Kiểm soát khoản mục vốn bằng tiền tại Công ty TNHH Minh Đức - Pdf 27

A. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay nền kinh tế đất nước ngày càng phát triển, thể chế pháp lý dần
đi vào ổn định nhưng môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp thì càng
ngày càng trở lên gay gắt. Các doanh nghiệp không những phải đương đầu với
các doanh nghiệp trong nước mà còn phải cạnh tranh với các doanh nghiệp nước
ngoài. Thể chế càng thông thoáng thì sự cạnh tranh này càng khó khăn, bởi các
doanh nghiệp nước ngoài đã đi trước ta cả về công nghệ, trình độ quản lý và
tiềm lực kinh tế. Nhiều biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp được đặt ra trong đó việc “nâng cao nội lực, tăng sức cạnh tranh” rất
được quan tâm. Theo đó, việc xây dựng được một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu
hiệu sẽ góp phần rất lớn trong việc phát huy nội lực, hạn chế rủi ro trong một
Công ty. Một trong những giải pháp quan trọng trong quản lý đó là xây dựng
cho được hệ thống kiểm soát nội bộ có hiệu quả. Với vai trò quan trọng là đảm
bảo cho hoạt động tài chính kế toán của đơn vị rõ ràng, chính xác, hệ thống kiểm
soát nội bộ không những giúp cho đơn vị kiểm soát được các hoạt động kinh tế
mà còn ra các biện pháp ngăn chặn các rủi ro trong kinh doanh nhằm thực hiện
hiểu quả mục tiêu đặt ra ở đơn vị. Vốn bằng tiền là khoản mục quan trọng trong
tài sản lưu động, được trình bày một cách chi tiết trên bảng Cân đối kế toán.
Vốn bằng tiền có liên quan đến nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh khác nhau do
đó Vốn bằng tiền là đối tượng của sai sót, tham ô, lợi dụng, mất mát. Từ những
nhận thức nêu trên, em đã chọn đề tài: "Kiểm soát khoản mục vốn bằng tiền
tại Công ty TNHH Minh Đức" làm chuyên đề kiêm toán.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Kiểm soát nội bộ đối với Vốn bằng tiền nhằm tăng cường công tác quản
lý, cung cấp các thông tin chính xác về thực trạng các nguồn thu cũng như sự chi
tiêu của doanh nghiệp, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng Vốn bằng tiền là điều
hết sức cần thiết. Hoàn thiện hơn kiểm soát nội bộ đối với Vốn bằng tiền tại
Công ty TNHH Minh Đức.
2.2. Mục tiêu cụ thể

các giai đoạn của quá trình quản lý, ở đâu có quản lý thì ở đó có kiểm tra, quản
lý thay đổi thì kiểm tra cũng thay đổi theo. Cụ thể như sau:
- Giai đoạn lập kế hoạch: Kiểm tra hướng vào việc xem xét tính khả thi
của dự án có phù hợp với nguồn lực sẵn có hay không, nếu không phù hợp sẽ
xây dựng một kế hoạch khác.
- Giai đoạn tổ chức thực hiện: Kiểm tra khả năng và sự phù hợp của các
bộ phận có liên quan ở giai đoạn này cũng có thể xây dựng lại một kế hoạch
mới.
- Giai đoạn chỉ đạo thực hiện: Kiểm tra việc thực hiện của các bộ phận có
kế hoạch đặt ra hay không.
1.1.2. Khái niệm
Năm 1992, tổ chức COSO (Committee of Sonsoring Organization) là một
Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa kỳ về việc chống gian lận về báo cáo tài
chính đã đưa ra định nghĩa thiết thực nhất cho đến nay vẫn được nhiều người
chấp nhận. Theo đó:
“Kiểm soát nội bộ là một quá trình do người quản lý, hội đồng quản trị và
các nhân viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự bảo đảm
hợp lý nhằm thực hiện ba mục tiêu dưới đây:
- Báo cáo tài chính đáng tin cậy.
- Các luật lệ và quy định được tuân thủ.
- Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả.
Để hiểu được bản chất của định nghĩa ta phải hiểu được 4 nội dung cơ bản
sau: quá trình, con người, đảm bảo hợp lý và mục tiêu.
*) Kiểm soát nội bộ là một quá trình: kiểm soát nội bộ bao gồm nhiều hoạt động
liên tục, hiện diện ở mọi nơi trong tổ chức và liên kết chặt chẽ với nhau trong
một thể thống nhất.
*) Yếu tố con người: kiểm soát nội bộ không chỉ đơn thuần là những chính sách
thủ tục, biểu mẫu mà kiểm soát nội bộ được xác lập, thực hiện và vận hành bởi
toàn bộ con người trong tổ chức.
*) Kiểm soát nội bộ cung cấp một sự đảm bảo hợp lý: kiểm soát nội bộ chỉ cung

1. Môi trường kiểm
soát
- Triết lý quản lý và phong cách điều hành của nhà quản lý.
- Sự trung thực và các giá trị đạo đức.
- Chính sách nhân sự.
- Cơ cấu tổ chức.
- Hội đồng quản trị và ban kiểm soát.
- Trình độ và phẩm chất đội ngũ nhân viên.
- Cách thức phân định quyền hạn và trách nhiệm.
- Các nhân tố bên ngoài tổ chức
2. Đánh giá rủi ro. - Nhận diện và đánh giá rủi ro.
- Thiết lập mục tiêu.
3. Các hoạt động
kiểm soát.
- Phân chia trách nhiệm đầy đủ.
- Ủy quyền đúng đắn.
- Kiểm soát hệ thống và quá trình xử lý thông tin.
- Kiểm tra độc lập và soát xét thực hiện.
- Thiết kế chứng từ, sổ sách phù hợp.
- Kiểm soát vật chất và thông tin.
4. Thông tin và
truyền thông
- Hệ thống chứng từ.
- Hệ thống sổ sách.
- Hệ thống báo cáo.
5. Giám sát - Giám sát thường xuyên.
- Giám sát định kỳ.
1.1.3.1. Môi trường kiểm soát
Môi trường kiểm soát phản ánh sắc thái chung của một đơn vị, nó chi phối ý
thức kiểm soát của mọi thành viên trong đơn vị và là nền tảng đối với các bộ phận

các hoạt động, xác lập các mối quan hệ, báo cáo và xây dựng các phương pháp ủy
quyền.
- Chính sách nhân sự: Chính sách nhân sự ảnh hưởng quan trọng đến trình
độ, phẩm chất cũng như các giá trị đạo đức của toàn thể nhân viên trong đơn vị.
Chính sách nhân sự bao gồm: chính sách tuyển dụng, đào tạo, chính sách tiền
lương, giám sát, khen thưởng, kỷ luật, luân chuyển nhân viên.
- Các nhân tố ngoài tổ chức: Môi trường kiểm soát có thể chịu ảnh hưởng
của các nhân tố đến từ bên ngoài của tổ chức như thay đổi của môi trường kinh
doanh, các thay đổi của hệ thống pháp luật hay các thay đổi của Chế độ kế toán…
Khi phân tích, đánh giá, môi trường kiểm soát thì cần phải xem xét, đánh giá, phân
tích mức độ ảnh hưởng của các nhân tố bên ngoài đến các hoạt động của đơn vị
đó
1.1.3.2. Đánh giá rủi ro.
Để giới hạn được rủi ro ở mức độ chấp nhận được, người quản lý phải xác
định được mục tiêu của đơn vị, nhận dạng và phân tích rủi ro từ đó mới kiểm soát
được rủi ro.
- Xác định mục tiêu của đơn vị: Các mục tiêu này bao gồm mục tiêu chung
của toàn tổ chức và mục tiêu riêng của từng bộ phận hay từng hoạt động, từng giai
đoạn. Thiết lập mục tiêu bao gồm việc đưa ra sứ mệnh, hoạch định các mục tiêu
chiến lược cũng như các chỉ tiêu phải đạt được trong ngắn hạn, trung hạn và dài
hạn thông qua việc ban hành các văn bản hoặc đơn giản là thông qua nhận thức và
những phát biểu hàng ngày của người quản lý.
- Nhận dạng phân tích rủi ro: Rủi ro có thể tác động đến tổ chức ở mức độ
toàn đơn vị hay chỉ ảnh hưởng đến từng hoạt động cụ thể trong phạm vi từng hoạt
động. Rủi ro có thể phát sinh và tác động đến bản thân từng hoạt động trước khi
gây ảnh hưởng đến toàn đơn vị.
1.1.3.3. Các hoạt động kiểm soát.
Các hoạt động kiểm soát là những chính sách, thủ tục giúp cho việc thực
7
hiện các chỉ đạo của người quản lý, đảm bảo có các hành động cần thiết để quản lý

đầu ra
thông tin. Ví dụ: Quy trình kiểm soát chung là môi trường chung cho kiểm soát
ứng dụng
4- Kiểm soát độc lập và soát xét về thực hiện.
Một phần quan trọng của kiểm soát là: Kiểm tra nhằm đảm bảo các nghiệp
vụ được thực hiện và xử lý chính xác.Việc kiểm tra này được thực hiện một cách
độc lập để đảm bảo tính hữu hiệu. Việc kiểm tra được gọi là kiểm tra độc lập khi
người thực hiện kiểm tra không phải là người chuẩn y, người thực hiện nghiệp vụ
hay người ghi sổ kế toán. Kiểm tra độc lập bao gồm:
- Đối chiếu hai quá trình ghi chép độc lập. (Ví dụ: đối chiếu số liệu giữa số
kế toán với số liệu của ngân hàng.)
- So sánh giữa số liệu thực tế với số liệu ghi chép trên sổ sách thông qua quá
trình kiểm kê.
- Thực hiện việc ghi sổ kép, kiểm tra đối chiếu số liệu trên Bảng cân đối số
phát sinh.
- Xem xét độc lập quá trình xử lý nghiệp vụ (Ví dụ: kiểm tra chứng từ trước
khi ghi sổ).
5- Thiết kế và sử dụng các chứng từ và sổ phù hợp.
Thiết kế và sử dụng các chứng từ và sổ sách phù hợp đảm bảo cho việc ghi
chép chính xác và đầy đủ tất cả các dữ liệu cần thiết của một nghiệp vụ kinh tế.
Hình thức và nội dung của chứng từ, sổ sách không nên phức tạp, phải thỏa mãn dễ
ghi, dễ kiểm tra đối chiếu và hạn chế tối đa các sai sót trong quá trình ghi chép.
Nội dung của chứng từ và sổ sách cần thể hiện đầy đủ các yếu tố hỗ trợ cho kiểm
soát. Việc thiết kế và sử dụng các chứng từ và sổ kế toán còn quy định về các quá
trình bảo quản, lưu trữ, truy xuất để đảm bảo tính an toàn cho các tài liệu kế toán
đó.
6- Đảm bảo an toàn cho vật chất và thông tin.
Hiện nay thông tin cũng được xem là tài sản quan trọng của một tổ chức. Do
đó cần phải thiết lập các thủ tục kiểm soát nhằm đảm bảo an toàn cho tài sản vật
chất và thông tin bao gồm an toàn về mặt vật lý và quy định trách nhiệm vật chất

thống thông tin đó là chứng từ và sổ sách kế toán.
*) Chứng từ cho phép kiểm tra, giám sát tỉ mỉ về từng hành vi kinh tế, ngoài
10
ra còn giúp ngăn chặn kịp thời các hành vi sai phạm để bảo vệ tài sản của đơn vị.
*) Sổ sách kế toán được xem là bước trung gian tiếp cận các thông tin ban
đầu trên chứng từ để xử lý nhằm hình thành các thông tin tổng hợp trên báo cáo tài
chính và báo cáo kế toán quản trị sẽ góp phần đáng kể trong việc bảo vệ tài sản
nhờ chức năng kiểm tra, giám sát ngay trong quá trình thực hiện nghiệp vụ.
1.1.3.5. Giám sát.
Giám sát là quá trình đánh giá chất lượng thực hiện các hoạt động kiểm soát
một cách liên tục, giúp cho kiểm soát nội bộ luôn duy trì được sự hiện hữu của
mình qua các giai đoạn khác nhau. Tổ chức của một đơn vị thay đổi thì phương
thức kiểm soát nội bộ cũng bị thay đổi. Trong điều kiện này, giám sát có thể giúp
cho các nhà quản lý xác định hệ thống cần thay đổi những gì, đánh giá các thiết kế
về các hoạt động kiểm soát và thực hiện các hoạt động điều chỉnh cần thiết. Giám
sát bao gồm giám sát thường xuyên và giám sát định kỳ.
1.1.4. Những hạn chế vốn có của hệ thống kiểm soát nội bộ.
Mặc dù doanh nghiệp có thiết kế một hệ thốngkiểm soát nội bộ tưởng chừng
như hoàn hảo thì vẫn có những sai phạm xảy ra. Bởi hiệu quả của hệ thốngkiểm
soát nội bộ tùy thuộc vào nhân tố chủ yếu là con người. Hệ thống kiểm soát nội bộ
chỉ giúp hạn chế tối đa những sai phạm vì nó có các rủi ro tiềm tàng xuất phát từ
những nguyên nhân sau:
- Do yêu cầu của nhà quản lý: lợi ích phải lớn hơn chi phí.
- Các biện pháp kiểm tra thường hướng đến sai phạm dự kiến, khó phát hiện
được các sai phạm bất thường.
- Sai phạm xuất phát từ nhân viên trong tổ chức do thiếu thận trọng, xao
lãng, sai lầm trong xét đoán hay hiểu sai các hướng dẫn của cấp trên.
- Việc điều hành và kiểm tra có thể bị vô hiệu khi có sự thông đồng với bên
ngoài hoặc giữa các nhân viên trong doanh nghiệp.
1.1.5. Cách thức tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ.

12
thu tiền bán hàng là quy định rõ việc chuyển các khoản tiền thu trực tiếp tại công
ty vào tài khoản ngân hàng.
Trong phương thức thanh toán qua ngân hàng cùng các khoản thu trực tiếp
tiền nộp vào ngân hàng cần đặc biệt chú ý tới các chứng cứ thu tiền.
Khi bán hàng theo phương thưc nhờ ngân hàng thu tiền, các giấy báo của
ngân hàng là các chứng cứ quan trọng. Về nguyên tắc, giấy báo này của ngân hàng
được gửi cho công ty thường xuyên theo từng nghiệp vụ phát sinh. Kế toán giao
dịch với ngân hàng cần đính kèm chứng từ minh chứng cho nghiệp vụ đó vào giấy
báo. Tiếp đó, cần phân loại giấy báo theo từng ngân hàng giao dịch và sắp xếp giấy
báo theo số thứ tự liên tục ghi trên giấy báo. Trên cơ sở đó, thực hiện các phép đối
chiếu giữa số phát sinh trên giấy báo với chứng từ gốc đính kèm, giữa các số thứ tự
liên tục của các giấy báo, giữa số dư đầu kỳ của giấy báo sau với số dư cuối kỳ của
giấy báo trước liền giữa số dư của giấy báo cuối kỳ với số dư của tài khoản Tiền
gửi ngân hàng trên sổ cái.
Kiểm soát nội bộ đối với việc thu tiền nhằm hướng đến đáp ứng các mục
tiêu:
13
14
Mục tiêu kiểm soát nội bộ
thu tiền
Công việc kiểm soát nội bộ chủ yếu về thu tiền
Các khoản thu tiền đã ghi sổ
thực tế đã nhận (Có căn cứ
hợp lí)
-Phân cách nhiệm vụ giữa người giữ tiền và người
giữ sổ.
-Ký tắt ngay sau các giấy tờ chứng minh đã được lập
bảng kê, phiếu thu.
-Các phiếu thu, uỷ nhiệm thu, biên lai phải đính kèm

bán hàng.
Các khoản thu tiền đều
được phân loại đúng (Sự
phân loại)
-Sử dụng sơ đồ tài khoản có quy định các quan hệ đối
ứng cụ thể về thu tiền.
-Xem xét, đối chiếu nội bộ việc phân loại, chú ý định
khoản đặc biệt.
Các khoản thu tiền ghi đúng
thời gian.
-Qui định rõ việc cập nhập các khoản tiền vào quỹ và
vào sổ.
-Có nhân viên độc lập kiểm soát ghi thu và nhập quỹ
Các khoản thu tiền ghi đúng
vào sổ quỹ, sổ cái và tổng
hợp đúng
-Phân cách nhiệm vụ ghi sổ quỹ với theo dõi thanh
toán tiền hàng.
-Lập cân đối thu tiền và gửi cho người mua đều đặn.
-Tổ chức đối chiếu nội bộ về chuyển sổ và cộng sổ
1.2.5. Kiểm soát nội bộ đối với việc chi tiền
Quá trình hoạt động của bất kỳ một công ty nào cũng có những khoản chi
tiêu, chi tiêu nguyên vật liệu, thiết bị, luơng và các loại dịch vụ khác. Những khoản
chi tiêu này tạo cho công ty có nghĩa vụ phải thanh toán ngay bằng tiền hoặc sẽ trả
trong thời gian tới. Quá trình thanh toán phải giải quyết và kiểm soát những nghĩa
vụ này. Khi những nghĩa vụ này được giải quyết thì quá trình thanh toán tiến gần
tới quá trình chi tiêu. Quá trình hoạt động của công ty tạo ra quá trình thanh toán,
kiểm soát quá trình này được coi là kiểm soát tài chính. Kiểm soát tài chính quan
tâm đến mức độ chính xác và đúng thời hạn của các nghĩa vụ này, tính phù hợp và
hợp pháp của các nghĩa vụ và các thủ tục giấy tờ qua đó gian đoạn cuối cùng là

toán.
Các nghiệp vụ thanh toán hiện
có đều được ghi sổ (Tính đầy
đủ)
-Phiếu chi và các chứng từ thanh toán (séc, uỷ
nhiệm chi) được đánh số trước và theo dõi.
-Bảng đối chiếu với ngân hàng được lập hàng
tháng bởi một nhân viên độc lập với việc ghi
sổ các khoản chi tiền mặt hoặc thanh toán .
Các nghiệp vụ thanh toán được
đánh giá đúng đắn (Sự đánh giá)
-Kiểm tra nội bộ các quá trình tính toán và các
số tiền.
-Hàng tháng lập một bảng đối chiếu với ngân
hàng do một cá nhân độc lập thực hiện.
Các nghiệp vụ thanh toán được
phân loại đúng đắn (sự phân
loại)
-Doanh nghiệp có sơ đồ tài khoản đầy đủ.
-Kiểm tra nội bộ quá trình phân loại.
Các nghiệp vụ thanh toán được
vào sổ đúng lúc (Tính đúng hạn)
-Doanh nghiệp có các thủ tục quy định ghi sổ
ngay sau khi phiếu chi và các chứng từ thanh
toán đã được thực hiện.
-Kiểm tra độc lập việc thực hiện.
Các khoản thanh toán được phản
ánh đúng đắn vào các sổ hạch
toán chi tiết tương ứng và chúng
được tổng hợp đúng đắn trong

khoản mục gây ra chênh lệch giữa số dư trên sổ sách và số dư của ngân hàng, kiểm
tra tính đúng đắn và xác định nguyên nhân.
17
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ ĐỐI VỚI VỐN BẰNG TIỀN TẠI
CÔNG TY TNHH MINH ĐỨC
2.1. Khái quát chung về Công ty TNHH Minh Đức
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty
2.1.1.1. Khái quát chung về công ty
Công ty cổ phần thương mại Xuân Thịnh được thành lập theo giấy chứng
nhận kinh doanh công ty cổ phần số: 18 03 000 612 do Phòng đăng ký kinh doanh
- Sở kế hoạch và đầu tư - Tỉnh Phú Thọ cấp ngày 01 tháng 02 năm 2008 với vốn
điều lệ 1 tỷ đồng.
-Tên công ty: Công ty TNHH Minh Đức
-Mã số thuế: 2600 415 909
-Trụ sở giao dịch: Phường Gia Cẩm Thành phố Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ
-Số điện thoại: (0210) 817 388
-Fax: (0210) 817 388
2.1.1.2. Quá trình hình thành và phát triển
Công ty TNHH Minh Đức là công ty tư nhân thành lập cho tới nay đã được 8
năm, nên đã trải qua không ít khó khăn. Khi mới thành lập đội ngũ nhân viên còn
hạn hẹp chỉ với 20 nhân viên, ban lãnh đạo cũng chưa có nhiều kinh nghiệm trong
việc quản lý công ty, thêm vào đó việc xâm nhập thị trường tiêu thụ còn yếu nên
mặc dù xác định lĩnh vực kinh doanh là các mặt hàng tiêu dùng phục vụ đời sống,
các loại máy móc và một số dịch vụ khác như vận tải nhưng bước đầu công ty chỉ
kinh doanh với các mặt hàng tiêu dùng hàng ngày là chủ yếu.
Cuối năm 2012 cho đến nay công ty dần đã đi vào ổn định, chi phí của công ty
đã giảm dần so với lúc đầu mới thành lập, công ty làm ăn có lãi mặc dù lãi của công
ty không cao. Nguồn vốn kinh doanh đã tăng lên nhờ bổ sung từ lợi nhuận thu được.
Công ty cũng đã tìm được những đối tác tin cậy đảm bảo cho việc cung ứng đầu vào

Về doanh thu: Ta thấy có sự tăng giảm trong 3 năm qua, cao nhất là năm
2012 với số tiền đạt được là 9.067 triệu đồng. Tuy nhiên đến năm 2013 doanh
thu giảm còn 8.659 triệu đồng, giảm so với năm 2012 là hơn 400 triệu đồng.
Trong năm 2014 ta thấy có sự gia tăng trở lại của doanh thu với số tiền là 8.895
triệu đồng nhưng vẫn thấp hơn năm 2012 số tiền gần 200 triệu đồng. Mà doanh
thu thì chịu sự tác động của nhiều nguyên nhân, đồng thời được tạo nên từ nhiều
nguồn thu khác nhau, trong đó nguồn thu quan trọng nhất chính là nguồn thu từ
hoạt động kinh doanh.
Về lợi nhuận: Lợi nhuận năm sau cao hơn năm trước nhất là năm 2014 với
số tiền là hơn 784 triệu đồng. Như vậy mặc dù doanh thu các năm có sự tăng
giảm không đều nhưng do kiểm soát tốt khoản mục chi phí nên lợi nhuận hàng
năm cao hơn năm trước đó. Đây là một dấu hiệu khả quan của công ty, bởi lẽ
mục đích cuối cùng của hoạt động kinh doanh là lợi nhuận.
Đánh giá: Nhìn chung hoạt động kinh doanh trong 3 năm qua tương đối
tốt, tất cả các năm đều có lợi nhuận. Mặc dù doanh thu có giảm, nhưng do kiểm
soát chi phí hợp lý nên lợi nhuận hàng năm vẫn tăng. Chứng tỏ công ty dần có
những bước đi thích hợp nhằm tối đa hóa lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh
của mình
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của công ty
2.1.2.1 Chức năng
Công ty TNHH Minh Đức là một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, có
chức năng là cung cấp đầy đủ nhu cầu xã hội trong nền kink tế thị trường về
những mặt hàng kinh doanh của mình.
2.1.2.2 Nhiệm vụ
Công ty thực hiện đúng mục đích thành lập kinh doanh và các mặt hàng
đã đăng ký như: kinh doanh vận tải hàng hoá, đại lý mua bán, ký gửi hàng hoá;
kinh doanh vật tư, thiết bị máy móc, phụ tùng thay thế; kinh doanh rượu, bia,
nước ngọt Hiện nay với khả năng phát triển công ty đang thực hiện mở rộng
hoạt động kinh doanh.
2.1.3 Tổ chức bộ máy quản lý của công ty

phân tích các hoạt động kinh tế, tính toán hiệu quả các hoạt động kinh doanh của
công ty. Tham mưu cho giám đốc về công tác tài chính, hoạch định chiến lược
kinh doanh đưa ra các quyết định đúng đắn trong điều hành hoạt động nguồn
vốn có hiệu quả. Phòng kế toán còn có các nhiệm vụ báo cáo thống kê tình hình
thực hiện các chỉ tiêu tài chính của công ty với các cơ quan chức năng.
* Phòng kinh doanh: Phụ trách các công việc liên quan đến bán hàng, có
nhiệm vụ tìm kiếm và phát triển hệ thống khách hàng, xây dựng và triển khai
các chính sách bán hàng cũng như các chiến lược kinh doanh của công ty.
* Phòng kỹ thuật: Đảm nhận việc sửa chữa các loại thiết bị, mặt hàng mà
công ty đã giao bán cho khách hàng bị hỏng trong thời gian còn bảo hành và có
thể sửa chữa nếu có người yêu cầu
2.1.4 Đặc điểm tổ chức hoạt động kinh doanh của Công ty
Công ty TNHH Minh Đức được thành lập năm 2008 dựa trên sự cam kết
của ba thành viên sáng lập. Lĩnh vực kinh doanh chủ yếu được đăng ký trong
giấy phép kinh doanh là:
- Kinh doanh vận tải hàng hóa
- Đại lý mua, bán, ký gửi hàng hóa
- Kinh doanh vật tư, thiết bị máy móc, phụ tùng thay thế;
-Kinh doanh vận dụng điện nước.
- Kinh doanh các loại hóa chất (trừ các loại hóa chất Nhà nước cấm)
- Kinh doanh rượu, bia, nước ngọt; kinh doanh hàng tạp hóa
Hiện nay, nền kinh tế thị trường ở nước ta rất đa dạng với sự phát triển
ngày càng nhiều của các doanh nghiệp tư nhân, nên sự cạnh tranh này ngày
càng khốc liệt. Việc tìm kiếm một lĩnh vực kinh doanh vừa hấp dẫn vừa phù hợp
với số vốn của mình là một bài toán khó đặt ra đối với các nhà đầu tư. Nắm bắt
được nhu cầu của người dân cũng như các công ty trên địa bàn tỉnh Phú Thọ và
các tỉnh lân cận về hàng hoá tiêu dùng, máy móc thiết bị phục vụ sản xuất, vì thế
mà các thành viên của công ty đã chọn kinh doanh lĩnh vực này.
Đây là một ngành không đòi hỏi số vốn quá lớn, phù hợp với khả năng tài
chính của công ty. Vì thế ban đầu công ty mới chỉ nhập một số mặt hàng tiêu

phối lợi nhuận nhằm mục đích đề ra các biện pháp để đáp ứng kịp thời yêu cầu
của khách hàng. Việc phân phối lợi nhuận của Công ty chủ yếu là tăng nguồn
vốn kinh doanh,lập kế hoạch khấu hao TSCĐ nhằm mục đích đánh giá hiệu quả
sử dụng TSCĐ của doanh nghiệp.
Sau khi xây dựng kế hoạch tài chính thì Công ty tiến hành tổ chức thực
hiện. Trong quá tŕnh thực hiện kế hoạch Công ty phải có những điều chỉnh để
phù hợp với tình hình thực tế và do chính sách tỷ giá, chính sách về thuế của
những năm trước với năm nay thay đổi. Nếu có những vấn đề nảy sinh thì đơn vị
giải quyết kịp thời, đảm bảo đồng bộ kế hoạch tài chính với các kế hoạch khác.
2.2 Tổ chức công tác kế toán tại công ty TNHH Minh Đức
2.2.1 Cơ cấu bộ máy kế toán của công ty
Bộ máy kế toán của công ty gồm năm người được tổ chức theo hình thức
kế toán tập trung. Xuất phát từ đặc điểm tổ chức kinh doanh, tổ chức quản lý
phù hợp với yêu cầu quản lý và trình độ kế toán tại công ty. Theo hình thức này
toàn bộ công tác kế toán được thực hiện ở phòng kế toán của công ty, từ khâu
ghi chép ban đầu đến tổng hợp, lập báo cáo và kiểm tra kế toán. Có thể khái quát
mô hình tổ chức bộ máy kế toán của công ty theo sơ đồ dưới đây:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status