BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ XÂY DỰNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HÀ NỘI
TRẦN MINH THUẬN
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ
CHẤT LƯỢNG THIẾT KẾ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH
TẠI SỞ XÂY DỰNG VĨNH LONG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KỸ THUẬT XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH DÂN DỤNG VÀ CÔNG NGHIỆP
Hà Nội - 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ XÂY DỰNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HÀ NỘI
----------------------------------
TRẦN MINH THUẬN
KHÓA: 2014-2016
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ
CHẤT LƯỢNG THIẾT KẾ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH
TẠI SỞ XÂY DỰNG VĨNH LONG
Trần Minh Thuận
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ là công trình nghiên cứu khoa học độc
lập của tôi. Các số liệu khoa học, kết quả nghiên cứu của Luận văn là trung thực
và có nguồn gốc rõ ràng.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trần Minh Thuận
MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các hình
MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài ..………….…………………...….…………………... 1
Mục đích nghiên cứu ……………….……….………..……….………... 2
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ……….……….……….……………. 2
Phương pháp nghiên cứu ..……..……….….……………….…………... 3
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ………….……….…………... 3
Kết cấu của luận văn ………………………………....……...…………. 3
NỘI DUNG
Chương 1. TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG THIẾT KẾ VÀ CÔNG TÁC
QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THIẾT KẾ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH ………. 4
1.1. Tình hình sự cố công trình xây dựng, nguyên nhân gây ra sự cố …… 4
1.1.1. Một số sự cố công trình trong những năm gần đây ……..………… 4
2.2.4. Hệ thống quản lý chất lượng theo TCVN/ISO 9001:2008 ............... 64
Chương 3. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ
CHẤT LƯỢNG THIẾT KẾ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH TẠI SỞ XÂY DỰNG
VĨNH LONG ................................................................................................... 69
3.1. Giải pháp hoàn thiện cơ chế, chính sách …………………………... 69
3.1.1. Hoàn thiện môi trường pháp lý ……………………………….….. 69
3.1.2. Ban hành các chính sách phù hợp đặc điểm từng vùng, từng địa
phương …………………………………………………………………... 70
3.2. Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý, điều hành .................................. 70
3.2.1. Quản lý chuyên môn, nghiệp vụ ...................................................... 71
3.2.2. Quản lý năng lực tổ chức, cá nhân hoạt động thiết kế xây dựng ..... 73
3.2.3. Quản lý, kiểm soát số liệu đầu vào phục vụ thiết kế........................ 74
3.3. Giải pháp nâng cao chất lượng thiết kế từ nguồn nhân lực, cải thiện điều
kiện làm việc ..................................................................................................... 79
3.3.1. Đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực............................. 79
3.3.2. Trang bị máy móc, thiết bị phục vụ công việc thiết kế xây dựng... 81
3.4. Giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm thiết kế ………………… 82
3.4.1. Quản lý chất lượng thiết kế ………………...…………………… 82
3.4.2. Nâng cao chất lượng sản phẩm thiết kế …………………………… 83
3.5. Giải pháp hoàn thiện quy trình quản lý chất lượng thiết kế ………. 85
3.5.1. Xây dựng hệ thống quản lý chất lượng thiết kế theo TCVN/ISO
9001:2008 ……………………………………………………………….. 85
3.5.2. Quy trình kiểm soát chất lượng thiết kế theo TCVN/ISO
9001:2008……………………………………………………………….…… 86
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ …….………………………….…………. 91
Kết luận …………………………………………………………………. 91
Kiến nghị ………………………………………………………………… 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………………………
Trong thời gian qua có nhiều công trình thiết kế thiếu an toàn dẫn đến chất
lượng công trình không đảm bảo hoặc thiết kế quá an toàn gây ra lãng phí rất
lớn, đặc biệt là các công trình vốn ngân sách Nhà nước. Trong những năm gần
đây, công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng nói chung trong đó có công
tác quản lý chất lượng thiết kế được quản lý chặt chẽ hơn rất nhiều. Về năng lực
các tổ chức, cá nhân tham gia công tác tư vấn thiết kế từng bước được nâng lên.
Song, công tác quản lý chất lượng thiết kế xây dựng nói chung, đặc biệt tại địa
bàn tỉnh Vĩnh Long cũng còn nhiều bất cập, chưa hợp lý, chưa đáp ứng được tốc
độ xây dựng tại địa bàn, có nhiều vấn đề cần phải được cải thiện, nâng cao.
Tất cả các sự cố công trình xảy ra, dù với nguyên nhân đơn giản hay phức
tạp đều có dấu ấn của công tác quản lý chất lượng thiết kế. Một phần là do chế
tài xử lý các sai phạm trong công tác quản lý chất lượng thiết kế chưa hợp lý,
chưa gắn đầy đủ trách nhiệm các tổ chức, cá nhân tham gia công tác tư vấn thiết
kế vào kết quả thực hiện dự án.
2
Là một chuyên viên đang công tác tại một đơn vị chuyên môn thuộc Sở Xây
dựng Vĩnh Long, tác giả chọn đề tài "Hoàn thiện công tác quản lý chất lượng
thiết kế xây dựng công trình tại Sở Xây dựng Vĩnh Long" làm đề tài của luận
văn tốt nghiệp nhằm nêu lên thực trạng công tác quản lý chất lượng công trình
xây dựng nói chung trong đó có công tác quản lý chất lượng thiết kế tại địa bàn
tỉnh Vĩnh Long, từ cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành trong lĩnh
vực đầu tư xây dựng và các văn bản pháp lý liên quan đề xuất một số giải pháp
nhằm hoàn thiện dần công tác quản lý chất lượng thiết kế xây dựng công trình
trong lĩnh vực đầu tư xây dựng.
* Mục đích nghiên cứu:
Nhằm mục đích cải tiến, nâng cao và hoàn thiện dần công tác quản lý chất
thu đưa vào khai thác sử dụng làm đối tượng phòng ngừa.
* Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
Góp phần hoàn thiện công tác quản lý chất lượng thiết kế xây dựng phù hợp
với quy định mới của pháp luật về xây dựng hiện hành; nâng cao hiệu quả, hiệu
lực quản lý nhà nước về chất lượng công trình trong xây dựng, đảm bảo an toàn
cho công trình, tránh lãng phí trong đầu tư xây dựng.
* Kết cấu của luận văn:
Ngoài phẩn mở đầu, kết luận và kiến nghị luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Tổng quan về chất lượng thiết kế và công tác quản lý thiết kế xây
dựng công trình
Chương 2. Cơ sở pháp lý và khoa học đối với công tác quản lý chất lượng
thiết kế công trình xây dựng
Chương 3. Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chất lượng thiết kế
công trình xây dựng tại Sở Xây dựng Vĩnh Long
4
NỘI DUNG
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG THIẾT KẾ VÀ CÔNG TÁC
QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THIẾT KẾ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH
1.1. Tình hình sự cố công trình xây dựng, nguyên nhân gây ra sự cố
Theo thống kê mỗi năm cả nước có khoảng 50.000 công trình xây dựng
được đầu tư, bao gồm bệnh viện, trường học, khách sạn, chung cư cao tầng,
trung tâm thương mại; các nhà máy nhiệt điện, thủy điện, hệ thống cầu, đường
hầm giao thông; cảng biển, cảng hàng không; khu chế xuất, khu công nghiệp,
nhà máy, xí nghiệp; hồ chứa nước; hệ thống cấp thoát nước trong đô thị, hệ
thống xử lý chất thải rắn,…
quan.
Hình 1.1. Công trình xây dựng cao ốc văn phòng Pacific gây sập dãy
nhà của Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ
2. Sự cố sập mái vòm Trung tâm hội nghị quốc tế và tiệc cưới Cần Thơ.
Theo Báo Người lao động (06/10/2015), vào lúc 13 giờ 35 phút, ngày 3/10/2015,
thuộc khu du lịch sông Hậu, cồn Cái Khế, phường Cái Khế, quận Ninh Kiều,
thành phố Cần Thơ đã khiến một người chết, bốn người bị thương. Theo cơ quan
chức năng, công trình xây dựng sai phép lần thứ 2.
6
Nguyên nhân được xác định do chủ đầu tư công trình xây dựng sai thiết kế
được được cấp, điều đáng lưu ý là khi cơ quan chức năng phát hiện công trình sai
phép (chủ đầu tư đã tự ý cho xây công trình thành hình chữ nhật 2 mặt, diện tích
tăng lên 6.808 m2) đã lập biên bản, đình chỉ thi công để chủ đầu tư thực hiện thủ
tục điều chỉnh giấy phép và được cấp lại giấy phép cho chủ đầu tư với diện tích
điều chỉnh là 6.868 m2, các nội dung khác vẫn giữ nguyên. Tuy nhiên, khi xây
dựng, chủ đầu tư tiếp tục sai phạm, cho thi công 2 cửa phụ của nhà hàng được
dịch chuyển vào trong một nhịp cột, khoảng 5m; độ cao mái vòm cũng được
nâng lên nhưng không có seno đối trọng bên trong. Sự việc trên được giới
chuyên môn đánh giá rất nguy hiểm, làm cho mái vòm nằm lệch khỏi vị trí đấu
nối sắt vào đà bêtông trần. Đây có thể là nguyên nhân dẫn đến lệch tâm chịu lực,
gây sập khi tháo dàn chống đỡ bên dưới.
Hình 1.2. Hiện trường vụ sập mái vòm Trung tâm
hội nghị quốc tếvà tiệc cưới Cần Thơ
Bài học kinh nghiệm từ những sự cố:
Bất kỳ một sự cố công trình hay một tai nạn nghề nghiệp nào trong xây
xét tác động tương hỗ giữa nền, móng và kết cấu bên trên;
đ) Không tính hoặc tính không đúng độ lún công trình;
e) Giải pháp nền móng sai như:
8
- Quá tải đối với đất nền: Quá tải đối với đất nền là trường hợp đối với tiêu
chuẩn giới hạn thứ nhất (về độ bền) đã không đạt. Thường xảy ra đối với các lớp
đất yếu hoặc thấu kính bùn xen kẹp, và một số trường hợp đất đắp tôn nền không
được xem là một loại tải trọng, cùng với tải trọng của công trình truyền lên đất
nền bên dưới và gây cho công trình những độ lún đáng kể.
- Bố trí nhiều dạng móng dưới cùng một công trình, móng đặt ở những độ
sâu khác nhau. Độ lún của các móng khác nhau dẫn đến công trình bị lún lệch.
- Khi xây dựng công trình mới cạnh công trình cũ sẽ xảy ra hiện tượng ứng
suất dưới nền tăng làm cho công trình bị lún.
2. Sự cố công trình liên quan đến chất lượng thiết kế phần thân
Trong công tác thiết kế kết cấu phần thân công trình thường gặp những sai
sót có thể dẫn đến những sự cố đáng tiếc ngoài mong muốn như:
a) Sai sót về kích thước:
Trong bước thiết kế kỹ thuật việc tính toán thiết kế kết cấu thường được
phân ra để thiết kế. Tuy nhiên, đối với công trình có quy mô lớn công việc này
được phân ra thành các nhóm kỹ sư chuyên ngành hẹp, các nhóm này tiến hành
thiết kế một cách độc lập, các phần việc chuyên nghành này chỉ được giáp nối
khi các nhóm đã cơ bản hoàn thành xong phần việc của mình. Vấn đề bất cập ở
chỗ khi các phần việc được giáp nối thông qua các bản vẽ không chính thức,
hoặc các bản vẽ nhỏ, khó đọc. Chính những điều này đã gây ra những nhầm lẫn
đáng tiếc trong tính toán thiết kế kết cấu công trình.
b) Sai sót do sơ đồ tính toán:
Trong tính toán kết cấu, con người được sự hỗ trợ rất nhiều của các phần
trình.
g) Sai sót từ việc thiết kế sửa chữa và cải tạo công trình cũ:
Các công trình xây dựng thường có tuổi thọ từ hàng chục năm đến trăm
năm. Trong quá trình sử dụng và khai thác công trình, thì mục đích sử dụng
nhiều khi có những thay đổi so với thiết kế ban đầu, để đáp ứng nhu cầu sử dụng,
10
phải sửa chữa, cải tạo, nâng cấp công trình hiện có để thay đổi tính năng, quy mô
đáp ứng được chức năng mới mà sử dụng yêu cầu. Trong quá trình thiết kế,
nhiều khi các nhà thiết kế đã không xác định tuổi thọ còn lại của công trình cần
cải tạo, tuổi thọ của phần công trình được để lại của công trình cải tạo, xem tuổi
thọ của chúng còn tương đương với tuổi của phần công trình được nâng cấp cải
tạo hay không dẫn đến tình trạng tuổi thọ của từng phần của công trình được cải
tạo không đồng đều và tuổi thọ của toàn bộ công trình bị giảm.
Đồng thời, Nhà thiết kế chưa quan tâm đến sơ đồ chịu lực của công trình cũ
và sơ đồ chịu lực của công trình sau khi cải tạo. Sự khác biệt quá xa của sơ đồ
kết cấu mới sau khi cải tạo và sơ đồ kết cấu của công trình cũ, đã dẫn đến sự can
thiệp quá sâu vào kết cấu của công trình cũ và dẫn đến sự cố của công trình xây
dựng.
1.2. Nguyên nhân của sự cố và sự suy giảm chất lượng công trình xây dựng
do thiết kế
Đặc tính khác biệt của sản phẩm xây dựng (công trình xây dựng) với các
sản phẩm tiêu dùng khác bởi giá trị lớn, tuổi thọ cao và là loại sản phẩm riêng
biệt ít khi trùng lặp. Người sử dụng ít có kiến thức, kinh nghiệm vì có khi cả đời
chỉ làm chủ một vài sản phẩm (nhà cửa). Chính vì vậy, không thể xem các công
trình xây dựng như những loại sản phẩm bình thường, đồng thời còn cần có
chính sách cụ thể góp phần nâng cao chất lượng công trình xây dựng, đặc biệt ở
khâu thiết kế, hiện còn nhiều vấn đề phải bàn.
thuật và các chỉ số tự nhiên được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ban hành hoặc
công nhận để áp dụng trong hoạt động xây dựng. Tiêu chuẩn xây dựng gồm tiêu
chuẩn bắt buộc áp dụng và tiêu chuẩn khuyến khích áp dụng.
Tuy nhiên, trên thực tế một số tác giả chưa quan tâm, chưa áp dụng quy
chuẩn, tiêu chuẩn thiết kế, một số khác thì áp dụng sai quy chuẩn, tiêu chuẩn
thiết kế dẫn đến những sự cố đáng tiếc trong quá trình thi công, vận hành khai
12
thác, sử dụng… Những sai sót thông thường do chưa áp dụng hoặc áp dụng sai
quy chuẩn, tiêu chuẩn thiết kế như: Thiết kế lan can (ban công, ô thang) các công
trình cao tầng bố trí các thanh ngang rất nguy hiểm đối với trẻ em hay leo trèo;
áp dụng sai quy chuẩn về thiết kế hệ thống cửa đi cho các công trình công cộng
thiết kế mở vào rất nguy hiểm khi công trình gặp sự cố cháy, nổ; tiêu chuẩn thiết
kế hệ thống điện không hợp lý rất nguy hiểm khi va chạm đối với trường hợp đặt
thấp,…
Mặc khác, do mỗi quốc gia có quy chuẩn xây dựng khác nhau do có các quy
định cho các thông số kỹ thuật ở mỗi công trình là khác nhau. Đôi khi một số tác
giả chọn quy chuẩn, tiêu chuẩn thiết kế của một số quốc gia khác dùng cho công
tác thiết kế xây dựng tại Việt Nam mà không am tường các điều kiện khí hậu, địa
lý, địa chất thủy văn từng vùng, miền của Việt Nam.
1.2.2. Nguyên nhân do phương án thiết kế
Phương án thiết kế không phù hợp có thể dẫn đến sự cố đáng tiếc, trong
thiết kế xây dựng các phương pháp thiết kế phải phù hợp với trình tự thiết kế,
tuân thủ các quy định cơ bản, quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng.
Thực tế không ít trường hợp tác giả thiết kế chọn lựa phương án thiết kế nền
móng không hợp lý gây ra sự cố cho chính công trình đang thi công hoặc các
công trình lân cận. Một số dự án đầu tư xây dựng do chọn lựa phương án thiết kế
không phù hợp nên không thu hút được nguồn vốn đầu tư, làm chậm tiến độ, kéo
dẫn tới những sai sót gây hư hỏng cho công trình.
Một số người thiết kế khi lựa chọn các yêu cầu về cấu tạo cho công trình lại
chọn giải pháp cấu tạo lớn hơn quá nhiều so với yêu cầu trong tiêu chuẩn hoặc
các quy định. Ví dụ lớp bê tông bảo vệ cốt thép cho dầm trong trường hợp ngoài
nhà (gần nơi ẩm thấp) là 25mm và đường kính cốt thép lớn nhất nhưng do người
thiết muốn an toàn cho kết cấu lại chọn lớp bảo vệ lớn hơn yêu cầu vô tình đã
làm giảm chiều cao làm việc của cấu kiện dẫn đến làm giảm khả năng làm việc
của cấu kiện.
14
3. Sai sót do không coi trọng giải pháp cấu tạo
Trong tính toán kết cấu bê tông cốt thép có những loại tải trọng và tác động
chúng ta không kể đến trong quá trình tính toán như: hiện tượng co ngót, từ biến,
lún lệch... mà được giải quyết bằng các giải pháp cấu tạo như: bố trí khe nhiệt,
khe lún, thép cấu tạo... Điều đó cho thấy việc các giải pháp cấu tạo là rất quan
trọng, nếu các kết cấu không có các giải pháp cấu tạo có thể dẫn đến những hư
hỏng cho kết cấu.
4. Sai sót do chỉ định vật liệu thiết kế không phù hợp
Vật liệu sử dụng trong kết cấu bê tông cốt thép chủ yếu chỉ gồm 2 phần
chính là bê tông và cốt thép:
- Với vật liệu bê tông nếu cường độ không đủ, ngoài làm ảnh hưởng đến khả
năng chịu lực của kết cấu còn làm giảm tính chống thấm, độ bền của kết cấu.
Thông thường nguyên nhân chủ yếu dẫn đến chỉ định cường độ bê tông không đủ
do nguyên nhân thiết kế là:
+ Chỉ định tỉ lệ cấp phối bê tông không tốt trong khi nó là một nhân tố quan
trọng quyết định chất lượng của bê tông trong đó tỉ lệ nước – xi măng, cũng như
lượng nước dùng, tỉ lệ cát, sỏi...
+ Chất lượng vật liệu được thiết kế cho cấp phối bê tông không đảm bảo
nhiều khi các nhà thiết kế đã không xác định tuổi thọ còn lại của công trình cần
cải tạo, tuổi thọ của phần công trình được để lại của công trình cải tạo, xem tuổi
thọ của chúng còn tương đương với tuổi của phần công trình được nâng cấp cải
tạo hay không dẫn đến tình trạng tuổi thọ của từng phần của công trình được cải
tạo không đồng đều và tuổi thọ của toàn bộ công trình bị giảm. Đồng thời nhà
thiết kế chưa quan tâm đến sơ đồ chịu lực của công trình cũ và sơ đồ chịu lực của
công trình sau khi cải tạo. Sự khác biệt quá xa của sơ đồ kết cấu mới sau khi cải
tạo và sơ đồ kết cấu của công trình cũ, đã dẫn đến sự can thiệp quá sâu vào kết
cấu của công trình cũ và dẫn đến sự cố của công trình xây dựng.
1.2.3. Nguyên nhân do số liệu đầu vào của hồ sơ khảo sát
16
Những sai sót thường mắc phải trong công tác khảo sát địa chất như:
- Không phát hiện được hoặc phát hiện không đầy đủ quy luật phân bố theo
chiều rộng và theo chiều sâu các phân vị địa tầng, đặc biệt các đất lớp yếu hoặc
các đới yếu trong khu vực xây dựng và khu vực liên quan khác;
- Khoảng cách khảo sát giữa các lỗ khoan quá lớn nên không thể phản ánh
chính xác tình hình thực tế của các lớp đất về thế nằm và vị trí của nó trong nền
đất dẫn đến nhầm lẫn trong việc dùng giải pháp móng không thích ứng như chọn
chiều dài cọc không đúng, đặt vị trí khe lún không phải tại nơi có biến đổi chiều
dày và tính chất đất nền…. Điển hình công trình xây dựng trụ sở làm việc Ủy
ban nhân dân xã Thuận An, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long (xây dựng năm
2012). Do công tác khảo sát địa kỹ thuật sơ sài, thiếu sự hiểu biết về nền đất;
đánh giá sai về các chỉ tiêu cơ lý của nền đất không phát hiện đầy đủ quy luật
phân bố theo chiều rộng và theo chiều sâu các lớp đất yếu, đánh giá các đặc
trưng tính chất xây dựng của các phân vị địa tầng có mặt trong khu vực xây dựng
không chính xác, dẫn đến phát sinh thiết kế chiều dài cọc từ 25m ban đầu tăng
lên 37m cho toàn bộ cọc gia cố đối với công trình. Tuy chi phí phát sinh không
dâng cao hoặc hạ thấp, thay đổi lớn về nhiệt độ, ảnh hưởng sinh vật học và hóa
học hoặc do tổng hợp các nguyên nhân trên cùng các hiện tượng khác. Những
điều này có liên quan đến công tác khai thác và bảo trì công trình cũng như giữ
gìn môi trường địa chất không bị biến đổi bất lợi cho công trình.
- Không điều tra, khảo sát công trình lân cận và các tác động ăn mòn của
môi trường…;
Những sai sót trên thường dẫn đến những tốn kém khi phải khảo sát lại (nếu
phát hiện trước thiết kế), thay đổi thiết kế (phát hiện khi chuẩn bị thi công). Còn
nếu không phát hiện được thì thiệt hại là không thể kể được khi đã đưa công
trình vào sử dụng.
1.2.4. Nguyên nhân do năng lực thiết kế