BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
CÔNG TY XI MĂNG HÀ TIÊN I – TRẠM NGHIỀN PHÚ HỮU
PHẦN I:
TỔNG QUAN VỀ TRẠM NGHIỀN
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Anh Nhóm SVTH: 08CDHH
1
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
CÔNG TY XI MĂNG HÀ TIÊN I – TRẠM NGHIỀN PHÚ HỮU
I. Lịch sử hình thành công ty cổ phần xi măng Hà Tiên I:
Hình 1: Công ty xi măng Hà Tiên trước đây
Công ty xi măng Hà Tiên 1 tiền thân là nhà máy xi măng Hà Tiên do hãng
VENOT.PIC của cộng hòa Pháp cung cấp thiết bị.
Công ty xi măng Hà Tiên 1 là đơn vị chủ lực của Tổng Công Ty Xi Măng
Việt Nam tại Miền Nam. Hơn 40 năm qua, công ty đã cung cấp cho thị trường trên
33.000.000 tấn xi măng các loại với chất lượng cao, ổn định, phục vụ các công
trình trọng điểm cấp quốc gia, các công trình xây dựng công nghiệp và dân dụng.
Năm 1964, Nhà máy chính thức đưa vào hoạt động với công suất ban đầu
là 240.000 tấn clinker/năm tại Kiên Lương, 280.000 tấn xi măng/năm tại nhà máy
Thủ Đức.
Năm 1974, nhà máy xi măng Hà Tiên đã ký thỏa ước tín dụng và hợp tác
với hãng POLYSIUS (Pháp) để mở rộng nhà máy, nâng công suất thiết kế từ
300.000 tấn xi măng/năm lên đến 1.300.000 tấn xi măng/năm. Thỏa ước này sau
giải phóng được chính quyền Cách Mạng trưng lại vào năm 1977.
Năm 1981, nhà máy xi măng Hà Tiên được tách ra thành nhà máy xi măng
Kiên Lương và nhà máy xi măng Thủ Đức. Và đến năm 1983, hai nhà máy được
sáp nhập và đổi tên là nhà máy liên hợp xi măng Hà Tiên.
Ngày 19/08/1986, máy nghiền số 3 chính thức đi vào hoạt động và đến
tháng 2/1991 dây chuyền nung clinker ở Kiên Lương cũng được đưa vào hoạt
động đưa công suất của toàn nhà máy lên 1.300.000 tấn xi măng/năm.
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Anh Nhóm SVTH: 08CDHH
2
công ty xi măng Hà Tiên 1 nắm giữ 30% cổ phần tương đương 14,4 tỷ đồng.
Ngày 06/02/2007, công ty xi măng Hà Tiên 1 đã chính thức làm lễ công bố
chuyển từ doanh nghiệp Nhà nước thành Công ty cổ phần theo quyết định số
1774/QĐ-BXD của Bộ Xây Dựng về việc điều chỉnh phương án cổ phần và
chuyển công ty xi măng Hà Tiên 1 thành công ty cổ phần xi măng Hà Tiên 1 và
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Anh Nhóm SVTH: 08CDHH
3
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
CÔNG TY XI MĂNG HÀ TIÊN I – TRẠM NGHIỀN PHÚ HỮU
chính thức hoạt động theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 4103005941
của Sở Kế Hoạch – Đầu Tư TP.HCM cấp ngày 18/01/2007 với vốn điều lệ ban
đầu là 870 tỷ đồng.
II. Trạm nghiền Phú Hữu:
Trạm nghiền Phú Hữu thuộc tổng công ty cổ phần Hà Tiên 1:
Dự án động thổ ngày: 10-9-2004.
Dự án khởi công ngày: 29-3-2007.
Area: 20 ha.
Bắt đầu sản xuất dây chuyền 1 ngày 5-5-2009, kết thúc 31-8-2009.
Bắt đầu sản xuất thử dây chuyền 2 ngày 22-7-2010, kết thúc 15-10-2010.
Ngày thành lập TNPH 20-7-2009.
Trạm nghiền Phú Hữu: Tổ 8, Khu Phố 4, P.Phú Hữu, Quận 9, Tp. HCM
XN Xây Dựng Hà Tiên 1: Km 8, đường Hà Nội, Tp.Hcm.
Hình 2: Trạm nghiền Phú Hữu.
Vị trí địa lý của Phú Hữu thuận lợi về giao thông cả đường thủy và đường
bộ. Phú Hữu nằm bên cạnh cảng Bến Nghé rất thuận lợi cho việc nhập khẩu
nguyên liệu cũng như xuất hàng. Hệ thống giao thông đường bộ dày đặc tẻ đi
nhiều hướng đều này rất thuận lợi.
III. Các loại xi măng:
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Anh Nhóm SVTH: 08CDHH
4
Philipine, Indonesia và Tam Điệp.
2. Nguyên liệu sản xuất Clinker:
2.1. Đá vôi:
Theo tiêu chuẩn Việt nam TCVN 6072:1996, đá vôi dùng làm nguyên liệu
để sản xuất xi măng poóc lăng phải thoả mãn yêu cầu về hàm lượng của các chất
là: CaCO
3
≥ 85%; MgCO
3
≤ 5%; K
2
O + Na
2
O ≤ 1%.
Thông thường, các nhà máy xi măng ở nước ta đều sử dụng đá vôi có hàm
lượng CaCO
3
= 90 ÷ 98% (CaO = 50 ÷ 55%), MgO < 3% và ô xit kiềm không
đáng kể.
Ngoài đá vôi ra, ở một số nơi hiếm đá vôi có thể sử dụng đá vôi san hô
hoặc vỏ sò nhưng phải khai thác và để lâu ngày cho mưa rửa trôi hết muối NaCl.
Đá phấn có chứa CaCO
3
98 ÷ 99%, có cấu trúc tơi xốp có thể thay cho đá vôi và là
nguyên liệu thích hợp để sản xuất xi măng trắng.
2.2. Nguyên liệu Sét:
Theo TCVN 6071:1996, hỗn hợp sét dùng làm nguyên liệu để sản xuất xi
măng poóclăng phải có hàm lượng các ôxit trong khoảng sau:
SiO
2
O
3
và kiềm cao hơn, nên phải
có nguồn phụ gia cao silic để bổ sung SiO
2
. Việc này trở nên khó hơn khi cần sản
xuất xi măng yêu cầu hàm lượng kiềm thấp.
2.3. Phụ gia điều chỉnh:
2.3.1.
Phụ gia giàu silic
: Để điều chỉnh mô đun silicat (n = S / A + F)
trong trường hợp nguồn sét của nhà máy có hàm lượng SiO
2
thấp, có thể sử dụng
các loại phụ gia cao silic. Các phụ gia thường sử dụng là các loại đất hoặc đá cao
silíc có hàm lượng SiO
2
> 80%. Ngoài ra, ở những nơi không có nguồn đất cao
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Anh Nhóm SVTH: 08CDHH
6
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
CÔNG TY XI MĂNG HÀ TIÊN I – TRẠM NGHIỀN PHÚ HỮU
silic có thể sử dụng cát mịn nhưng khả năng nghiền mịn sẽ khó hơn và SiO
2
trong
cát nằm ở dạng quăczit khó phản ứng hơn nên cần phải sử dụng kèm theo phụ gia
khoáng hoá để giảm nhiệt độ nung clinker.
2.3.2.
Phụ gia giàu sắt:
Để điều chỉnh mô đun aluminat (p = A / F) nhằm
2.3.3.
Phụ gia giàu nhôm:
Cũng dùng để điều chỉnh mô đun aluminat (p)
nhằm bổ sung hàm lượng Al
2
O
3
cho phối liệu trong trường hợp nguồn sét của nhà
máy quá ít nhôm. Nguồn phụ gia cao nhôm thường là quặng bôxit (ở Lạng Sơn,
Cao Bằng, Lâm Đồng) có chứa Al
2
O
3
44 ÷ 58%. Cũng có thể sử dụng cao lanh
hoặc tro xỉ nhiệt điện làm phụ gia bổ sung nhôm, nhưng tỷ lệ dùng khá cao và
hiệu quả kinh tế thấp hơn do phải vận chuyển khối lượng lớn đi xa.
2.4. Phụ gia khoáng hoá:
Để giảm nhiệt độ nung clinker nhằm tiết kiệm nhiên liệu và tăng khả năng
tạo khoáng, tăng độ hoạt tính của các khoáng clinker, có thể sử dụng thêm một số
loại phụ gia khoáng hoá như quặng fluorit, còn gọi là huỳnh thạch (chứa CaF
2
),
quặng phosphorit (chứa P
2
O
5
), quặng barit (chứa BaSO
4
), thạch cao (chứa CaSO
4
, SO
3
,
Mn
2
O
3
, CrO
3
, P
2
O
5
, BaO, K
2
O, Na
2
O.
Các khoáng này có cấu trúc tinh thể khác nhau và quyết định đến tính chất
của clinker
Chất lượng của clinker sẽ quyết định tính chất của xi măng. Thành phần
tổng quát của clinker
• CaO = 62 - 68 %
• SiO
2
= 21 - 24 %
• Al
2
O
3
Ôxit canxi (CaO): Tham gia vào phản ứng tạo các khoáng chính của
clinker (C
3
S, C
2
S, C
3
A, C
4
AF).
Nguồn cung cấp CaO chủ yếu là đá vôi (chứa CaCO
3
). Hàm lượng
CaO trong clinker càng nhiều thì khả năng tạo thành C
3
S càng lớn, khi đóng rắn xi
măng sẽ phát triển cường độ càng nhanh, cho cường độ càng cao.
Tuy nhiên, muốn xi măng có chất lượng cao, yêu cầu hầu hết lượng CaO có
trong clinker phải phản ứng hết với các ôxit khác để tạo thành các khoáng canxi silicat,
canxi aluminat, canxi alumo ferit. Nếu CaO còn lại trong clinker ở dạng tự do (CaO
td
)
lớn hơn 2% sẽ làm cho đá xi măng nở thể tích dẫn đến phá hủy cấu trúc đã bền vững
làm giảm cường độ của nó. Xi măng chứa nhiều CaO tỏa nhiều nhiệt khi đóng rắn
(có thể gây nứt bê tông), kém bền vững trong các môi trường xâm thực và làm giảm
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Anh Nhóm SVTH: 08CDHH
8
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
CÔNG TY XI MĂNG HÀ TIÊN I – TRẠM NGHIỀN PHÚ HỮU
độ bền nước của bê tông.
tạo thành các khoáng canxi aluminat C
3
A và canxi alumo ferit C
4
AF. Nguồn cung
cấp Al
2
O
3
chủ yếu là sét và tro than. Clinker chứa nhiều Al
2
O
3
sẽ cho xi măng có
thời gian đông kết ngắn, tốc độ phát triển cường độ nhanh, cường độ cao, nhưng
tỏa nhiều nhiệt khi đóng rắn và kém bền trong các môi trường xâm thực. Đồng
thời nó làm độ nhớt pha lỏng tăng gây cản trở quá trình tạo khoảng C
3
S. Mặt khác
khi làm lạnh các khoáng aluminat dễ bị phân hủy và tạo ra CaO
tự do
.
Ôxit sắt (Fe
2
O
3
): Là thành phần chính tạo ra chất nóng chảy khi nung phối
liệu. Nhờ chất nóng chảy này mà các phản ứng tạo khoáng clinker xảy ra dễ hơn
và ở nhiệt độ thấp hơn. Fe
2
khoáng và clinker khó kết khối. Vì vậy trong sản xuất cần khống chế chặt chẽ
hàm lượng Fe
2
O
3
trong khoảng cho phép.
Ôxit Magiê (MgO): Là ôxit có hại trong clinker xi măng poóclăng, thường
lẫn trong đá vôi, sét, tro than, v.v Với hàm lượng nhỏ (0,2 ÷ 0,5%) nó tạo thành
dung dịch rắn với khoáng C
3
S làm tăng hoạt tính của khoáng này. Nhưng nếu hàm
lượng MgO quá lớn nó sẽ nằm ở dạng tự do, khi nung ở nhiệt độ cao bị hóa già thành
periclaz. Periclaz phản ứng rất chậm với nước, gây ra nở thể tích và phá vỡ cấu trúc đá
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Anh Nhóm SVTH: 08CDHH
9
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
CÔNG TY XI MĂNG HÀ TIÊN I – TRẠM NGHIỀN PHÚ HỮU
xi măng sau này. Vì vậy, hầu hết các nước đều quy định hàm lượng MgO trong clinker
xi măng không được vượt quá 5 %, riêng Mỹ quy định MgO ≤ 6%.
Các ôxit khác:
Ôxit titan (TiO
2
): Là tạp chất thường có trong sét. Hàm lượng TiO
2
trong
clinker rất nhỏ nhưng lại là tạp chất có lợi cho quá trình tạo khoáng.
Ôxit mangan (Mn
2
O
3
3
S (là khoáng chủ yếu tạo ra cường độ của đá xi măng).
Anhydric sunfuric (SO
3
): Khi nung clinker, lưu huỳnh có trong nhiên liệu
và nguyên liệu bị đốt cháy thành SO
3
và bay hơi theo khói lò gây ô nhiễm môi
trường, có hại cho sức khỏe. SO
3
còn lại trong clinker có tác dụng 2 mặt: Nếu kết
hợp với ôxit kiềm tạo thành K
2
SO
4
và Na
2
SO
4
sẽ ảnh hưởng không tốt tới quá
trình nung (nhất là đối với công nghệ lò quay phương pháp khô) và làm giảm
cường độ của đá xi măng, nếu nằm lại trong clinker ở dạng khoáng sunfoaluminat
thì lại có lợi cho cường độ của đá xi măng.
Ôxit kiềm (Na
2
O, K
2
O): Là tạp chất có hại, chủ yếu do sét đưa vào phối
liệu. Khi nung ở nhiệt độ cao, chúng tạo thành các hợp chất dễ thăng hoa bay theo
khói và bụi làm ảnh hưởng tới hoạt động của lò nung. Phần kiềm còn lại trong
3
, Fe
2
O
3
tạo thành 4 khoáng chính của clinker là:
C
3
S (tricanxi silicat), C
2
S (dicanxi silicat), C
3
A (tricanxi aluminat), C
4
AF
(tetracanxi alumo ferit). Phản ứng hóa học tạo thành các khoáng này có thể đơn
giản hóa như sau:
Hàm lượng của các khoáng này trong clinker xi măng poóc lăng nằm trong
giới hạn sau: C
3
S: 37 ÷ 60%, C
2
S: 15 ÷ 40%, C
3
A: 5 ÷15%, C
4
AF: 10÷18%.
Tổng các khoáng chính chiếm 95 ÷ 97%, trong đó C
3
S + C
S
được tạo thành ở nhiệt độ lớn hơn 1250
0
C do sự tác dụng của CaO với khoáng C
2
S
trong pha lỏng nóng chảy và bền vững đến 2065
0
C (có tài liệu nêu giới hạn nhiệt
độ bền vững của C
3
S từ 1250
0
C ÷ 1900
0
C). Alit có cấu trúc dạng tấm hình lục
giác, màu trắng, có khối lượng riêng 3,15 ÷ 3,25 g/cm
3
, có kích thước 10 ÷ 250
µm.
Khi tác dụng với nước, khoáng Alit thủy hóa nhanh, tỏa nhiều nhiệt, tạo
thành các tinh thể dạng sợi (có công thức viết tắt là CSH
(B)
gọi là Tobermorit) đan
xen vào nhau tạo cho đá xi măng có cường độ cao và phát triển cường độ nhanh.
Đồng thời nó cũng thải ra lượng Ca(OH)
2
khá nhiều nên kém bền nước và nước
chứa ion sunphat.
Khoáng Bêlít (
3
.Fe
2
O
3
viết tắt là C
4
AF
3CaO + Al
2
O
3
= 3CaO.Al
2
O
3
viết tắt là C
3
A
2CaO + SiO
2
= 2CaO.SiO
2
viết tắt là C
2
S
CaO + 2CaO.SiO
2
= 3CaO.SiO
2
. γ- C
2
S không có tính kết dính ở
điều kiện nhiệt độ và áp suất thường, vì vậy để tránh hiện tượng tả clinker do sự
biến đổi thù hình từ β- C
2
S sang γ- C
2
S ở 575
0
C, cần ổn định bằng cách đưa một
số ôxit khác như P
2
O
5
, BaO vào mạng lưới cấu trúc của nó tạo thành dung dịch
rắn.
Khi tác dụng với nước, khoáng Belit thủy hóa chậm, tỏa nhiệt ít và cũng
tạo thành các tinh thể dạng sợi (có công thức viết tắt là CSH
(B)
gọi là Tobermorit)
đan xen vào nhau tạo cho đá xi măng có cường độ cao. Tốc độ phát triển cường độ
của khoáng Belit chậm hơn khoáng Alit, phải sau 1 năm đóng rắn cường độ của
Belit mới bằng của Alit.
Belit thải ra lượng Ca(OH)
2
ít hơn Alit nên nó tạo cho đá xi măng có độ
bền ăn mòn rửa trôi cao hơn đá xi măng Alit.
Khoáng canxi aluminat (C
3
AF): Cũng là chất trung gian, có tỷ trọng 3,77
g/cm
3
, màu đen, nằm xen giữa các hạt Alit và Belit cùng với khoáng C
3
A. Khi
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Anh Nhóm SVTH: 08CDHH
12
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
CÔNG TY XI MĂNG HÀ TIÊN I – TRẠM NGHIỀN PHÚ HỮU
nung clinker, do phản ứng của CaO với Fe
2
O
3
tạo thành các khoáng nóng chảy ở
nhiệt độ thấp (600 ÷ 700
O
C) như CaO.Fe
2
O
3
(CF), C
2
F Sau đó các khoáng này
tiếp tục phản ứng với Al
2
O
3
tạo thành các khoáng Canxi Alumo Ferit có thành
phần thay đổi như C
AF, MgO (periclaz), CaOtd… không kịp kết tinh để
tách khỏi pha lỏng, khi đó pha thuỷ tinh sẽ nhiều. Ngược lại, nếu làm lạnh chậm
thì pha thuỷ tinh sẽ ít. Khi làm nguội nhanh, các khoáng sẽ nằm trong pha thuỷ
tinh ở dạng hoà tan nên có năng lượng dự trữ lớn làm cho clinker rất hoạt tính và
sẽ tạo cho đá xi măng có cường độ ban đầu cao. Khi làm lạnh chậm, các khoáng
sẽ kết tinh hoàn chỉnh, kích thước lớn nên độ hoạt tính với nước sẽ giảm, hơn nữa
MgO và CaO tự do sẽ kết tinh thành các tinh thể độc lập, bị già hoá nên dễ gây ra
sự phá huỷ cấu trúc của đá xi măng, bê tông về sau.
Khoáng Alit (C
54
S
16
AM)
Khoáng Belit (β-C
2
S)
Hình3: Ảnh cấu trúc của Clinker
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Anh Nhóm SVTH: 08CDHH
13
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
CÔNG TY XI MĂNG HÀ TIÊN I – TRẠM NGHIỀN PHÚ HỮU
4. Đặc tính của clinker:
4.1. Sự hydrat hoá của các khoáng Clinker:
4.1.1. Sự hydrat hoá của C
3
S và Alít:
Sự hydrat hoá của C
3
S và Alít tạo thành các hydro canxi silicat và Ca(OH)
2
o
C) sau 1 ngày: 25 ÷ 35%; sau
10 ngày: 55 ÷ 65%; sau 28 ngày: 78 ÷ 80%.
Thành phần của các hydro canxi silicat được tạo thành khi hydrat hoá C
3
S
và Alit bị thay đổi và phụ thuộc vào điều kiện đóng rắn. Các hydro canxi
silicat mới có độ bazơ cao kết tinh
dưới dạng tinh thể hình sợi dài
nhỏ. Các tinh thể này tạo thành ở
bên ngoài lớp vỏ hydrat hình cầu
do đó có thể quan sát được khi
nghiên cứu kính hiển vi điện tử
(hình bên).
Sự hydrat hoá C
3
S bị chậm lại khi có mặt Ca(OH)
2
, C
3
A
và tăng lên đáng
kể khi có mặt CaCl
2
và các clorit, bromit, nitrit, sunfat, cacbonat, các kim loại
kiềm và thạch cao.
4.1.2. Sự hydrat hoá của C
2
S và bêlit:
S có thể là:
Sau 1 ngày: 5 ÷ 10%; sau 10 ngày: 10 ÷ 20%;
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Anh Nhóm SVTH: 08CDHH
14
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
CÔNG TY XI MĂNG HÀ TIÊN I – TRẠM NGHIỀN PHÚ HỮU
Sau 28 ngày: 30 ÷ 50%; sau 5 ÷ 6 năm: 100%
Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng β-C
2
S tổng hợp hydrat hoá chậm hơn
belit trong thành phần XMP. Sự hoà tan trong chúng của các ôxit BaO, P
2
O
5
,
Cr
2
O
3
, Fe
2
O
3
, Na
2
O ở số lượng hợp lý góp phần làm tăng độ hoạt tính hydrat hoá
của khoáng. Nguyên nhân của đặc trưng hydrat hoá rất phức tạp của các dung dịch
rắn của C
2
S chính là sự ổn định của chúng ở các trạng thái cấu trúc khác nhau.
ứng có thể xảy ra theo sơ đồ:
2(3CaO.Al
2
O
3
) + 27H
2
O = 2CaO.Al
2
O
3
.8H
2
O + 4CaO.Al
2
O
3
.19H
2
O
3CaO.Al
2
O
3
+ 6H
2
O = 3CaO.Al
2
O
3
A sẽ là
khoáng 3CaO.Al
2
O
3
.3CaSO
4
.32H
2
O - hydro canxi trisunfo aluminat hay còn gọi là
Ettringit.
3CaO.Al
2
O
3
+ 3CaSO
4
+ 32H
2
O = 3CaO.Al
2
O
3
.3CaSO
4
.32H
2
O
Trong trường hợp nếu các ion SO
4
3
A cũng như ở khoảng trống giữa các hạt. Các tinh thể hydro canxi
monosunfo aluminat có dạng tấm. Khi có mặt các ion SO
4
2-
tốc độ hydrat hoá C
3
A
bị chậm lại.
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Anh Nhóm SVTH: 08CDHH
15
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
CÔNG TY XI MĂNG HÀ TIÊN I – TRẠM NGHIỀN PHÚ HỮU
Các ion Cl
-
(CaCl
2
) thúc đẩy quá trình hydrat hoá C
3
A cũng như hỗn hợp
C
3
A với CaSO
4
. Các muối hoà tan nhiều trong nước (sunfat, clorit, nitrat v.v.) gây
ra ảnh hưởng lớn lên động học hydrat hoá C
3
A. Trên cơ sở các hydro canxi
aluminat độ bazơ cao có thể tạo thành Ettringit khi chúng tương tác với các ion
Ca
2
O
3
.Fe
2
O
3
+ 10H
2
O = 3CaO.( Al,Fe)
2
O
3
.6H
2
O +
+ Ca(OH)
2
+ Fe
2
O
3
.3H
2
O
Sản phẩm trung bình của sự hydrat hoá canxi alumoferit có dạng C
2
AH
8
,
A
2
F và C
6
AF
2
cũng xảy ra như C
4
AF
nhưng tốc độ phản ứng bị giảm dần từ thành phần cao nhôm đến thành phần cao
sắt.
4.1.5. Sự hydrat hoá các pha còn lại của Clinker:
CaO và MgO tự do bị thuỷ phân tạo thành Ca(OH)
2
(portlandit) và
Mg(OH)
2
(bruxit). Sự tương tác của chúng với nước xảy ra chậm kèm theo sự tăng
thể tích có thể là nguyên nhân không ổn định thể tích của đá XM trong thời gian
đóng rắn về sau (khoảng sau 10 năm).
Pha thuỷ tinh của clinker XMP bị hydrat hoá rất nhanh tạo thành các dung
dịch rắn của các canxi alumoferit thành phần 3CaO.Al
2
O
3
.Fe
2
O
3
.6H
Phân tích hoá học cũng như phân bố cỡ hạt của các mẫu clinker trên ta xác
định được:
Màu Phase Công thức hóa học
Nâu Alite C
3
S
Xanh Belite C
2
S
Trắng/xám giữa các tinh thể Ferrite/Aluminate C
4
AF/C
3
A
Viền trắng bao quanh tinh thể. Vôi tự do. CaO
Xám sẫm Alkali sulphates (Na/K)
2
SO
4
Xám/đen trong mẫu clinker Lỗ xốp, rỗ
Xám trong các mảng clinker. Keo, nhựa gắn kết.
Hình 4 cho thấy một bề mặt mẫu mài của clinker xi măng có chứa các pha
chính của clinker. Các màu có ý nghĩa như sau:
Trong ảnh kính hiển vi ở hình 4, các tinh thể trắng gần tròn trong phần trên
bên trái tâm ảnh kính hiển vi là CaO tự do, belite ở góc dưới bên phải bao quanh
lỗ trũng màu đen cũng alkali ở phía trên bên phải, bao quanh lỗ màu xám.
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Anh Nhóm SVTH: 08CDHH
17
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
CÔNG TY XI MĂNG HÀ TIÊN I – TRẠM NGHIỀN PHÚ HỮU
O, có lẫn ít đất sét, cát, hợp chất sunfua, đôi
khi có lẫn ít sắt, magiê, khi nung ở nhiệt độ t
0
C >100 thì thạch cao chuyển sang dạng
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Anh Nhóm SVTH: 08CDHH
18
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
CÔNG TY XI MĂNG HÀ TIÊN I – TRẠM NGHIỀN PHÚ HỮU
khan:
CaSO
4
.0,5H
2
O
Khối lượng nguyên tử = 172.17
Calcium 23.28 % Ca 32.57 % CaO
Hydrogen 2.34 % H 20.93 % H2O
Sulfur 18.62 % S 46.50 % SO
3
Oxygen 55.76 % O
______ ______
100.00 % 100.00 % = TOTAL OXIDE
Thạch cao có dạng tinh thể hạt, bột khối lượng riêng 2,31-2,33 g/cm³.
Màu sắc: Trắng, không màu, vàng-trắng, lục-trắng, đà…, ngoài ra màu
thạch cao còn phụ thuộc vào tạp chất.
Hành vi tạo tinh thể: Đồ sộ, phẳng. Tinh thể kéo dài hình lăng trụ.
Cấu trúc tinh thể: Đơn nghiêng
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Anh Nhóm SVTH: 08CDHH
19
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
4
.2H
2
O + 26 H
2
O 3 CaO. Al
2
O
3
.3SO
3
.3H
2
O
Khi tạo hỗn hợp vữa, bao quanh thạch cao lúc đầu là C
3
A.CaSO
4
.3H
2
O
xốp, hình kim. Ion SO
4
2-
tiếp tục đi qua lỗ xốp ra môi trường. SO
4
2-
bao quanh C
3
A
4
2-
ít, làm Al
3+
tiếp tục thoát ra môi trường,
tăng quá trình đóng rắn.
III. Đá vôi:
1. Cấu tạo: CaCO
3
Đá vôi là loại một loại đá trầm tích, về thành phần hóa học chủ yếu là khoáng
chất canxit. Đá vôi ít khi ở dạng tinh khiết, mà thường bị lẫn các tạp chất như đá
phiến silic, silicat và đá mácma cũng như đất sét, bùn và cát, bitum Nên nó có màu
sắc từ trắng đến màu tro, xanh nhạt, vàng và cả màu hồng xẫm, màu đen.
2. Đặc điểm của đá vôi:
Đá vôi có độ cứng 3, khối lượng thể tích 1700 ÷ 2600 kg/m
3
, cường độ chịu
nén 1700 ÷ 2600kg/cm
2
, độ hút nước 0,2 ÷ 0,5%. Đá vôi nhiều silic có cường độ
cao hơn, nhưng giòn và cứng. Đá vôi chứa nhiều sét (lớn hơn 3%) thì độ bền nước
kém. Đá vôi là nguyên liệu để sản xuất vôi và xi măng.
Theo tiêu chuẩn Việt nam TCVN 6072:1996, đá vôi dùng làm nguyên liệu
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Anh Nhóm SVTH: 08CDHH
20
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
CÔNG TY XI MĂNG HÀ TIÊN I – TRẠM NGHIỀN PHÚ HỮU
để sản xuất xi măng poóclăng phải thoả mãn yêu cầu về hàm lượng của các chất
là: CaCO
2. Thành phần:
Thành phần chính là các khoáng hoạt tính nhóm alumo silicat. Tự bản thân
không có tính thủy lực. Trong môi trường điện ly có Ca(OH)
2
từ phản ứng hydrat
clinker, chúng có khả năng tạo khoáng hydrosilicat canxi CSH hoặc hydrosilicat
alumin CAH có tính thủy lực rất có lợi. Độ hoạt tính càng lớn khi hàm lượng oxyt
silic vô định hình càng cao.ngoài ra pouzzolane làm tăng tính bền nước, hạ giá
thành sản phẩm.
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Anh Nhóm SVTH: 08CDHH
21
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
CÔNG TY XI MĂNG HÀ TIÊN I – TRẠM NGHIỀN PHÚ HỮU
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Anh Nhóm SVTH: 08CDHH
22
Độ hoạt tính của Pouzzolane Lượng hút vôi từ dung dịch vôi bão hòa
sau 30 ngày đêm của 1 gam Pouzzolane
(mg CaO/g đá)
Mạnh >100
Trung bình Từ 60 đến 100
Yếu <30 hoặc < 60
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
CÔNG TY XI MĂNG HÀ TIÊN I – TRẠM NGHIỀN PHÚ HỮU
PHẦN III:
QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ VÀ THIẾT BỊ TRONG
DÂY CHUYỀN NGHIỀN XI MĂNG
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Anh Nhóm SVTH: 08CDHH
23
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
CÔNG TY XI MĂNG HÀ TIÊN I – TRẠM NGHIỀN PHÚ HỮU
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Anh Nhóm SVTH: 08CDHH
24
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
CÔNG TY XI MĂNG HÀ TIÊN I – TRẠM NGHIỀN PHÚ HỮU
tổng thành phần của 4 loại nguyên liệu đủ 100%. Sau đó tất cả các nguyên liệu
được nhập vào một băng tải chung để chuyển đến máy nghiền. Phía trên băng tải
chung có thiết bị tách từ để loại bỏ các tạp chất sắt có trong nguồn nguyên liệu
hoặc từ các thiết bị máy móc. Tạp chất sắt sau khi bị loại bỏ rơi xuống đống phế
liệu nhờ đường dẫn. Để quá trình tách từ triệt để, nguồn nguyên liệu được chạy
qua thiết bị phát hiện kim loại trước khi xuống cửa chuyển. Quá trình tách từ
nhằm bảo vệ máy nghiền do các tạp chất sắt có thể làm hư, mòn con lăn và mâm
nghiền, giảm độ rung cho máy nghiền.
Nếu thiết bị phát hiện kim loại báo tín hiệu, thiết bị thủy lực trên cửa
chuyển được kích hoạt, lượng nguyên liệu đó đi qua cửa chuyển để xuống một
phễu thu hồi.
Nếu không có tín hiệu nguyên liệu được đưa xuống cửa chuyển, xuống
băng tải để chuyển vào máy nghiền.
Nguyên liệu ra khỏi cửa chuyển theo băng tải đi vào rotary feeder trước khi
đi vào máy nghiền. Rotary Feeder có tác dụng ổn định áp suất trong máy nghiền,
đồng thời cung cấp nguyên liệu cho máy nghiền đồng đều, ổn định tại mọi thời
điểm trong suốt quá trình nghiền. Khi nguyên liệu vào máy nghiền đứng sẽ được
nghiền bởi sự quay của mâm nghiền và hệ thống 3 con lăn chính, 3 con lăn phụ.
Ba con lăn phụ có tác dụng làm đều lớp liệu cho con lăn chính, giảm độ rung cho
máy nghiền. Ba con lăn chính nghiền nguyên liệu dựa vào sự ma sát giữa con lăn
– nguyên liệu – mâm nghiền. Để quá trình nghiền diễn ra tốt người ta thường thêm
vào chất trợ nghiền và nước.Trong quá trình nghiền dòng khí nóng thổi từ dưới
đáy máy nghiền được cung cấp nhằm đảm bảo cho máy nghiền hoạt động, sấy khô
xi măng đến độ ẩm cần thiết và thổi bụi xi măng lên đỉnh máy nghiền.
Tại đỉnh máy nghiền có thiết bị phân ly hạt động nhằm thu được xi măng
có độ mịn thích hợp. Những hạt xi măng đạt yêu cầu được quạt hút đưa đến thiết