Logic và tiếng việt, những câu chuyện trí tuệ về lập luận logic - Pdf 27

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Logic và tiếng việt, những câu chuyện trí tuệ về lập luận logic
I. Khái lược logic học
1. Logic học
Logic học đã phát triển từ rất sớm ở các nước Hi Lạp, Trung Quốc và ấn Độ,
trong đó nổi bật nhất là ở Hi Lạp. Logic học được hình thành từ thế kỷ thứ IV trước
công nguyên với tên tuổi của nhà triết học vĩ đại Aristote (384-322tcn), ông là
người sáng lập ra ngành khoa học này.
Thuật ngữ logic nguyên là một từ gốc Hi Lạp (logike) với ý nghĩa là một
môn khoa học về tư duy và từ này lại bắt nguồn từ một từ khác logos có nghĩa là
"lời nói", "trí tuệ", "lập luận". Thuật ngữ này đi vào tiếng La tinh thành logica. Từ
này là nguồn gốc của hàng loạt từ cùng nghĩa trong các ngôn ngữ ở châu âu như:
logika (Nga, Ba Lan), logic (Anh), logique (Pháp),...
Từ logic của tiếng Việt bắt nguồn từ logique - một từ Pháp xuất hiện vào thế
kỷ XIII. Thuật ngữ này trước đây còn gọi là "luận lý học", "lý học". Thuật ngữ
logic thường được sử dụng với hai nghĩa sau:
Khoa học về hình thức và quy luật của tư duy. Nghiên cứu tư duy với tư cách
là hệ thống ánh phản về giới hiện thực được xem xét dưới góc độ tính chân thực
hay giả dối của các ánh phản ấy. Tức là nó nghiên cứu những quy luật và hình thức
suy luận của tư duy nhằm đi tới sự nhận thức đúng đắn hiện thực khách quan.
Những mối liên hệ tất yếu có tính quy luật giữa các sự vật và các hiện tượng
trong hiện thực khách quan cũng như giữa những ý nghĩ, tư tưởng trong tư duy,
trong lập luận của con người.
Cho tới nay, sự phát triển của logic học đã trải qua nhiều giai đoạn và đạt
được những thành tựu to lớn, nó chiếm một vị trí vô cũng quan trọng trong đời
sống.
Có thể nói trong mọi môn học, trong mọi nghề nghiệp chúng ta đều phải sử
dụng "tính logic" của nó. Nhờ logic mà môn học đó có tính chặt chẽ và chính xác
hơn, trong công việc nhờ logic sẽ giúp chúng ta thành đạt hơn. Và một điều hiển
nhiên chúng ta rất dễ nhận biết đó là trong cuộc sống hàng ngày thường xuyên nghe
những câu "không logic", "nói chẳng ăn khớp gì hết", "nói như vậy là có lý", "mâu

-Ngôn ngữ còn có những câu khác nữa
không phải là phán đoan: câu cảm thán,
mệnh lệnh, cầu khiến,...
2
Cú pháp Logic dùng các tác tử logic dể tạo phán đoán mới từ một hay nhiều
phán đoán đã biết. Ngôn ngữ cũng có những liên từ tương ứng và có
chức năng tương tự như các liên từ logic.
- Người ta quan tâm đến
giá trị chân lý của các
phán đoán.
-Quan tâm tới phương
diện hình thức cấu tạo-
logic đơn trị về cấu trúc.
- Cần đúng theo nguyên tắc cú pháp và
phương diện ngữ nghĩa.
-Do có nhiều cách diễn đạt của cùng một
nội dung nên có hiện tượng đa trị về cấu
trúc
Quy luật -Là những quy luật, quy
tắc hình thức, phổ quát
và cố định.
-Suy luận hoàn toàn hình
thức.
-Quy luật quy tắc của ngôn ngữ, bên
cạnh đặc điểm hình thức còn phụ thuộc
vào nội dung. Ngoài cái phổ quát chung
cho mọi ngôn ngữ còn có đặc thù cho
từng ngôn ngữ riêng.
-Ngoài suy luận hình thức như logic còn
suy luận qua cấu trúc, ngữ cảnh, tri

Có hai người bạn tham ăn ngồi ăn cơm với nhau nhưng muốn tỏ ra lịch sự.
Khi trong đĩa chỉ còn hai miếng thịt gà, một to, một nhỏ thì họ đều ngồi im chờ đợi.
Cả hai đều nghĩ: "Nếu anh ta gắp thịt gà trước, thì anh ta sẽ gắp miếng nhỏ để tỏ
thái độ lịch sự". Họ chờ mãi, một lúc lâu sau một anh đã gắp miếng thịt gà to lên.
Thấy vậy người kia lập tức mắng bạn mình:
4
- Bác thật là thiếu lịch sự! Nếu là người lịch sự, khi gắp trước bác phải gắp
miếng bé trước chứ!
Người thứ nhất hỏi lại:
- Nếu là bác thì bác sẽ gắp miếng nào?
- Tất nhiên là gắp miếng bé rồi! Người kia bực tức trả lời.
- Vậy thì đằng nào miếng to cũng là của tôi, thưa bác!
Người thứ nhất mỉm cười và tiếp tục ăn.
2. Lập luận trong những câu chuyện trí tuệ người xưa
Lập luận có nhiều cách khác nhau được con người áp dụng vào mọi lĩnh vực
của đời sống. Có các dạng lập luận như:
- Lập luận theo logic
- Lập luận theo logic tự nhiên
- Chứng minh và bác bỏ
- Ngộ biện và nguỵ biện
Trong mỗi dạng này lại có những cách lập luận chi tiết hơn. Trong giới hạn
của mình, ở bài viết này chỉ đưa ra một số dạng lập luận được các nhà trí tuệ xưa
đưa vào áp dụng một cách rất hóm hỉnh và thông minh.
2.1. Lập luận theo logic
Trong logic, từ một hoặc một số mệnh đề (còn gọi là phán đoán) đã biết, ta
suy ra được một mệnh đề mới thì sự suy ra đó được gọi là một phép suy luận, phép
suy diễn hay một lập luận.
Câu chuyện dưới đây cho ta thấy tài lập luận của Khổng Dung theo quy luật
logic
"Khổng Dung là nhà văn học cuối thời Đông Hán (153-208). Có một lần ông


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status