MỞ ĐẦU
Sau khi chính thức gia nhập WTO vào năm 2007, kinh tế Việt Nam đã bước sang
một trang sử mới với sự phát triển vượt bậc về mọi mặt. Việt Nam đã được đánh giá
là một “con hổ” của nền kinh tế Châu Á. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn phải đối mặt với
rất nhiều vấn đề nan giải như: lạm phát, mất giá đồng nội tệ, nhập siêu cao Đặc biệt
trong thời gian gần đây, việc tỷ giá hối đoái giữa VND và USD tăng cao đã có những
tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế Việt Nam theo cả hai mặt tốt vàxấu.
Tỷ giá hối đoái xuất hiện và phát triển cùng với sự ra đời, phát triển của thương
mại quốc tế, nó có vai trò rất quan trọng là mục tiêu của chính sách tiền tệ mà mọi
quốc gia đều hướng tới. Đồng tiền ổn định và tỷ giá hối đoái hợp lý sẽ tạo điều kiện
cho việc duy trì, mở rộng và phát triển các mối quan hệ kinh tế trong nước và quốc tê,
giúp cho nền kinh tế trong nước có điều kiện hội nhập khu vực và thế giới ngày càng
mạnh mẽ hơn.
Trong đó giữa hai biến số kinh tế lạm phát và tỷ giá hối đoái có mối liên hệ, tác động,
ảnh hưởng qua lại chặt chẽ với nhau. Tất cả những vấn đề đó đã thôi thúc chúng em
đi vào và tìm hiểu đề tài “Lạm phát ảnh hưởng như thế nào đến tỷ giá hối đoái tại
Việt Nam giai đoạn 2008-2013”
PHẦN I:CƠ SỞ LÝ LUẬN
I. Tính cấp thiết của đề tài.
Lạm phát và tỷ giá hối đoái là hai biến số kinh tế quan trọng của không chỉ của
một quốc gia nào. Lịch sử đã chứng minh sự ảnh hưởng mạnh mẽ của chúng đến sự
phát triển kinh tế thế giới. Không những lạm phát và tỷ giá hối đoái có thể tác động
đến mọi hoạt động kinh tế mà chúng còn chịu sự tác động qua lại lẫn nhau. Sự tác
động này làm cho diễn biến của chúng ngày càng biểu hiện khó lường, gây khó khăn
cho công tác kiểm soát vĩ mô nền kinh tế của Chính Phủ.
Trước tình hình thế giới có nhiều thay đổi như hiện nay thì vấn đề ổn định nền
kinh tế luôn là mục tiêu cấp thiết hàng đầu của các quốc gia. Bởi vậy, nắm bắt được
quy luật về mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ giá hối đoái sẽ giúp cho chính phủ các
nước có những chính sách kinh tế phù hợp, tạo nên một sự phát triển kinh tế ổn định
và tích cực hơn.
II.Các khái niệm.
Ví dụ: Trước năm 1970, nội dung vàng của một đồng bảng Anh (GBP) là
2.4888281 gram vàng nguyên chất, 1USD là 0.888671 gram vàng nguyên chất. Như
vậy 1GBP = 2.8 USD (2.488281: 0.888671).
* Ngày nay, khi giấy bạc ngân hàng của các nước không được tự do chuyển đổi ra
vàng: tỉ giá được hình thành dựa trên sức mua của các đồng tiền, hay còn gọi là ngang
giá sức mua.
2.1.5 Phân loại tỷ giá.
Tùy vào mục đích sử dụng, tỉ giá được phân chia theo các tiêu thức khác nhau.
2.1.5.1 Căn cứ vào phương tiện chuyển hối
* Tỉ giá điện hối: Là tỉ giá mua bán ngoại tệ, cũng như các giấy tờ có giá bằng ngoại
tệ được chuyển bằng điện.
* Tỉ giá thư hối: Là tỉ giá mua bán ngoại tệ, cũng như các giấy tờ có giá bằng ngoại
tệ được chuyển bằng thư.
2.1.5.2 Căn cứ vào thời điểm mua bán ngoại tệ
* Tỉ giá mở cửa: Là tỉ giá áp dụng cho việc mua bán món ngoại tệ đầu tiên trong
ngày làm việc tại các trung tâm hối đoái.
* Tỉ giá đóng cửa: Là tỉ giá áp dụng cho mua bán món ngoại tệ cuối cùng trong ngày
làm việc tại các trung tâm hối đoái.
2.1.5.3. Căn cứ vào phương thức mua bán, giao nhận ngoại tệ
* Tỉ giá giao nhận ngay: Là tỉ giá mua bán ngoại tệ mà việc giao nhận chúng sẽ thực
hiện chậm nhất sau 2 ngày làm việc.
* Tỉ giá giao nhận có kì hạn: Là tỉ giá mua bán ngoại tệ mà việc giao nhận chúng
được thực hiện sau một khoảng thời gian nhất định.
2.1.5.4. Căn cứ vào chế độ quản lí ngoại hối
* Tỉ giá hối đoái chính thức: Là tỉ giá do Nhà nước công bố thường là Ngân hàng
Trung ương.
* Tỉ giá tự do: Là tỉ giá được hình thành tự phát và diễn biến theo quan hệ cung cầu
về ngoại tệ trên thị trường. Tỷ giá tự do hay còn gọi là tỷ giá trên thị trường chợ đen.
2.1.6 Chính sách tỉ giá hối đoái
2.1.6.1. Định nghĩa:
độ khác nhau:
- Lạm phát vừa phải:
Loại lạm phát này xảy ra khi giá cả hàng hóa tăng chậm ở mức độ 1 con số hàng năm
( dưới 10% một năm ). Lạm phát vừa phải còn gọi là lạm phát nước kiệu hay lạm phát
một con số. Loại lạm phát này thường được các nước duy trì như một chất xúc tác để
thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
- Lạm phát cao:
Loại lạm phát này xảy ra khi giá cả hàng hóa tăng ở mức độ hai con số hàng năm ( từ
10%-100% một năm). Lạm phát cao còn đươc gọi là lạm phát phi mã. Thật ra, cũng
có một số nhà kinh tế quan điểm cho rằng thuộc loại lạm phát phi mã bao gồm cả lạm
phát ở mức độ ba con số ( như 100%, 200% ). Lạm phát phi mã gây ra nhiều tác hại
đến sự phát triển kinh tế-xã hội.
- Siêu lạm phát:
Loại lạm phát này xảy ra khi giá cả hàng hóa tăng ở mức độ ba con số hàng năm trở
lên. Siêu lạm phát còn được gọi là lạm phát siêu tốc. Không có điều gì là tốt khi nền
kinh tế rơi vào tình trạng siêu lạm phát.
2.2.2. Các nguyên nhân gây ra lạm phát.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng lạm phát, trong đó "lạm phát do
cầu kéo" và "lạm phát do chi phí đẩy" được coi là hai thủ phạm chính.
Cân đối thu chi là điều không thể tránh khỏi khi xảy ra lạm phát.
- Lạm phát do cầu kéo:
Khi nhu cầu của thị trường về một mặt hàng nào đó tăng lên sẽ kéo theo sự tăng lên
về giá cả của mặt hàng đó. Giá cả của các mặt hàng khác cũng theo đó leo thang, dẫn
đến sự tăng giá của hầu hết các loại hàng hóa trên thị trường. Lạm phát do sự tăng lên
về cầu (nhu cầu tiêu dùng của thị trường tăng) được gọi là “lạm phát do cầu kéo”.
- Lạm phát do chi phí đẩy:
Chi phí đẩy của các doanh nghiệp bao gồm tiền lương, giá cả nguyên liệu đầu vào,
máy móc, chi phí bảo hiểm cho công nhân, thuế Khi giá cả của một hoặc vài yếu tố
này tăng lên thì tổng chi phí sản xuất của các xí nghiệp chắc chắn cũng tăng lên, vì
thế mà giá thành sản phẩm cũng sẽ tăng lên nhằm bảo toàn lợi nhuận và thế là mức
2.3.Mối quan hệ giữa tỷ giá với lạm phát
Lạm phát ảnh hưỏng như thế nào đến tỷ giá hối đoái?
Khi một nước có lạm phát, sức mua đồng nội tệ giảm, với tỷ giá hối đoái không
đổi, hàng hoá dịch vụ trong nước đắt hơn trên thị trường nứơc ngoài trong khi hàng
hoá dịch vụ nước ngoài rẻ hơn trên thị trường trong nứơc. Theo quy luật cung cầu, cư
dân trong nước sẽ chuyển sang dùng hàng ngoại nhiều hơn vì giá rẻ hơn, nhập khẩu
tăng, cầu ngoại tệ tăng, tỷ giá hối đoái tăng. Tương tự vì tăng giá, cư dân nước ngoài
sẽ dùng ít hàng nhập khẩu hơn. Hoạt động xuất khẩu giảm sút, cung ngoại tệ trên thị
trường giảm, tỷ giá hối đoái tăng. Như vậy lạm phát ảnh hưởng đến cả cung và cầu
ngoại tệ theo hướng tăng giá ngoại tệ, tác động cộng gộp làm cho tỷ giá hối đoái tăng
nhanh hơn. Trên thị trưòng tiền tệ, lạm phát làm đồng tiền mất giá, người dân sẽ
chuyển sang nắm giữ các tài sản nước ngoài nhiều hơn, cầu ngoại tệ gia tăng đẩy tỷ
giá hối đoái tăng.
Trong trường hợp các quốc gia đều có lạm phát thì những tác động trên sẽ phụ
thuộc vào tỷ lệ lạm phát tương đối giữa các quốc gia. Quốc gia nào có tỷ lệ lạm phát
cao hơn, đồng nội tệ quốc gia đó sẽ mất giá một cách tương đối và tỷ giá hối đoái
tăng.
Khi mức độ phá giá của tiền tệ lớn hơn sự mất giá của hàng hóa, lạm phát sẽ
gia tăng. Khi mức độ mất giá của tiền tệ thấp hơn sự mất giá của hàng hóa, lạm phát
sẽ được hạn chế. Bởi vậy khi lạm phát trầm trọng, tăng tỷ giá có thể hạn chế được
lạm phát.” Quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và lạm phát không phải là quan hệ một chiều
mà là quan hệ vòng, tác động qua lại lẫn nhau, không thể coi cái này là nguyên nhân
và cái kia là kết quả”.
Ví dụ mức tỷ giá hối đoái năm 2010
1USD=19800VND
Đến năm 2013 là 1USD=21000VND,thì tất cả các sản phẩm nhập khẩu tính
thành tiền Việt Nam đều tăng giá, trong đó có nguyên vật liệu, máy móc cho sản xuất.
Nếu các yếu tố khác trong nền kinh tế không thay đổi , thì điều này tất yếu sẽ làm mặt
bằng giá cả trong nước tăng lên.
Đồng USD mất giá, VND được neo vào USD cũng mất giá theo (thậm chí cả
mới mở cửa từng phần, những hạn chế này phần nào đã không được bộc lộ và chưa
gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Nhưng nếu tiếp tục để xảy ra như vậy trong
tương lai, khi Việt Nam đã mở cửa và hội nhập mạnh hơn thì hậu quả của một chính
sách tỷ giá kém linh hoạt sẽ có nguy cơ lấn át những tác động tích cực mà một chính
sách tỷ giá cố định tương đối tạo ra. Dưới góc nhìn của các chuyên gia kinh tế, Việt
Nam cần kiềm chế lạm phát bằng cách tăng cường hơn nữa các biện pháp trong chính
sách tỷ giá hối đoái.
Tăng cường linh họat tỷ giá hối đoái. Hiện tại, biên độ dao động tỷ giá mới ở
Việt Nam chỉ là ±2% . Theo ý kiến của các chuyên gia, mức biên độ này vẫn còn
tương đối hẹp và chưa thật sự hiệu quả. Với tình hình ở lạm phát cao Việt Nam hiện
nay, NHTW nên nới rộng biên độ dao động của VNĐ, chiều rộng khung này có thể ở
mức 10%. Tuy nhiên, do tình hình lạm phát tăng cao nên biện pháp này chủ yếu nhằm
mục đích nâng giá VNĐ trong ngắn hạn. Giảm việc phát hành VNĐ làm cho cơ chế
thị trường tác động nhiều hơn nữa vào tỷ giá. Giảm sức ép lên lạm phát bằng việc
nâng giá VNĐ tương đối so với USD sẽ làm giảm giá nguyên vật liệu nhập khẩu .
Một điều băn khoăn lớn nhất hiện nay là tại sao chúng ta làm ra lương thực, thực
phẩm mà giá lại tăng cao như vậy. Nguyên nhân chính là do giá đầu vào như: xăng
dầu, giống, phân bón, thuốc trừ sâu tăng và phần lớn những nguyên liệu đầu vào
này đều nhập khẩu. Vậy làm thế nào để chúng ta giảm giá lương thực, thực phẩm? Có
2 cách để giải quyết vấn đề này : Một là, tiến hành điều chỉnh tỷ giá tức là nâng giá
VNĐ trên thị trường ngoại hối. Hai là, phải tự sản xuất trong nước. Tuy nhiên, nền
kinh tế của nước ta hiện nay còn phụ thuộc vào nước ngoài quá nhiều. Vì vậy, chúng
ta chỉ có thể chọn giải pháp nâng giá VNĐ so với USD để giảm giá nguyên vật liệu
nhập khẩu, từ đó giảm được chi phí sản xuất, 1 trong 2 nguyên nhân chủ yếu gây ra
lạm phát trong thời gian vừa qua. VND tăng giá sẽ tăng cung hàng nội địa, góp phần
giảm khan hiếm hàng hóa trong nước hiện nay .Khi lượng cung hàng tăng, lạm phát
cũng sẽ giảm dẫn đến việc thay đổi tỷ giá có khả năng hạn chế xuất khẩu nhằm bảo vệ
sản xuất trong nước trước sự cạnh tranh của nước ngoài. Đồng thời việc thay đổi tỷ
giá theo hướng ngăn chặn việc nhập khẩu tràn lan những hàng hoá, dịch vụ mà trong
nước có khả năng sản xuất được, góp phần giảm bớt căng thẳng về cầu ngoại tệ phục
Chỉ trong năm 2008, biên độ tỷ giá đã được điều chỉnh 5 lần, một mật độ chưa
từng có trong lịch sử. Tỷ giá liên tục tăng giảm,cụ thể ở từng giai đoạn sau:
Giai đoạn từ tháng 01/01-25/03/2008 : Trong khoảng thời gian này, Chính phủ và
NHNN đang đẩy mạnh việc kiềm chế lạm phát, sử dụng biện pháp tiền tệ thắt chặt,
tăng lãi suất cơ bản từ 8,25%/năm (tháng 12/2007) lên 8,75%/năm (tháng 2/2008).
NHNN không thực hiện mua ngoại tệ USD nhằm hạn chế việc bơm tiền ra lưu thông,
tăng biên độ tỷ giá USD/VND từ 0,75%/năm lên 1%/năm trong ngày 10/03/2008.Tỷ
giá liên tục giảm,dưới mức sàn.
Tỷ giá USD/VND trên thị trường liên ngân hàng liên tục sụt giảm (từ mức
16.112 đồng xuống 15.960 đồng. mức thấp nhất là 15.560 đồng/USD). Trên thị
trường tự do, USD dao động từ mức 15.700 – 16.000 đồng/USD
Giai đoạn 2 (từ 26/03 – 16/07/2008): Tăng với tốc độ chóng mặt tạo cơn sốt
USD trên cả thị trường liên ngân hàng lẫn thị trường tự do.Trong giai đoạn này, tỷ giá
tăng dần đều và đột ngột tăng mạnh từ giữa tháng 6, đỉnh điểm lên đến 19.400
đồng/USD vào ngày 18/06, cách hơn 2.600 đồng so với mức trần, còn trên TTTD cao
hơn khoảng 100-150 đồng, sau đó dịu lại khi NHNN nới biên độ từ 1% lên +/-
2%(27/6) và kiểm soát chặt các bàn thu đổi.
Nguyên nhân USD tăng mạnh trong giai đoạn này chủ yếu do tâm lý bất ổn của
doanh nghiệp và người dân khi thấy USD tăng nhanh dẫn đến trạng thái găm ngoại tệ
của giới đầu cơ. Nhu cầu mua ngoại tệ trả các khoản nợ của cả DN xuất và nhập khẩu
đến hạn cao; Tăng nhập khẩu vàng do chênh lệch lớn giữa giá vàng trong nước và
quốc tế.
Giai đoạn 3 (từ 17/07 – 15/10/2008 ): Giảm mạnh và dần đi vào bình ổn.
Tỷ giá giảm mạnh từ 19.400 đồng/USD xuống 16.400 đồng/USD và giao dịch
bình ổn quanh mức 16.600 đồng trong giai đoạn từ tháng 8 – tháng 11
Nhờ có sự can thiệp kịp thời của NHNN, cơn sốt USD đã được chặn đứng.
Nhận thấy tình trạng sốt USD đã ở mức báo động, lần đầu tiên trong lịch sử, NHNN
đã công khai công bố dự trữ ngoại hối quốc gia 20,7 tỷ USD khi các thông tin trên thị
trường cho rằng USD đang trở nên khan hiếm.
Đồng thời lúc này, NHNN đã ban hành một loạt các chính sách nhằm bình ổn
bền vững của cán cân thanh toán quốc tế, đồng thờ hạn chế tâm lý kỳ vọng tỷ giá sẽ
tăng cao, tạo điều kiện cho doanh nghiệp xây dựng phương án sản xuất kinh doanh ổn
định. NHNN sẽ áp dụng các biện pháp cần thiết để giữ ổn định mức tỷ giá này. Từ
ngày 07/11/2008, biên độ tỷ giá giao dịch USD/VND được mở rộng từ mức 2% lên
3% so với tỷ giá bình quân liên ngân hàng do NHNN Việt Nam công bố (quyết định
2635/QĐ-NHNN ngày 06/11/2008).
Trong năm 2009: Trong bối cảnh kinh tế hội nhập ngày càng sâu rộng vào kinh
tế thế giới, mức độ tự do hóa các giao dịch vốn tương đối cao, biến động của các
luồng vốn đầu tư, đặc biệt là luồng vốn gián tiếp đã ảnh hưởng mạnh tới cung cầu
ngoại tệ và tỷ giá. Luồng vốn đầu tư gián tiếp đã liên tục biến động, khiến cho cung
cầu ngoại tệ mất cân đối. Luồng vốn này gia tăng đáng kể trong 3 thàng đầu năm, gây
áp lực tăng giá VND, sau đó có dấu hiệu đảo chiều làm tăng cầu ngoại tệ khi tình hình
kinh tế thế giới tiếp tục khó khăn, kinh tế trong nước đối mặt với lạm phát, nhập siêu
tăng cao. Sau khi có dấu hiệu tăng nhẹ trở lại do kinh tế vĩ mô Việt Nam diễn biến
khả quan, trong các tháng cuối năm tình trạng khủng hoảng thị trường tài chính quốc
tế lại khiến cho các nhà đầu tư có xu hướng rút vốn về nước để bảo đảm thanh toán
của các tổ chức ở chính quốc.
Lạm phát là sự giảm sức mua của đồng tiền so với hàng hóa và dịch vụ trong
nước, và là sự giảm giá đồng nội tệ so với ngoại tệ chuẩn (là phương tiện thanh toán,
tích trữ quốc tế). Lạm phát ở Việt Nam chịu tác động từ 5 nguyên nhân chính sau: Kỳ
vọng lạm phát (ví dụ do tỷ giá tăng, vàng lên giá, lãi suất trái phiếu chính phủ ở mức
cao…); Tiền tệ (do tăng cung tiền trong lưu thông…); Cầu kéo (do tổng cầu cao hơn
tổng cung…); Chi phí đẩy (do tăng giá nhập khẩu nguyên vật liệu …); Đình đốn sản
xuất (do chi phí vốn cao trong một thời gian dài…)
Việc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) không công bố một cách rõ ràng về định
hướng chính sách tiền tệ (nới lỏng hay thắt chặt) và tỷ giá đã tạo cơ hội cho việc dự
đoán chính sách một cách chủ quan, thiếu cơ sở, tạo tâm lý không ổn định cho cộng
đồng doanh nghiệp và dân cư. Điều này thường bị lợi dụng để đẩy giá hàng hóa (bao
gồm cả USD và vàng) lên cao hơn và kỳ vọng lạm phát theo đó cũng gia tăng. Một
trong những động lực quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng ở Việt Nam là đầu tư. Do
ra, do đồng VND chưa tự do chuyển đổi nên các hợp đồng kỳ hạn tiền gửi không giao
dịch (NDF - non deliverable forward) hầu như không thể dùng để dự đoán tỷ giá
trong tương lai. Mặc dù vậy, có thể xác định sơ bộ tỷ giá hối đoái thông qua chênh
lệch lạm phát giữa Việt Nam và một quốc gia chuẩn, do về thực chất tỷ giá hối đoái
thể hiện tương quan sức mua giữa hai đồng tiền. Tuy nhiên, tỷ giá hối đoái ở Việt
Nam không được thả nổi theo tín hiệu thị trường mà được điều chỉnh linh hoạt theo
“định hướng” của NHNN. Vì vậy, NHNN có thể can thiệp thị trường dựa trên kho dự
trữ ngoại hối của mình - độ lớn của kho này lại là một con số không được công bố.
Do vậy, không thể định lượng tỷ giá hối đoái, nhưng có thể định tính rằng đồng VND
sẽ còn được điều chỉnh giảm do các nguyên nhân: Thâm hụt thương mại kéo dài;
Thâm hụt cán cân thanh toán tổng thể năm nay lớn, có thể lên đến 4 tỷ USD; Dự trữ
ngoại hối của Việt Nam ở mức thấp; Kỳ vọng tỷ giá còn tăng (dù chênh lệch lãi suất
tiền gửi VND và USD lên đến 7 - 8% nhưng các tổ chức, cá nhân vẫn hạn chế bán
ngoại tệ cho ngân hàng); Bội chi ngân sách lớn, nợ công cao.
Trong năm 2010 ngân hàng Nhà nước đã 2 lần điều chỉnh tỷ giá giao dịch bình
quân liên ngân hàng, tổng cộng hơn 5,5% so với USD. Tỷ giá chợ đen đạt đỉnh
21.400 VND/USD, vượt giá trần chính thức hơn 10%. Việc tỷ giá trên thị trường tự
do tăng liên tục trong năm qua không chỉ là một hoạt động đầu cơ thuần túy, mà cho
thấy một thực trạng rằng đồng VND hiện nay vẫn chưa phản ảnh chính xác (dù là chỉ
là tương đối) giá trị của nó. Để tỷ giá có thể diễn biến ổn định, có định hướng, còn
cần nhiều thời gian (để tạo ổn định tâm lý) cũng như công cụ (để có thể đủ sức tác
động, can thiệp thị trường).
2.2. Giai đoạn 2011-2012.
Khởi đầu năm 2011, kinh tế vĩ mô trong nước phải đương đầu với những bất
ổn lạm phát, tỷ giá… vốn đã khởi phát từ giai đoạn trước đó.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cả nước trong hai tháng 1 và 2 đều duy trì mức tăng kỷ lục
lần lượt là 1.74% và 2.09%, khá cao so với kỳ vọng. Điều này đã phần nào hé lộ bức
tranh kém tươi sáng về tình hình lạm phát trong năm 2011. Nói cách khác, lạm phát
sẽ tiếp tục là thách thức đáng kể nếu không có những biện pháp hữu hiệu để kiềm
chế.
2.3. Giai đoạn những tháng đầu năm 2013.
“Hướng điều hành tỷ giá năm 2013 sẽ giống như năm 2012. Lạm phát là một nỗi ám
ảnh kinh hoàng đối với nền kinh tế èo uột như Việt Nam, do đó các đề nghị phá giá
đồng nội tệ so với USD sẽ nhanh chóng bị bác bỏ vì mục tiêu kiềm chế lạm phát ”
Xu hướng diễn biến của lạm phát trong năm 2013 vẫn còn mịt mù nhiều ẩn số.
Tuy nhiên, có lẽ không quá sớm khi đưa ra những tiên liệu về hướng đi của chính
sách điều hành tỷ giá hối đoái năm nay.
Tình trạng lạm phát năm 2013 sẽ thể hiện nhiều qua CPI (chỉ số giá tiêu dùng)
trong 2 tháng đầu năm. Tháng 1/2013, CPI đã tăng 1,25%; CPI của tháng 2 chỉ tăng
1,32%. Tính trong vòng 10 năm qua, CPI tháng 2/2013 đứng thứ hai về mức tăng
thấp, khi chỉ cao hơn tháng 2/2009 (1,2%). Cần phải thấy rằng, nguyên nhân chỉ số
giá tiêu dùng tháng 2/2013 tăng thấp là do sức mua thấp, người tiêu dùng không thể
mạnh tay chi tiêu; đây là hệ lụy từ việc 52.000 doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân
đã giải thể hoặc phá sản. Các doanh nghiệp còn hoạt động thì chỉ sản xuất được từ
30% đến 40% công suất, thu nhập của người lao động giảm trong năm qua.
Giữa tỷ giá hối đoái và lạm phát có tác động cộng hưởng. Chẳng hạn, căn cứ
theo mô hình định lượng mà giới nghiên cứu tài chính Việt Nam thường sử dụng, nếu
phá giá đồng nội tệ 1% sẽ tác động làm tăng CPI trong ngắn hạn khoảng 0,65% với
độ trễ khoảng 3 tháng (trong điều kiện các nhân tố khác không đổi). Nếu điều chỉnh
tỷ giá USD/VND ở mức tăng 3 - 4% sẽ gián tiếp làm tăng CPI ở mức 1,95 - 2,60%
với độ trễ khoảng 3 tháng. Ngoài ra, mức độ lạm phát của Việt Nam liên quan với
nhiều biến số khác nhau, chẳng hạn như tình hình kinh tế thế giới. Dự báo về tương
lai kinh tế thế giới không giống nhau. Có ý kiến cho rằng, hiện đã có những dấu hiệu
cho thấy sự cải thiện của nền kinh tế thế giới, riêng khu vực Á châu đã có những bước
đi vững vàng hơn. Tuy nhiên, cũng có ý kiến như Ngân hàng Trung ương Hàn quốc
(BOK) thì nhận định trong năm 2013, tình trạng kinh tế yếu kém sẽ kéo dài ở khu vực
sử dụng đồng euro và kinh tế Mỹ chậm phục hồi. Một nền kinh tế còn lệ thuộc nhiều
vào xuất khẩu như Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp từ mức độ hồi phục của kinh tế
thế giới.
Tự bản thân tỷ giá không quyết định được tốc độ tăng trưởng xuất khẩu, vì nếu
2013. Sau hết mọi vấn nạn, vào thời điểm đầu năm hiện nay đã xuất hiện hoàn cảnh
thuận lợi cho lĩnh vực tài chính của Việt Nam. Với lượng dự trữ ngoại tệ khả dĩ, lãnh
đạo Ngân hàng nhà nước có thể chủ động điều chỉnh tỷ giá theo nhiều hướng: giảm,
giữ ổn định, hay để VND tăng giá so với USD.