Quản trị chiến lược Tập đoàn Avon
Trang 1
Nhóm thực hiện:
1. Hoàng thị kiều Nhi 32k12
2. Trần thị như Ánh 32k12
3. Nguyễn thị thu Trang 32k12
4. Lê trung Đức 32k08
PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC TẬP ĐOÀN MỸ PHẨM AVON
I. TỔNG QUAN VỀ TẬP ĐOÀN MỸ PHẨM AVON
Avon là Tập Đoàn Mỹ Phẩm Hàng Đầu trên thế giới với doanh thu hằng năm đạt trên
8 tỷ đô la Mỹ. Là Tập Đoàn Kinh Doanh Theo Hình Thức Bán Hàng Trực Tiếp,Avon
giới thiệu các sản phẩm làm đẹp cho hàng triệu phụ nữ trên hơn 100 quốc gia thông qua
hơn 5 triệu đại diện bán hàng độc lập của mình trên toàn thế giới. Chủng loại sản phẩm
của Avon rất đa dạng và phong phú như các sản phẩm chăm sóc da, trang điểm, nước
hoa, chăm sóc cá nhân, trang sức, phụ kiện thời trang v.v. được người tiêu dùng trên thế
giới ưa chuộng và tin dùng. Phải nhắc đến các nhãn hiệu đã đi vào lòng người như Anew,
Avon Solutions, Avon Color, Skin-So-Soft, Advance Techniques, . .
LỊCH SỬ CÔNG TY
Bắt đầu từ câu chuyện của một người đàn ông với những ước mơ cháy bỏng của mình
– David H. McConnel – sinh năm 1858, luôn ước mong có thể thành lập một doanh
nghiệp riêng cung cấp các sản phẩm trực tiếp cho người tiêu dùng với giá cả hợp lý.
Bắt đầu từ việc kinh doanh đến nước hoa.
Ước mong của David McConnel bắt đầu được thực hiện từ ý tưởng bán sách. Vào
những năm của thập niên 80, Ông đã gặt hái được những thành công đáng kể từ việc bán
sách trực tiếp đến từng hộ gia đình. Để khuyến khích việc mua hàng, Ông đã sử dụng
nước hoa làm quà tặng cho khách hàng của mình. Dần dần, McConnel nhận ra rằng
khách hàng của Ông yêu thích nước hoa hơn cả sách. Và Ông bắt đầu thành lập doanh
nghiệp riêng mang tên Công Ty California Perfume (tại Hoa Kỳ), cung cấp nước hoa The
Công ty California đổi tên thành Avon Products Inc.
Vào năm 1928, tên gọi Công Ty California Perfume dường như mang tính nội địa quá
so với phạm vi họat động bao phủ khắp 48 tiểu bang của Hoa Kỳ. Nhân chuyến viếng
thăm nước Anh, David McConnel chợt nhận ra nét tương đồng của vùng đất Strattford-
on-Avon – quê hương của danh hào nổi tiếng William Shakespeare với vùng đất nơi
Quản trị chiến lược Tập đoàn Avon
Trang 3
phòng thí nghiệm Suffern tọa lạc. Một dòng sản phẩm mới với tên gọi “ Avon” đã ra đời
vào năm 1929.
Đến năm 1939, công ty chính thức đổi tên thành Công ty Mỹ Phẩm Avon “Avon
Products, Inc”
AVON – KIÊN ĐỊNH NHỮNG GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG
Giá trị kinh doanh hàng đầu của Avon là chất lượng sản phẩm cao cấp. Việc phát triển
sản phẩm kể từ xuất phát điểm là một phòng thí nghiệm sơ khai tại Suffern năm 1897.
Giờ đây, phòng thí nghiệm đó đã trở thành một Trung Tâm Nghiên Cứu và Phát Triển
Sản Phẩm hiện đại & cao cấp – là điểm hội tụ của những tri thức khoa học và tinh hoa thế
giới, gắn kết Avon quá khứ đến hiện tại và tương lai.
Như một khẳng định thuyết phục cho đẳng cấp của mình, suốt 11 năm qua, Avon là
một trong số ít các Công ty vinh dự được bình chọn vào danh sách Top 500 Công Ty
Hàng Đầu Thế Giới hằng năm của Tạp Chí nổi tiếng Fortune kể từ năm 1995.
Bên cạnh đó, Avon luôn kiên định trong các chiến dịch hưởng ứng việc cải thiện cuộc
sống của phụ nữ toàn cầu. Quỹ Hộ Trợ Avon Foundation được thành lập với xuất học
bổng ban đầu khiêm tốn $400 vào năm 1955 và nay Quỹ Hỗ Trợ này đã quyên góp được
số tiền gần ½ tỷ đô-la để hỗ trợ nữ giới toàn cầu. Nổi bật là Chiến Dịch Phòng Chống
Bệnh Ung Thư Vú được khởi xướng tại Anh Quốc vào thập niên 90. Cho đến ngày hôm
nay, Avon đã trở thành Tập Đoàn hỗ trợ nhiều nhất cho việc Phòng Chống Bệnh Ung
Thư Vú trên toàn thế giới.
DANH MỤC SẢN PHẨM
o Naturals
NHỮNG BƯỚC PHÁT TRIỂN QUAN TRỌNG
Ngay từ khi thành lập công ty California Perfumes, David H. McConnel đã xác định
phương thức bán hàng của công ty là bán hàng trực tiếp thông qua những người bán hàng
độc lập.
Bởi vậy, ngày 2/11/1896, công ty California Perfume phát hành cuốn Catalogue đầu
tiên trình bày tỉ mỉ về sản phẩm, công dụng, mùi hương và cách sử dụng của từng loại
nước hoa.
- Năm 1897, khi công việc kinh doanh ngày càng phát triển, công ty California
Perfume xây dựng phòng thí nghiệm đầu tiên tại Suffern, New York. Phòng thí nghiệm
đầu tiên đó, giờ đã trở thành một trung tâm nghiên cứu và phát triển sản phẩm hiện đại &
cao cấp của Avon.
- Năm 1906 quảng cáo về Avon lần đầu tiên xuất hiện trên tạp chí Good
Housekeeping - một tạp chí danh tiếng của Mĩ luôn kiểm tra chất lượng của sản phẩm
trước khi đưa lên trang quảng cáo của họ.
Cũng trong thời gian này, ba sản phẩm nước hoa cao cấp Today, Tomorrow, Always
đã đạt giải thưởng FiFi Award- một giải thưởng tương đương với giải Oscar trong thế
giới nước hoa.
- Năm 1927, sau thành công vang dội từ việc kinh doanh nước hoa, David H.
McConnel cho ra dòng sản phẩm chăm sóc da đầu tiên. Ông ấp ủ mơ ước đưa ra thị
Quản trị chiến lược Tập đoàn Avon
Trang 5
trường tất cả các loại sản phẩm làm đẹp. Không lâu sau đó, mơ ước của David H.
McConnel đã thành hiện thực.
- Năm 1939 Công ty California Perfumes đổi tên chính thức thành công ty mỹ phẩm
Avon. Câu chuyện tình cờ được kể như một truyền thuyết:
Và một điều thật lạ! Không biết có phải bởi cái tên Avon liên quan đến Anh hay
Avon với hoạt động nhân đạo:
Avon là một trong những công ty mỹ phẩm đã gắn bó chặt chẽ hoạt động của mình
với các quỹ nhân đạo.
Năm 1989, Avon đã ủng hộ tích cực việc phát triển phương pháp mới thay thế động
vật trong những thí nghiệm, nhằm bảo vệ môi trường và lưu giữ nguồn gen động vật.
Quỹ chống ung thư vú của Avon được thành lập từ năm 1992. Năm 2004, quỹ hỗ trợ
Avon Foundation với chiến dịch chống bạo hành trong gia đình được thành lập. Đến nay,
đã quyên góp được tổng cộng 450 triệu đô la. Avon đã luôn kiên định trong các chiến
dịch hưởng ứng việc cải thiện cuộc sống của phụ nữ toàn cầu.
Quỹ Avon Foundation hàng năm tổ chức trao những suất học bổng cho phụ nữ và đã
quyên góp được số tiền gần ½ tỷ đô-la để hỗ trợ nữ giới toàn cầu.
Nhưng nổi bật nhất vẫn là mục đích chống ung thư vú. Sau 15 năm hoạt động, Avon
đã trở thành tập đoàn mỹ phẩm hỗ trợ nhiều nhất cho việc phòng chống bệnh ung thư vú
trên toàn thế giới.
Avon - công ty mỹ phẩm bán hàng trực tiếp lớn nhất:
Một quan niệm thông thường được nhiều người khẳng định là: Mỹ phẩm là một loại
hàng xa xỉ, vì vậy mỹ phẩm cao cấp phải được trưng bày ở những nơi sang trọng nhất để
chứng tỏ đẳng cấp của mình.
Avon đã làm thay đổi quan niệm đó, với David H. McConnel, người đã sáng lập ra
Avon, thì sản phẩm của công ty ông có thể xuất hiện ở mọi nơi. Và mọi phương thức bán
hàng quan trọng nhất là phải đưa sản phẩm đến được với khách hàng mục tiêu của mình.
Ra đời từ sự sáng lập của một nhân viên bán hàng trực tiếp xuất sắc, bởi vậy mà Avon
đã trở thành công ty mỹ phẩm bán hàng trực tiếp lớn nhất thế giới. Trong 120 năm tồn tại
Quản trị chiến lược Tập đoàn Avon
Trang 7
và phát triển của mình, Avon khẳng định sự phát triển của công ty là do những mối quan
hệ bền vững giữa khách hàng, người bán hàng và chất lượng sản phẩm.
Cuốn cataloge được Avon coi như một cơ hội nói chuyện với khách hàng cùng với
2. SỨ MỆNH
Công Ty Dẫn Đầu Về Sản Phẩm Làm Đẹp
Chúng tôi sẽ phát triển hàng loạt những sản phẩm làm đẹp và xây dựng những nhãn
hiệu có liên quan, nỗ lực vượt qua đối thủ cạnh tranh về chất lượng,về giá trị và nâng cao
hình ảnh của chúng tôi để trở thành một công ty phục vụ việc làm đẹp mà phần lớn nữ
giới trên thế giới tìm đến.
Là Sự Chọn Lựa Của Nữ Giới Khi Mua Sắm
Chúng tôi sẽ trở thành điểm đến của mọi nữ giới, cung cấp cho họ sự đa dạng các sản
phẩm cũng như kênh phân phối và kinh nghiệm mua sắm độc đáo, đậy cá tính nhằm tạo
dựng những mối quan hệ khách hàng bền vững.
Công Ty Hàng Đầu Về Hệ Thống Bán Hàng Trực Tiếp
Chúng tôi sẽ mở rộng hệ thống bán hàng trực tiếp, dẫn đầu việc tạo lập các kênh phân
phối nhằm cung cấp cơ hội kinh doanh sao cho mang lại thu nhập cao nhất cho Đại Diện
Bán Hàng Độc Lập và khuyến khích họ phát triển cùng Avon.
Là Nơi Làm Việc Tốt Nhất
Chúng tôi được biết đến là công ty hàng đầu có sự lãnh đạo khéo léo bằng niềm đam
mê theo đuổi các chuẩn mực cao qua khát vọng vươn tới việc đa dạng hóa sản phẩm và
cam kết mang lại những cơ hội đặc biệt cho sự nghiệp phát triển nghề nghiệp để nhân
viên có thể phát huy hết khả năng của mình.
Quỹ Hỗ Trợ Phụ Nữ Lớn Nhất
Chúng tôi cam kết trở thành tổ chức quan tâm nhất trên thế giới đến sức khỏe và hạnh
phúc của nữ giới thông qua những nổ lực từ thiện nhằm đẩy lùi căn bệnh ung thư ngực
trên toàn cầu và tiếp sức cho nữ giới nhằm đạt được sự độc lập về tài chính.
Là Công Ty Được Ngưỡng Mộ Nhất
Quản trị chiến lược Tập đoàn Avon
Trang 9
Chúng tôi sẽ theo đuổi không mệt mỏi các cơ hội phát triển kinh doanh mới trong khi
không ngừng tăng lợi nhuận -một công ty có trách nhiệm xã hội và đạo đức kinh doanh
Bán hàng đa cấp ngày càng trở thành một xu hướng phát triển trên thế giới, theo số
liệu thống kê trên thế giới có hơn 30.000 công ty phân phối hàng theo mô hình MLM.
Doanh số toàn ngành MLM đạt hơn 400 tỷ USD. Tốc độ tăng trưởng hàng năm từ 20% -
30%.
Mỗi ngày trên thế giới có 60.000 người tham gia vào ngành MLM.
Cứ 100 người là triệu phú trên thế giới thì có đến 40 người xuất phát từ ngành MLM và
dự báo trong thế kỷ 21 thì 70% hàng hóa và dịch vụ sẽ được phân phối theo phương thức
này.
Trong vòng hơn 55 năm qua, trải qua các giai đoạn phát triển, MLM đã thực sự lớn
mạnh và trở thành một kênh phân phối hợp pháp và hiệu quả. Nếu như trước kia, nó luôn
bị xem như một dạng kinh doanh không chính thức, thậm chí không được thừa nhận;
những nhà doanh nghiệp MLM không nghĩ đến việc có thể được xuất hiện trên các tạp
chí tài chính hoặc trong các bài phóng sự của Wall Street Journal, được nhắc đến trong
các cuộc họp hội đồng quản trị hay tại những cuộc hội nghị khoa học của các trường đại
học về kinh doanh thì cùng với làn sóng thứ 4, MLM đã thoát ra khỏi sự cô lập. Ngày
nay, vai trò quan trọng của mô hình MLM trong nền kinh tế toàn cầu đã được thừa nhận
rộng rãi. Báo chí kinh doanh đưa tin không ngớt về những thành công của lĩnh vực này.
Công chúng xem MLM như một giải pháp cho vấn đề việc làm – một vấn đề nóng của xã
hội hiện đại. Khác với các doanh nghiệp MLM trước kia, các doanh nghiệp làn sóng thứ
4 đã hòa nhập vào thế giới doanh nghiệp nói chung. Cùng với Thương mại điện tử, MLM
đang tạo thành một “làn sóng mới” trong giới kinh doanh ngày nay.
Hình thức bán hàng đa cấp được chấp nhận rộng rãi trên khắp thế giới vì
nó là một kênh phân phối và hiệu quả.
b. MỸ PHẨM SẠCH – XU HƯỚNG
Thực phẩm không an toàn, môi trường ô nhiễm, áp lực công việc đã ảnh hưởng không ít
đến sức khỏe và sắc đẹp của con người. Vì thế, xu hướng sử dụng mỹ phẩm cũng đang có nhiều
sự thay đổi. Hầu hết mọi người đều muốn sử dụng các loại mỹ phẩm sạch và có nguồn gốc rõ
Quản trị chiến lược Tập đoàn Avon
Trang 11
Quản trị chiến lược Tập đoàn Avon
Trang 12
dân vững tin vào túi tiền của mình khi hàng ngày họ phải đối mặt với những thông tin về
việc có thêm doanh nghiệp bị phá sản hay đóng cửa, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, cắt giảm
lương. Hẳn không quá ngạc nhiên khi doanh số bán hàng của các nhà sản xuất trong
ngành công nghiệp thời trang và mỹ phẩm bị giảm sút.
+ Ngành mỹ phẩm dưới tác động của kinh tế suy thoái
Doanh số bán hàng của hãng mỹ phẩm hàng đầu thế giới L’Oréal quý 4/2008 lần đầu tiên
hạ. Doanh số tại thị trường Bắc Mỹ hạ mạnh nhất.
Điều này cho thấy việc kinh tế Mỹ và châu Âu đi xuống ảnh hưởng thế nào tới những
công ty mỹ phẩm hàng đầu thế giới.
Lợi nhuận hàng năm cũng giảm, lợi nhuận năm 2008 là 2,4 tỷ USD, thấp hơn 27%
so với năm 2007.
Sự phân cấp về doanh số giữa các sản phẩm xa xỉ và phổ thông sẽ ngày một tăng. Doanh
số tại Bắc Mỹ hạ 11,3%, doanh số tại Tây Âu hạ1,9%. Doanh số tại châu Á tăng 9%.
Hiện nay, phụ nữ Mỹ chi 1,8 tỷ USD mỗi tháng để mua mỹ phẩm. Các nhà tâm lý học
cho rằng làm đẹp có tác dụng tương đương với thuốc giảm đau trong thời buổi suy thoái
kinh tế.
Thống kê mới đây do hãng mỹ phẩm Avon khảo sát trên 1.000 phụ nữ Anh, cho
thấy các cô gái xứ sở sương mù dành 1,8 tỷ USD mỗi tháng để mua sản phẩm làm
đẹp.Thứ tối quan trọng đối với hầu hết phụ nữ Anh, được 62% số người được hỏi lựa
chọn là mascara. Khoảng 38% các cô gái tham gia khảo sát lại cho rằng son môi là thứ
không thể không mua khi đi shopping. Đứng thứ 3 trong danh sách ưu tiên chi tiền là
phấn phủ với 37% người chọn.
+ Đồng tiền mất giá
Khủng hoảng kinh tế ở Mỹ đã lan sang châu Âu, khiến kinh tế Tây Ban Nha,
Ailen và Đan Mạch bên bờ vực suy thoái; kinh tế Pháp suy yếu và các nền kinh tế đầu tàu
Khủng hoảng kinh tế làm Hoa Kỳ mất vị trí vô địch cạnh tranh. Thâm thủng ngân sách
Hoa Kỳ đạt mức kỷ lục mới với hơn 1.378 tỷ đôla tính trong 11 tháng của tài khóa 2008-
2009. Tuy con số này được xem là khá hơn dự đoán của giới tài chính nhưng thâm thủng
tròn năm sẽ lên đến 11,2% tổng sản phẩm nội địa. Cũng do nợ nhà nước quá cao, Hoa Kỳ
lần đầu tiên bị mất tính cạnh tranh trên bảng xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế Thế giới
WEF, nhường chức vô địch lại cho Thụy Sĩ.
Quản trị chiến lược Tập đoàn Avon
Trang 14
Là đầu tàu kinh tế thế giới và với khủng hoảng lần này kinh tế Mỹ không còn là
chổ dựa của những quốc gia khác. Kim ngạch xuất khẩu giảm mạnh. Ngành mỹ phẩm
cũng như các ngành khác tại Mỹ không gọi là ngoại lệ khi bị tác động trực tiếp. Thị
trường mỹ phẩm ít sôi động hơn trước, người dân đặc biệt là giới trung lưu bù đầu với
những hóa đơn thanh toán nợ được gởi về nhà hằng ngày. Việc chi tiêu làm đẹp cũng
giảm đáng kể.
Các nhân tố quan trọng trong môi trường kinh tế vĩ mô:
+Thất nghiệp
Tỷ lệ thất nghiệp Mỹ tháng 8 lập kỷ lục trong 26 năm qua.số người Mỹ thất
nghiệp tăng chậm lại, tỷ lệ thất nghiệp vẫn leo lên mức cao nhất trong 26 năm.
Đây là dấu hiệu cho thấy đà hồi phục từ thời suy thoái kinh tế sẽ diễn ra chậm. Bộ Lao
động Mỹ công bố giới chủ Mỹ sa thải 216 nghìn việc làm trong tháng 8/2009, thấp hơn
so với mức 276 nghìn của tháng 7/2009. Tỷ lệ thất nghiệp tăng lên mức 9,7%, cao nhất
trong 26 năm.
Số liệu mới nhất về thị trường lao động Mỹ cho thấy thị trường này sẽ chưa thể
hồi phục cho đến năm 2010. Với số lượng người thất nghiệp dài hạn lên tới gần 5 triệu,
nhiều người lao động đương đầu với việc mất đi kỹ năng và sau này sẽ gặp nhiều khó
khăn trong tìm việc làm mới.
Thời gian qua, trước nguy cơ thất nghiệp gia tăng làm nảy sinh tình trạng bất ổn
Price Index) là chỉ số tính theo phần trăm để phản ánh mức thay đổi tương đối của giá
hàng tiêu dùng theo thời gian. Sở dĩ chỉ là thay đổi tương đối vì chỉ số này chỉ dựa vào
một giỏ hàng hóa đại diện cho toàn bộ hàng tiêu dùng. Đây là chỉ tiêu được sử dụng phổ
biến nhất để đo lường mức giá và sự thay đổi của mức giá chính là lạm phát. 26,2% dự
định giữ nguyên mức chi tiêu so với năm ngoái. 29,1% cho biết còn quá sớm để biết họ
sẽ chi tiêu ra sao, trong khi đó 5,8% cho biết họ sẽ không tổ chức các kì nghỉ lễ năm nay.
Trong số những người lên kế hoạch chi tiêu ít hơn, 69,1% cho biết họ sẽ cắt giảm các
khoản ngân sách nói chung. 48,3% cho biết họ sẽ mua quà chỉ khi được giảm giá. 32,4%
giảm bớt số lượng họ hàng được họ tặng quà và 30,7 % giảm số lượng bạn bè được tặng
quà. Theo cuộc khảo sát, tuy còn nhiều tháng nữa mới đến các kì nghỉ lễ những người
tiêu dùng Mỹ đang lo lắng về các khoản chi của họ.
Đây được xem là dấu hiệu mới nhất cho thấy, chi tiêu dùng tại Mỹ sẽ khó đủ sức để vực
dậy nền kinh tế lớn nhất thế giới này khỏi suy thoái.
Quản trị chiến lược Tập đoàn Avon
Trang 16
Cũng theo FED, tính tới tháng 7 này, tín dụng tiêu dùng tại Mỹ đã giảm tháng thứ 6 liên
tiếp, đánh dấu thời kỳ sụt giảm liên tục dài nhất từ năm 1991 tới nay. Trước đó, trong
tháng 6, dư nợ tín dụng tiêu dùng của Mỹ đã giảm 15,5 tỷ USD so với tháng 5.
“Đây là một dấu hiệu quan trọng nữa cho thấy người tiêu dùng Mỹ sẽ không đóng góp
nhiều vào sự phục hồi kinh tế trong năm nay, và thậm chí có thể trong cả một thời gian
của năm tới”, ông Bernard Baumohl, chuyên gia kinh tế trưởng toàn cầu của tổ chức
nghiên cứu The Economic Outlook Group có trụ sở ở bang New Jersey nhận định.
Nguyên nhân chủ yếu khiến cho chỉ số giá tiêu dùng của Mỹ giảm là do từ tháng
7/2008, giá năng lượng giảm mạnh đến 28,1%. Được biết, do viễn cảnh u ám của nền
kinh tế cũng như giá thành năng lượng giảm, trong 12 tháng qua, tổng mức giảm của chỉ
số giá tiêu dùng tại Mỹ giảm mạnh nhất trong sáu năm qua.
+ Tỷ lệ lạm phát.
đem lại giá trị tốt cho khách hàng bằng phương thức bán hàng bằng miệng, tiếp xúc trực
tiếp với khách hàng của mình.
Và nước Mỹ được coi là một trong những quốc gia có môi trường kinh doanh, môi
trường cạnh tranh thông thoáng, trật tự, ổn định và khá bình đẳng như: Bảo vệ và duy trì
cạnh tranh là mục tiêu trọng tâm bằng cách không cho phép độc quyền, cấm cạnh tranh
không lành mạnh và loại bỏ hành động phân biệt và câu kết về giá, bảo vệ quyền lợi của
người tiêu dùng, bằng cách cấm những hình thức kinh doanh, cạnh tranh thiếu công bằng,
mang tính lừa dối. Một điều đáng chú ý nữa là công ty có số lượng phụ nữ là nhân viên
cao. Chính trị nước này rất khuyến khích và đề cao vai trò của người phụ nữ.
Cơ hội: Môi trường cạnh tranh thông thoáng, trật tự ổn đinh và khá bình đẳng.
Pháp luật không quá khắc khe đối với ngành mỹ phẩm. Chính trị nước này rất
khuyến khích và đề cao vai trò của người phụ nữ.
c. MÔI TRƯỜNG CÔNG NGHỆ
Thực tế, trong những năm 90, các nhà kinh tế học đã dự báo rằng xuất khẩu hàng hóa
công nghệ cao sẽ tăng cùng với tăng trưởng thương mại. Tuy nhiên, không ai dự đoán
được việc sản xuất các sản phẩm được xem là giá trị nhất trong cuộc cách mạng công
nghệ tại Mỹ là dược phẩm và điện tử công nghệ cao lại được chuyển ra nước ngoài nhanh
đến vậy và làm giảm xuất khẩu của Mỹ.
Quản trị chiến lược Tập đoàn Avon
Trang 18
Không có nhiều ngạc nhiên khi mà môi trường công nghệ tác động mạnh đến đời
sống kinh tế toàn cầu như vậy. Bên cạnh những công nghệ viễn thông thì môi trường
công sinh học tác động một vai khá lớn. Ngày nay, các doanh nghiệp chú trọng hơn trong
việc bảo vệ môi trường, và từ đó những công nghệ sinh học thành mối quan tâm hàng
đầu, các chiến dịch xanh liên tiếp nỗ ra mang thông điệp bảo vệ sức khỏe cộng đồng và
môi trường. Ngành mỹ phẩm nói chung, cũng chẳng khác gì luôn luôn muốn đem lại giá
trị tốt nhất cho khách hàng và bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Điều này thôi thúc các doanh
nghiệp mỹ phẩm tại Mỹ luôn tìm tòi để có được công nghệ làm đẹp hoàn mỹ nhất. Vì vậy
mỗi giới khác nhau trong xã hội việc chi tiêu và sở hữu sản phẩm cũng khác nhau.
Cơ hội: Tốc độ tăng dân số nhanh tạo ra nguồn cung cho ngành mỹ phẩm.
e. MÔI TRƯỜNG VĂN HÓA XÃ HỘI
Nền tảng của văn học Mỹ đã được xây dựng từ những câu chuyện thần thoại,
những truyền thuyết, những câu chuyện cổ tích và những bài ca trữ tình được truyền
miệng từ các nền văn hóa của người da đỏ. Truyền thống truyền miệng của người Mỹ bản
địa tương đối phong phú. Các câu chuyện của người da đỏ thường tỏ ra sùng kính thiên
nhiên và coi thiên nhiên như người mẹ vật chất lẫn tinh thần. Thiên nhiên là một thực thể
sống động và mang lại sức mạnh tinh thần; các nhân vật chính trong tự nhiên có thể là
loài vật hoặc cây cối, đôi khi là các vật tổ gắn liền với mỗi bộ lạc, mỗi tộc người hoặc
mỗi cá nhân.
Trong những năm gần đây, ngày càng có nhiều xã hội trên khắp thế giới bắt đầu
nhận thấy sự đóng góp vô cùng quan trọng của phụ nữ vào hoạt động thương mại, cộng
đồng và vào đời sống dân sự. Dù đó là sự kiện phụ nữ Afganistan đi bỏ phiếu bầu cử tổng
thống hay việc phụ nữ bắt đầu mở những cơ sở kinh doanh siêu nhỏ tại Êtiôpia, thì xu thế
hướng tới quyền bình đẳng hơn nữa của phụ nữ trên toàn thế giới đều đã rõ ràng.
Xã hội Mỹ là nơi mà vai trò của người phụ nữ khá là quan trọng. Luôn luôn đề cao
vai trò của người phụ nữ và đặc biệt là trong kinh doanh. Văn hóa truyền miệng của
người Mỹ đã như một đòn bẫy nâng cao vai trò của những nhà quản trị. Mô hình kinh
doanh này thực sự đặc biệt và đánh vào tâm lý người Mỹ như một lời nói thật, tạo nên sự
tin tưởng cao từ họ.
Cơ hôi: Hình thức marketing này thực sự đặc biệt và đánh vào tâm lý
người Mỹ như một lời nói thật, tạo nên sự tin tưởng cao từ họ. Và vai trò
người phụ nữ được đề cao đặc biệt là trong kinh doanh.
Quản trị chiến lược Tập đoàn Avon
Trang 20
Trang 21
sản phẩm mà các công ty trong ngành con ra sức cho ra những sản phẩm mới. Điều này
đã làm cho chu kỳ sản phẩm ngày càng trở nên ngắn và rất ngắn. Khách hàng không
thực sự nhận biết sản phẩm nào thực sự phù hợp với mình để lựa chọn. Cạnh tranh gây
gắt ở từng đoạn thị trường khác nhau và chủng loại sản phẩm đã khiến cho các công ty
nhỏ của ngành phải từ chức và thực hiện việc thu hồi vốn dựa trên những sản phẩm đã
có. Còn những đại gia thì ra sức tìm tòi và lôi kéo khách hàng của những công ty khác.
Nói tóm lại, sự ganh đua của ngành tương đối mạnh mà đặc biệt là trong giai đoạn này
ngành thì đạt được lợi thế cạnh tranh là khá khó. Các công ty thi nhau chọn và mua cho
mình những gương mặt đại diện mới nhất và có sức ảnh hưởng nhất trong làn sóng
nghệ thuật của Mỹ và thế giới.
2. ĐE DỌA XÂM NHẬP NGÀNH
Xu hướng ngày nay là khách hàng hướng tới sử dụng mỹ phẩm sạch những loại sản phẩm
được chiết xuất từ thiên nhiên. Chính vì vậy mà các hàng mỹ phẩm lớn luôn luôn muốn
thay đổi và đưa vào những sản phẩm của mình những tinh tố từ thiên nhiên. Hiện nay đã
có nhiều vụ kiện tụng về mỹ phẩm gây tổn hại đến sức khoẻ, cũng có thể nhiều nguyên
nhân, nhưng những tai tiếng đó đã tác động đến uy tín của những công ty lớn.
Đối thủ cạnh tranh tiềm tàng của công ty là những hãng dược phẩm lớn. Với công nghệ
có sự tương đồng họ có khả năng thay đổi và đón lấy thị trường mỹ phẩm.
Ở đây, rào cản nhập cuộc là không cao lắm, vì khả năng chuyển giao của đối thủ là khá
cao. Một trong những uy tín mà công ty dược phẩm tạo ra thực sự làm cho khách hàng
yên tâm về chất lượng sản phẩm.
Khả năng chuyển giao công nghệ khá cao cho những công ty có khả năng xâm nhập
ngành. Và khách hàng thực sự quá quen thuộc với những sản phẩm dạng kem và mùi
nước hoa quen thuộc. Chính điều này đã hạ thấp rào cản nhập cuộc cho những công ty có
ý tưởng táo bạo muốn thay vị trí bằng một thế hệ sản phẩm mới hơn. Một loại sản phẩm
mà chỉ có những người có khả năng chi trả mới có được vì chúng được bào chế rất công
phu nhưng mang tính thủ công cao.
nhiều hơn những sản phẩm cho ngành nên đòi hỏi đó đã tạo ra những áp lực nhất định
cho nhà cung cấp phải thực sự đa dạng nhiều hơn nữa. Vì vậy mà ngành đã tạo một thế
Quản trị chiến lược Tập đoàn Avon
Trang 23
mạnh nhất định lên nhà cung cấp của mình để cùng hướng đến mục tiêu phát triển lâu
dài.
Đối với nhà cung cấp nguyên liệu cho đầu vào của sản phẩm thì khả năng thương lượng
của họ khá thấp. Vì mang tính nhỏ lẽ và không tập trung hơn nữa có nhiều kiểu cung cấp
ví dụ như : nhà cung cấp nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, nông dân
Mức độ tập trung không cao và rất nhiều công ty đang cạnh tranh để có được những đối
tác béo bở của những đại gia trong ngành điều này dẫn đến khả năng ảnh hưởng
cua nhà cung cấp không cao đối với các công ty trong ngành.
5. ĐE DỌA CỦA NHỮNG SẢN PHẨM THAY THẾ.
Kỹ nguyên của những sản phẩm dưỡng gia bằng kem sữa đã đi sâu vào lịch sử làm đẹp
và tạo ra căn bệnh căn nguyên cho những người sử dụng. Môi trường ô nhiễm luôn đe
dọa đến sắc đẹp của mỗi chúng ta, sự lạm dụng mỹ phẩm quá mức đã thực sự đem lại kết
quả không tốt đến khách hàng. Nhu cầu sử dụng sản phẩm ngày càng giảm. Hơn nữa
mức độ tin tưởng vào những sản phẩm là giảm dần theo cảm nhận của khách hàng.
Những yếu tố này đã gây nên những đe dọa sản phẩm thay thế cho ngành. Mức đe
dạo nằm ở mức độ báo động. Buộc những công ty trong ngành hết sức nguyên tắc khi
một sản phẩm mới của ngành được tung ra. Một sự nhận thức khác sẽ tạo cho ngành bị
động và khó có thể phán đoán những suy nghĩ trong tương lai của khách hàng. Liên tục
những sản phẩm mới được tung ra thị trường không phải là những giá trị tốt nhất đem lại
cho khách hàng. Và rồi các trung tâm massage ra đời dành cho cả nam và nữ kèm thêm
dịch vụ làm đẹp mà không sử dụng những lại mỹ phẩm gây lão hóa nữa mà thây vào đó
là những bài thuốc cổ tuyền làm đẹp từ sản phẩm thiên nhiên. Nhưng đây mới chỉ là đe
dọa cho những chủng loại sản phẩm mỹ phẩm định vị cấp cao mà liên quan đến chăm sóc
da. Nhưng không phải sản phẩm nào cũng sẽ phải bị thay thế. Tính tiện ích và những giá
cua ngành đó là sự uy tín của công ty và lòng trung thành nhãn hiệu của khách
hàng.
VI. PHÂN TÍCH BÊN TRONG.
Chiến lược hiện tại của Avon
Sáng kiến chiến lược của công ty
Công ty hướng đến sự bao hàm toàn diện, trong những năm liên tiếp có những kế hoạch
thay đổi để phục hồi sự tăng trưởng bền vững. 4 cách tiếp cận trong chiến lược là:
- Tạo nên tính cạnh tranh thương hiệu tập trung vào nghiên cứu và phát triển
Quản trị chiến lược Tập đoàn Avon
Trang 25
nguồn lực trong sự cải tiến sản phẩm và bằng cách gia tăng những chương trình quảng
cáo của công ty.
- Khai thác toàn bộ các khía cạnh để tạo ra lợi nhuận bằng cách tận dụng hay
sử dụng 1 cách hiệu quả về chính sách định giá và hỗ trợ bán hàn, mở rộng chương trình
“Sales Leadership” và cải thiện sự thu hút các đại diện bán hàng tìm kiếm cơ hội và nhu
cầu cần thiết.
- Đánh giá hiệu quả tổ chức hoạt động bằng cách thiết kế lại cơ cấu công ty
để loại trừ những kiểu quản lý trì hoãn và đón lấy những thuận lợi tốt nhất cho chiến lược
toàn cầu của công ty.
- Thay đổi hoàn toàn kết cấu giá trị để những giá trị của công ty được đinh
hướng đúng đến tăng trưởng hàng năm và duy trì giá trị đó.
Chiến lược mà công ty đang theo đuổi.
- Chiến lược mà công ty đang thực hiện nhằm mục đích hướng đến giá trị được nhất
quán hóa trên toàn cầu. Chiến lược đa dạng, tiếp tục tìm kiếm và phục vụ các khe hở thị
trường mà trước đây công ty đã bỏ rơi. Avon muốn chứng tỏ mình về sự nỗi tiếng kinh
doanh dựa trên nền tảng quan hệ là chính. Vẫn dựa trên chiến lược cũ mà công ty đã theo
đuổi là đáp ứng tốt hơn và nhiều hơn nữa cho phụ nữ toàn cầu phù hợp với sự định vị
thương hiệu của công ty là công ty của phụ nữ.