm thành những nhóm chủ yêu sau:
- Quan niệm siêu việt: cho rằng chất lượng là sự tuyệt vời và hoàn hảo
nhất của sản phẩm.
Quan niệm này quá tính trừ tượng bởi chất lượng sản phẩm không thể
xác định một cách chính xác.
- Quan niệm theo hướng công nghệ: cho rằng chất lượng sản phẩm là
tồng hợp những đặc tính bên trong sản phẩm, có thể đo được hoặc so sánh
được, phản giá trị sử dụng và chức năng của sản phẩm đó đáp ứng yêu cầu
định trước cho nó, trong những yêu cầu xác định về kinh tế xã hội.
Ưu điểm của quan niệm này là có thể dễ dàng đánh giá được chất lượng
đơn thuần về mặt kỹ thuật và ở mặt tương đối tĩnh.
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tuy nhiên, nó cũng có nhược điểm là dễ dẫn đến nguy cơ làm cho chất
lượng không kịp thời cải tiến, không gắn chặt với nhu cầu thị trường và dẫn
đến kết quả là tiêu thụ sản phẩm kém.
- Quan niệm theo hướng khách hàng: theo hướng này có rất nhiều
chuyên gia nổi tiếng như:
Theo W.E.Deming: “ Chất lượng là mức độ dự đoán trước về tính đồng
đều và có thể tin cậy được, tại mức chi phí thấp và được thị trường chấp
nhận”.
Theo Philip B.Crosby trong quyển “ Chất lượng là thứ cho không” đã
diễn tả: “ Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu”.
Theo A. Feigenbaum: “ Chất lượng là những đặc điểm tổng hợp của sản

nào mà luôn đặt nó trong một giới hạn về công nghệ, kinh tế, xã hội.
1.1.1.2. Phân loại chất lượng sản phẩm.
Qua sự phân tích nghiên cứu, các chuyên gia chất lượng sản phẩm đã
đưa ra 6 loại chất lượng sản phẩm như sau:
Chất lượng thiết kế: là chất lượng thể hiện những thuộc tính chỉ tiêu của
sản phẩm được phác thảo trên cơ sở nghiên cứu thị trường được định ra để
sản xuất, chất lượng thiết kế được thể hiện trong các bản vẽ, bản thiết kế, các
yêu cầu về vật liệu chế tạo, những yêu cầu về gia công, sản xuất chế tạo, yêu
cầu về bảo quản, về thử nghiệm và những yêu cầu hướng dẫn sử dụng. Chất
lượng thiết kế còn gọi là chất lượng chính sách nhằm đáp ứng đơn thuần về lý
thuyết đối với nhu cầu thị trường, còn thực tế có đạt được điều đó hay không
thì nó còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố.
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chất lượng chuẩn: là loại chất lượng mà thuộc tính và chỉ tiêu của nó
được phê duyệt trong quá trình quản lý chất lượng và người quản lý chính là
các cơ quan quản lý và chính chỉ có họ mới có quyền phê chuẩn. Sau khi phê
chuẩn rồi thì chất lượng này trở thành pháp lệnh, văn bản pháp quy.
Chất lượng thực tế: là mức độ thực tế đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của sản
phẩm và nó được thể hiện sau quá trình sản xuất, trong quá trình sử dụng sản
phẩm.
Chất lượng cho phép: là mức độ cho phép về độ lệch giữa chất lượng
chuẩn và chất lượng thực tế của sản phẩm. Chất lượng cho phép do cơ quan
quản lý chất lượng sản phẩm, cơ quan quản lý thị trường, hợp đồng quốc tế,
hợp đồng giữa đôi bên quy định.
Chất lượng tối ưu: biểu thị khả năng toàn diện đáp ứng nhu cầu của thị
trường trong điều kiện xác định với những chi phí xã hội thấp nhất. Nó nói
lên mối quan hệ giữa chất lượng sản phẩm và chi phí.
Chất lượng toàn phần: là mức chất lượng thể hiện mức tương quan giữa
hiệu quả có ích cho sử dụng sản phẩm có chất lượng cao và tổng chi phí để

- Sáng tạo ra vật liệu mới hay vật liệu thay thế.
- Cải tiến hay đổi mới công nghệ.
- Cải tiến sản cũ và chế thử sản phẩm mới.
* Hiệu lực của cơ chế quản lý:
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Có thể nói rằng khả năng cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm của mỗi
tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào cơ chế quản lý của mỗi nước.
Hiệu lực quản lý nhà nước là đòn bẩy quan trọng trong việc quản lý chất
lượng sản phẩm, đảm bảo cho sự phát triển ổn định của sản xuất, đảm bảo uy
tín và quyền lợi của nhà sản xuất và người tiêu dung.
Mặt khác, nó còn góp phần tạo tính tự chủ, độc lập, sáng tạo trong cải
tiến chất lượng sản phẩm của các tổ chức, hình thành môi trường thuận lợi
cho việc huy động các nguồn lực, các công nghệ mới, tiếp thu ứng dụng
những phương pháp quản lý chất lượng hiện đại.
• Nhóm yếu tố bên trong tổ chức.
Trong phạm vi một tổ chức thì có 4 yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến chất
lượng sản phẩm ( được biệu thị bằng quy tắc 4 M), đó là:
- Men (con người): lực lượng lao động trong tổ chức (bao gồm tất cả
thành viên trong tổ chức, từ cán bộ lãnh đạo đến nhân viên thừa hành). Năng
lực, phẩm chất của mỗi thành viên và mối liên kết giữa các thành viên có ảnh
hưởng trực tiếp đến chất lượng.
- Methods (phương pháp): phương pháp công nghệ, trình độ tổ chức
quản lý và tổ chức sản xuất của tổ chức. Với phương pháp công nghệ thích
hợp, với trình độ quản lý và tổ chức sản xuất tốt sẽ tạo điều kiện cho tổ chức
có thể khai thác tốt nhất các nguồ lực hiện có, góp phần nâng cao chất lượng
sản phẩm.
- Machines (máy móc thiết bị): khả năng về công nghệ, máy móc thiết
bị của tổ chức. Trình độ công nghệ, máy móc thiết bị có tác động rất lớn trong
việc nâng cao những tính năng kỹ thuật của sản phẩm và nâng cao năng suất

Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.1.2.2. Sự ra đời của quản lý chất lượng trong bối cảnh hội nhập kinh
tế quốc tế.
Ta sẽ chỉ xét quản lý chất lượng ở cấp doanh nghiệp. Hoạt động quản lý
chất lượng trong các doanh nghiệp hay nói rộng hơn là của các tổ chức không
phải là nhà nước hết sức đa dạng do tính chất hoạt động của các tổ chức này.
Theo Bộ Tiêu chuẩn Quốc tế ISO 9000 được thông qua lần đầu tiên vào
năm 1987 (ISO 9000:1987), đến năm 2000 bộ tiêu chuẩn này đã được sửa đổi
bổ xung lần thứ ba với ký hiệu ISO 9000:2000. Đây là sự thay đổi về chất đối
với bộ tiêu chuẩn này, đó chính là sự thay đổi khái niệm “đảm bảo chất
lượng” bằng “quản lý chất lượng”. Khái niệm “quản lý chất lượng” không chỉ
dành cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng hóa và dịch vụ, mà còn
cho tất cả các tổ chức khác như tổ chức sự nghiệp: Nhà trường, bệnh viện,
viện nghiên cứu…và cả các cơ quan hành chính nhà nước, các tổ chức chính
trị. Nghĩa là có thể áp dụng cho tất cả những tổ chức nào muốn nâng cao hiệu
quả hoạt động của mình nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu ngày càng tăng của
khách hàng khi sử dụng sản phẩm của mình. Khái niệm sản phẩm ở đây theo
đó cũng hết sức rộng: ‘nó là kết quả của một quá trình hoạt động của con
người’. Đây cũng là hệ quả tất yếu của quá trình quản lý chất lượng của thế
giới trước tác động của quá trình toàn cầu hóa nói chung và tự do hóa thương
mại nói riêng đang ngày càng sâu rộng. Các phương pháp quản lý chất lượng
gồm:
- Kiểm tra chất lượng (Quality Inspection) với mục tiêu để sàng lọc các
sản phẩm không phù hợp, không đáp ứng yêu cầu, có chất lượng kém ra khỏi
các sản phẩm phù hợp, đáp ứng yêu cầu, có chất lượng tốt. Mục đích là chỉ có
sản phẩm đảm bảo yêu cầu đến tay khách hàng.
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Kiểm soát chất lượng (Quality Control – QC) với mục tiêu ngăn ngừa
việc tạo ra, sản xuất ra các sản phẩm khuyết tật. Để làm được điều này, phải

toàn thực phẩm (food chain), ISO/TS 29001 Công nghiệp dầu khí và hóa dầu
– Hệ thống quản lý chất lượng trong các ngành công nghiệp đặc thù- yêu cầu
đối với các tổ chức cung cấp sản phẩm và dịch vụ.
Ngoài các doanh nghiệp, việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng nhằm
nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức sự nghiệp và các cơ quan hành
chính nhà nước cũng được quan tâm. Điều này chứng tỏ quản lý chất lượng
ngày càng trở nên quan trọng và được áp dụng sâu rộng trong mọi lĩnh vực
của cuộc sống.
1.1.2.3. Các nguyên tắc quản lý chất lượng
Nguyên tắc 1: Định hướng bởi khách hàng.
Doanh nghiệp phụ thuộc vào khách hàng của mình và vì thế cần hiểu
những nhu cầu hiện tại và tương lai của khách hàng để không chỉ đáp ứng mà
còn vượt cao hơn sự mong đợi của họ.
Nguyên tắc 2: Sự lãnh đạo.
Lãnh đạo thiết lập sự thống nhất đồng bộ giữa mục đích và đường lối của
doanh nghiệp. Lãnh đạo cần tạo ra và duy trì môi trường nội bộ trong doanh
nghiệp để hoàn toàn lôi cuốn mọi người trong việc đạt được các mục tiêu của
doanh nghiệp.
Nguyên tắc 3: Sự tham gia của mọi người.
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Cong người là nguồn lực quan trọng nhất của một doanh nghiệp và sự
tham gia đầy đủ với những hiểu biết và kinh nghiệm của họ rất có ích cho
doanh nghiệp.
Nguyên tắc 4: Quan điểm quá trình.
Kết quả mong muốn sẽ đạt được một cách hiệu quảkhi các nguồn và các
hoạt động có liên quan được quản lý như một quá trình.
Nguyên tắc 5: Tính hệ thống.
Việc xác định, hiểu biết và quản lý một hệ thống các quá trình có liên
quan lẫn nhau đối với mục tiêu đề ra sẽ đem lại hiệu quả của doanh nghiệp.

công trình, chất lượng khảo sát, chất lượng các bản vẽ thiết kế...
- Chất lượng công trình tổng thể phải được hình thành từ chất lượng của
nguyên vật liệu, cấu kiện, chất lượng của công việc xây dựng riêng lẻ, của các
bộ phận, hạng mục công trình.
- Các tiêu chuẩn kỹ thuật không chỉ thể hiện ở các kết quả thí nghiệm,
kiểm định nguyên vật liệu, cấu kiện, máy móc thiết bị mà còn ở quá trình hình
thành và thực hiện các bước công nghệ thi công, chất lượng các công việc của
đội ngũ công nhân, kỹ sư lao động trong quá trình thực hiện các hoạt động
xây dựng.
- Vấn đề an toàn không chỉ là trong khâu khai thác, sử dụng đối với
người thụ hưởng công trình mà còn là cả trong giai đoạn thi công xây dựng
đối với đội ngũ công nhân, kỹ sư xây dựng;
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Tính thời gian không chỉ thể hiện ở thời hạn công trình đã xây dựng có
thể phục vụ mà còn ở thời hạn phải xây dựng và hoàn thành, đưa công trình
vào khai thác, sử dụng;
- Tính kinh tế không chỉ thể hiện ở số tiền quyết toán công trình chủ đầu
tư phải chi trả mà còn thể hiện ở góc độ đảm bảo lợi nhuận cho các nhà thầu
thực hiện các hoạt động và dịch vụ xây dựng như lập dự án, khảo sát, thiết kế,
thi công xây dựng...
- Vấn đề môi trường: cần chú ý không chỉ từ góc độ tác động của dự án
tới các yếu tố môi trường mà cả các tác động theo chiều ngược lại, tức là tác
động của các yếu tố môi trường tới quá trình hình thành dự án.
[1]
1.2.2. Nội dung cơ bản của hoạt động quản lý chất lượng công trình.
Chất lượng công trình là tổng hợp của nhiều yếu tố hợp thành, do đó để
quản lý được chất lượng công trình thì phải kiểm soát, quản lý được các nhân
tố ảnh hưởng đến chất lượng công trình, bao gồm: con người, vật tư, biện
pháp kỹ thuật và áp dụng các tiêu chuẩn tiên tiến. Cụ thể các yếu tố như sau:

Quản lý nguồn nguyên vật liệu sao cho chúng phải đảm bảo đúng yêu
cầu chất lượng và chỉ định của thiết kế.
Quản lý sao cho việc cung ứng nguyên vật liệu phải đảm bảo đầy đủ về
số lượng, thời gian và khối lượng dự trữ nguyên vật liệu tại công trường theo
đúng yêu cầu.
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.2.3. Một số chỉ tiêu đánh hiệu quả công tác quản lý chất lượng công
trình.
1.2.3.1. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý chất lượng công trình
theo các giai đoạn của quá trình thi công.
Giai đoạn chuẩn bị thi công: Hiệu quả quản lý chất lượng trong giai đoạn
chuẩn bị thi công thể hiện ở việc đảm bảo các điệu kiện khởi công công trình:
- Số lượng và chất lượng của các hồ sơ tài liệu kỹ thuật có liên quan
được đảm bảo đúng quy định.
- Số lượng và chất lượng của các yếu tố: vật tư, máy móc thiết bị và lực
lượng lao động tập kết tại công trường theo đúng kế hoạch.
- Kết quả giải phóng mặt bằng.
- Các điều kiện về giao thông, điện nước và các yêu cầu kỹ thuật khác.
Giai đoạn thi công: trong giai đoạn thi công, hiệu quả công tác quản lý
chất lượng thể hiện ở:
- Chất lượng của biện pháp thi công.
- Chất lượng của vật tư, thiết bị sử dụng và lắp đặt vào công trình.
- Tiến độ thi công có được đảm bảo không?
- Lực lượng lao động và máy móc thiết bị thi công tại từng khâu công tác
có phù hợp với bảng tiến độ thi công được lập không?
- Chất lượng của từng khối lượng công tác hoàn thành theo bản vẽ thiết
kế.
Giai đoạn nghiệm thu bàn giao và bảo hành công trình: hiệu quả quản lý
chất lượng trong giai đoạn này thể hiện ở:

kế hoạch của công nhân.
+ Thời gian lãng phí bao gồm: thời gian ngừng việc do yêu cầu của côgn
nghệ như thời gian đông kết xi măng, thời gian lãng phí do công nhân, thời
gian lãng phí do nguyên nhân tổ chức.
Chỉ tiêu này phản ánh trình tổ chức lực lượng lao động hợp lý hay
không. Chỉ tiêu này càng lớn càng chứng tỏ công tác quản lý con người chưa
hiệu quả.
• Chỉ tiêu về quản lý chất lượng máy móc, thiết bị.
+ Phần trăm hoàn thành kế hoạch.
Hm = ( Ttt / Tkh) x 100%
Trong đó:
+ Ttt là thời gian làm việc thực tế bình quân của máy móc, thiết bị
(ngày/tháng).
+ Tkh là thời gian làm việc theo kế hoạch bình quân của máy móc, thiết
bị (ngày/ tháng)
+ Hm là phần trăm hoàn thành kế hoạch
Với chỉ tiêu này ta có thể đánh giá công tác quản lý chất lượng máy móc
thiết bị. Nó cho biết công tác quản lý máy móc thiết bị có hiệu quả hay
không, nếu hoàn thành đúng kế hoạch điều đó chứng tỏ công tác quản lý sử
dụng sử dụng máy móc tốt, và công tác lập kế hoạch rất tốt. Ngược lại thì
chứng tỏ công tác quản lý sửa dụng máy móc không tốt.
• Chỉ tiêu về vấn đề quản lý vật tư.
+ Tỷ lệ thất thoát vật tư trong quá trình thi công (Ktt)
19
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Ktt = (VTtt / VTmv) x 100%
Trong đó:
VTtt: số lượng vật tư mất mát, hư hỏng trong quá trình thi công.
VTmv: số lượng vật tư mua theo khối lượng công tác xây lắp.
Chỉ tiêu này cho phép đánh giá hiệu quả của công tác quản lý vật tư

hệ thống quản lý chất lượng, đào tạo cán bộ, kiểm tra đo lường hệ
thống….Việc tăng chi phí phòng ngừa sẽ góp phần làm giảm các chi phí sai
hỏng hoặc không đạt. Do đó chỉ tiêu này cũng có thể dùng để đánh giá hiệu
quả của hoạt động quản lý chất lượng.
1.3. SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ
CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY
DỰNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.
1.3.1. Vai trò của ngành xây dựng trong quá trình công nghiệp hóa hiện
đại hóa đất nước.
Xây dựng cơ bản có thể coi là một ngành sản xuất vật chất, ngành duy
nhất tạo ra cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ cho sản xuất, đời sống y tế, quốc
phòng, giáo dục và các công trình dân dụng khác.
Trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, hoạt động xây
dựng cơ bản góp phần to lớn vào việc tạo ra cơ sở hạ tầng cho các ngành
21
Website: Email : Tel : 0918.775.368
khác. Nhìn vào cơ sở hạ tầng của các ngành đó ta có thể thấy được trình độ
phát triển, hiện đại của ngành đó như thế nào.
Nhờ có việc thi công các công trình xây dựng đô thị hóa nông thôn mà
nó đã góp phần vào việc cải thiện khoảng giữa thành thị và nông thôn, nâng
cao trình độ văn hóa và điều kiên sống cho những người dân vùng nông thôn,
từ đó góp phần đổi mới đất nước.
Ngoài ra, ngành xây dựng còn đóng góp rất lớn vào tổng GDP của cả
nước. Sự phát triển của ngành cho thấy sự lớn mạnh về nền kinh tế đất nước.
Các cơ sở hạ tầng, kiến trúc đô thị càng hiện đại càng chứng tỏ đó là một đất
nước có nền kinh tế phát triển, có nền khoa học công nghệ tiên tiến và mức
sống của người dân nơi đây rất cao.
1.3.2. Tình hình chất lượng công trình xây dựng nói chung hiện nay ở
nước ta.
1.3.2.1. Những mặt đã đạt được trong công tác nâng cao chất lượng

dựng hàng năm; 574 tập thể và cá nhân được tặng bằng khen của Bộ trưởng
Bộ Xây dựng và của Ban Thường vụ công đoàn Xây dựng Việt Nam. Hệ
thống quản lý chất lượng của các đơn vị tham gia cuộc vận động đã được
củng cố, hoàn thiện theo các tiêu chí của tiêu chuẩn quản lý chất lượng quốc
tế ISO – 9001.
1.3.2.2. Những bất cập về vấn chất lượng công trình xây dựng hiện
nay.
Mặc dù Nhà nước đã có nhiều có gắng trong việc đảm bảo, nâng cao,
kiểm soát chất lượng công trình và cũng đã đạt được một số thành tích đáng
kể. Tuy nhiên, số lượng công trình kém chất lượng hoặc vi phạm về chất
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
lượng vẫn còn khá nhiều. Vấn đề này đã gây nhiều bức xúc trong xã hội.
Theo văn bản số 1058 gửi Bộ trưởng Bộ xây dựng mới đây báo cáo về tình
hình chất lượng công trình xây dựng năm 2007.
Theo báo cáo của UBND thành phố, TPHCM hiện có 1.884 công trình
xây dựng, trong đó có 258 công trình (CT) mới khởi công (có 148 CT dân
dụng), 713 CT đang thi công (224 CT dân dụng) và 913 CT đã hoàn thành
đưa vào sử dụng (361 CT dân dụng).
Năm 2007, TPHCM đã xảy ra 24 sự cố công trình, trong đó 9 sự cố
thuộc cấp độ nhẹ, 8 sự cố cấp độ vừa và 7 sự cố cấp độ nghiêm trọng.
Trong thời gian qua, thành phố xảy ra nhiều vụ việc xây dựng nhà cao
tầng, công trình có quy mô lớn không phép, sai phép vi phạm quy trình quản
lý chất lượng công trình dẫn đến những thiệt hại lớn về tài sản, ảnh hưởng đến
đời sống sinh hoạt của nhiều người dân, gây bức xúc trong xã hội.
Theo Phó chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Hữu Tín, sự cố CT xây
dựng có thể xảy ra ở bất kỳ loại CT nào và đều có thể gây ra những hậu quả
nghiêm trọng.
Ở quận 8 và huyện Bình Chánh, dù xây dựng nhà cấp 4 nhưng do thi
công không cẩn thận đã gây ra hậu quả chết người hay sự cố gây sập đổ bất

quả là đã phát hiện, đề xuất các biện pháp chấn chỉnh, ngăn ngừa kịp thời các
vi phạm. Tuy nhiên, rất nhiều chủ đầu tư …đã không hợp tác, thậm chí có
trường hợp còn gây khó khăn cho đoàn kiểm tra.
[1]
[
1] Việt Báo - Theo_Tien_Phong_huy thinh_ Thứ hai, 03 Tháng ba 2008, 10:35 GMT+7
25

Trích đoạn Đặc điểm về thị trường tiêu thụ của Công ty Đặc điểm về nhân tố lao động Những mặt đã đạt được trong công tác quản lý cán bộ kỹ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status