bao cao thực tập công ty cao su 72 Gia Lai - Pdf 58

1. PHẦN I: TỔNG QUAN
1.1. GIỚI THIỆU
1.2. MỤC ĐÍCH
1.3. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI
1.3.1. Đối tượng
1.3.2. Phạm vi
1.4. BỐ CỤC CỦA BÀI
Nội dung của bài tiểu luận được chia thành ba phần:
Phần 1: Tổng quan
Phần này giới thiệu khái quát mục đích của bài tiểu luận, đối tượng , phạm vi
điều tra, nội dung và bố cục của bài tiểu luận.
Phần 2: Nội dung
Chương 1: Khái quát chung về lạm phát
Chương 2: Tình hình lạm phát 2008
Chương 3: Biện pháp
Phần 3: Kết luận
1
2. PHẦN II: NỘI DUNG
2.1. CHƯƠNG I:
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LẠM PHÁT
2.1.1. Khái niệm
Lạm phát là một hiện tượng kinh tế đi liền với nền kinh tế thị trường. Có nhiều
nhà kinh tế đã đi tìm một định nghĩa đúng cho thuật ngữ này nhưng nói chung chưa
có sự thống nhất hoàn toàn.
Karl Marx cho rằng: “Lạm phát là sự phát hành tiền mặt quá mức cần thiết”
V.I.Lenin cũng đưa ra một ý niệm tương tự: “Lạm phát là sự thừa ứ tiền giấy
trong lưu thông”.
Vào thập niên 1960 Milton Fredman khẳng định lại rằng: “Lạm phát bao giờ
và ở đâu cũng là một hiện tượng tiền tệ”.
Còn R.Dornbusch và Fischer cho rằng: “Lạm phát là tình trạng mức giá
chung của nền kinh tế tăng lên liên tục trong một thời gian nhất định”.

2.2. CHƯƠNG II:
TÌNH HÌNH LẠM PHÁT 2008
2.2.1. NGUYÊN NHÂN
Sau cơn khủng hoảng lạm phát vào những năm 1980 đầu 1990 giá cả Việt
Nam đã duy trì ổn định với tỷ lệ lạm phát bình quân chỉ trên 3% trong những năm
1996 – 2003. Tuy nhiên, những năm gần đây, đặc biệt là năm 2008, nước ta đã phải
đương đầu với nạn lạm phát. Năm 2008 được coi là có hai cuộc khủng hoảng đối
với nền kinh tế. Không nằm ngoài những nguyên chung đã gây ra nạn lạm phát thì
năm 2008 còn có cho nó những nguyên nhân riêng. Vậy nguyên nhân gây ra lạm
phát 2008 là do đâu?
2.2.1.1. Tác động của thị trường thế giới
Kinh tế thế giới bước vào giai đoạn suy giảm mạnh 4.9% năm 2007, dự báo
xuống 4% năm 2008. Thương mại quốc tế giảm mạnh so với năm 2006. Nền Kinh
tế Mỹ (chiếm ¼ GDP toàn Thế giới) đang suy giảm, chuyển qua suy thoái, ảnh
hưởng đến giá cả nguyên vật liệu, lương thực, thực phẩm trên toàn Thế giới tăng
đột biến dẫn đến lạm phát xảy ra ở nhiều nước. Thị trường tài chính Thế giới thiệt
hại khoảng 3500 tỷ USD, đặc biệt Việt Nam đang được đánh giá là “ngôi sao đang
lên”. Sau khi gia nhập WTO thì nguồn vốn đầu tư vào Việt Nam từ các nhà đầu tư
nước ngoài rất lớn đã góp phần làm tăng chi tiêu, xây dựng, chứng khoán, lạm phát.
Bởi vì Việt Nam đã hội nhập sâu vào nền kinh tế toàn cầu vì vậy khi nền kinh tế gặp
trục trặc thì ảnh hưởng nhiều đến nền kinh tế của Việt Nam.
2.1.1.2. Tàn dư của năm 2007
 Tại Việt Nam các nguyên nhân phát sinh lạm phát trên đều xuất hiện
với những trọng số khác ở mỗi thời kỳ khác nhau. Năm 2007 là năm
mà các nhà nước tích tụ bấy lâu nay gặp cơn lốc lạm phát Thế giới. Ở
năm 2008, chỉ số giá cả tiêu dùng tăng nhanh. Năm 2007 là 12.63%
và ba tháng đầu năm 2008 tăng trên 9%, đặc biệt là cán cân thương
mại năm 207 thâm hụt lớn. Cán cân vãng lai thâm hụt ở tỷ lệ cao trên
6% ở mức đáng lo ngại. Hệ thống chính trị khủng hoảng do những tác
bên trong hoặc bên ngoài làm cho lòng tin của dân chúng vào chế độ

điều cần thiết nhưng dàu tư kém hiệu quả, đầu tư dàn trải gây lãng phí
lớn trong thời gian dài là nguy hiểm cho nền kinh tế nước nhà. Chính
sách tiền tệ năm 2007 cũng có những vấn đề cần xem xét, cung tiền
(tống phương tiện thanh toán) tăng nhanh 2005 là 23.4%, năm 2006 là
33.6%, năm 2007 là 53.8%, tổng cộng ba năm cung tiền M
2
tăng
134.2% trong khi ba năm GDP chỉ tăng 25.09%. Đầu năm 2008 nó
bộc phát mạnh là do sự cộng hưởng bởi lạm phát quốc tế (USD yếu)
và thiên tai. Thật không may trong thời điểm nhạy cảm này là một
động thái có từ trước của chính phủ. Đó là tăng lương cơ bản 20%
vào ngày 1/1/2008
2.1.1.6. Lạm phát do xuất nhập khẩu
Năm 2008 Việt Nam hội nhập kinh tế Thế giới có nhiều doanh nghiệp nước
ngoài và trong nước mọc lên. Xuất khẩu tăng dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn so với
tổng cung, hoặc sản phẩm được huy động cho xuất khẩu khiến lượng cung sản
phẩm cho thị trường trong nước giảm khiến tổng cung nhỏ hơn tổng cầu, lạm phát
nảy sinh do tổng cung và tổng cầu mất cân bằng.
Sản phẩm không tự sản xuất được phải nhập khẩu khi giá nhập khẩu tăng dẫn
đến giá bán sản phẩm tăng, đẩy mức giá chung tăng và nước ta đã nhập khẩu cả tỷ
lệ lạm phát từ các nước đặc biệt là Trung Quốc.
2.1.1.9. Lạm phát quán tính
Trong đợt sốt giá gạo ảo đã gây ra lạm phát quán tính. Lạm phát trong thời
gian gần đây tăng đột biến không chỉ là hệ quả tích kuyx của quá trình tăng trưởng
4
dài hạn mà còn là kết quả của năng lực sản xuất yếu kém do tích tụ của trình độ
công nghệ thấp và chậm được cải thiện trong nhiều năm qua
Do siêu lợi nhuận có được từ đầu cơ trên cả hai thị trường chứng khoán và bất
động sản đã làm nảy sinh phương thức tiêu dùng mà đặc trưng của nó là mua vét
với khối lượng lớn trong thời gian ngắn nhiều loại hàng hóa như vàng, ngoại tệ,

mô tài chính của Việt Nam Daragon Fund Limited (VDF) cho rằng: lạm phát của
Việt Nam ở mức thấp hơn hoặc xấp xỉ 10% không phải là thảm họa kinh tế vĩ mô và
5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status