Website: Email : Tel : 0918.775.368
Logic và tiếng việt - Một số kiểu lập luận về tài ứng đối qua một số chuyện
trạng truyền tụng trong dân gian Việt Nam (theo “Kho tàng truyện trạng
Việt Nam”)
I. Đại cương
Trong cuộc sống, con người luôn luôn cần dùng đến lập luận. Dùng lập
luận để chứng minh một điều gì đó. Dùng lập luận để thanh minh, để giải thích
một sự kiện nào đó, để thuyết phục người khác tin vào một sự kiện và cũng có
thể lập luận để bác bỏ một ý kiến khác. Vì vậy, sự lập luận có tầm quan trọng
đặc biệt [191,1]. Từ xa xưa cũng như hiện nay chúng ta gặp rất nhiều lập luận
không phải là những logic hình thức nhưng lại hoàn toàn chấp nhận được vì
chúng là những logic đời thường, lí lẽ đời thường. Đó là những lí lẽ dựa trên
những nền tảng đạo lí, tập tục, văn hoá xã hội của mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng.
Những loại lý lẽ này không thể tìm thấy trong logic học hình thức. Chính vì vậy,
nó là cơ sở để ra đời logic học phi hình thức. Hay nói chính xác hơn đó là
phương thức lập luận.
Như ta đã biết, lập luận muốn có sức thuyết phục cần dựa trên những lí lẽ
đáng tin cậy. Ta có thể thấy rõ vai trò quan trọng của những lí lẽ trong lập luận.
Nó được xem là “xương sống” của lập luận.
Sử dụng tốt phương pháp lập luận có nghĩa là chúng ta đã nắm giữ được
nghệ thuật quý báu của ngôn từ và một tư duy mạch lạc. Phương pháp lập luận
cùng những tư duy logic gắn liền với ngôn ngữ. Kỹ năng truyền đạt càng có hiệu
quả thì phương pháp lập luận càng thành công. Do đó, những người có công
việc gắn liền với việc sử dụng ngôn từ đều rất chú trọng tới phương thức lập
luận. Đó là những chính khách, những nhà ngoại giao, những luật sư, thẩm
phán..., ngay cả trong cuộc sống thường nhật hàng ngày nó cũng rất cần thiết.
Trong truyện “Trạng hoá cọp” có giai thoại như sau: “Cuối thế kỷ XI vào
thời nhà Lý, trạng nguyên Lê Văn Thịnh (giữ chức Lang trung binh bộ) sang đàm
phán với sứ giả nhà Tống là Thanh Trạc bàn về cương giới thuộc hai châu Quy
Hoá và Thuận An. Chính tại cuộc hội nghị này, Lê Văn Thịnh nói rõ hai vùng đất
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
* Sơ đồ khái quát của một lập luận
D C
(Tiền đề, sự kiện) (Kết đề)
L
(Lí lẽ, luật suy diễn)
Trong một lập luận, có 3 thành tố logic là:
Tiền đề: là một hoặc nhiều dữ kiện xuất phát làm căn cứ cho lập luận, từ
đó suy ra kết đề.
Kết đề: là một khẳng định đích hay là một khẳng định mục tiêu.
Lí lẽ: (gọi là luật suy diễn hay là luận chứng) là những yếu tố mà nhờ đó
từ tiền đề chúng ta suy ra kết đề. Những yếu tố này có thể là những nguyên lý,
quy luật tự nhiên, những định lý, định luật, quy tắc trong các ngành khoa học tự
nhiên, kĩ thuật, và cũng có thể là những lí lẽ trong logic đời thường.
Tác tử lập luận: là những yếu tố tác động vào một phát ngôn sẽ tạo ra một
định hướng nghĩa tạo nên tiềm năng cho một lập luận xác định.
Kết tử lập luận: là yếu tố liên kết tiền đề với kết đề trong một lập luận.
Theo ví dụ trên, trong cách lập luận của Lê Văn Thịnh có câu: “Bọn được
giao cho coi giữ mang nộp và trốn đi thì đó là đất ăn trộm” ta có:
Tiền đề là: Bọn được giao cho coi giữ đất lại đem cống nộp rồi trốn đi
Kết đề là: Đất đem cống đó là đất ăn trộm.
Lí lẽ: Bọn được giao cho đất, đã không xin phép chủ lại đem cống cho
người khác rồi trốn đi thì rõ ràng đó là đất ăn trộm.
Kết tử lập luận: là liên từ “(nếu).... thì...” hoặc có thể là “(hễ)......thì.....”
đều chấp nhận được. ở trong lập luận kết từ liên từ trên được rút gọn chỉ còn một
từ “thì”.
Ví dụ 2:Trong sách viết về Khổng Tử có đưa ra những lời nhận xét của
Nhan Hồi với tấm lòng cảm phục về ông như sau:
Website: Email : Tel : 0918.775.368
“ Giữa anh em mình với nhau, có thể đánh giá cao thấp lẫn nhau nhưng
của nó lại thêm một lần biến hoá. “Chuyện trạng” trở nên một cách rộng nghĩa
không ngờ. Có kể “chuyện trạng”, có “nói trạng” và có các nhân vật được mang
“danh hiệu trạng” (trạng theo học vị hay trạng dân phong). Đúng vậy, trong kho
tàng cổ tích, tiếu lâm Việt Nam, có khá nhiều nhân vật được mang danh hiệu
trạng. Họ không có học vị đã đành, nhưng tên tuổi họ đi vào dân gian lại không
phải chủ yếu vì tài năng học tập mà do “hành trạng” của họ có những nét gì đó
mang phong cách trạng và đậm màu cổ tích (cổ tích thế sự, không phải cổ tích
thần kỳ).
Cái để chuyện trạng tồn tại đến bây giờ chính là giá trị giáo dục mang tính
trí tuệ lại khá dí dỏm được cha ông ta đúc kết lưu truyền lại. Trong đó tài ứng
đối thông minh khéo léo được đề cập nhiều hơn cả chính vì vậy mà tôi đã lựa
chọn nó để viết tiểu luận này. Tài ứng đối thông minh luôn gắn liền với việc sử
dụng nghệ thuật ngôn từ cũng như việc sử dụng các phương pháp lập luận đầy
sức thuyết phục. Ta có thể thấy rõ, ông cha ta trước đây luôn có ý thức sử dụng
từ ngữ trong mọi tình huống. Họ biết làm thế nào để gò gẫm tiếng nói thông
thường theo những kiểu lý luận thông tục và nhất là theo cách nói lái rất tài tình,
độc đáo của ngôn ngữ Việt.
Trong tiểu luận này, tôi lựa chọn ngẫu nhiên một vài ví dụ về tài ứng đối
được giới hạn trong “Kho tàng truyện trạng Việt Nam” nhằm chỉ ra những
phương pháp lập luận phi hình thức. Để từ đó chúng ta càng hiểu cái hay, cái
đẹp, cái tài, cái thú vị trong ứng đối của người xưa. Điều đó đáng được gìn giữ
và trân trọng. Mục đích nhằm chỉ ra các phương pháp lập luận nên tôi đã không
lựa chọn những ví dụ với tài ứng đối qua thơ, qua chơi chữ... mà chủ yếu là qua
tài hùng biện, qua đối đáp câu từ.
II. Một số kiểu lập luận về tài ứng đối trong giai thoại trạng Việt Nam
1. Lập luận chứng minh và bác bỏ
1.1. Chứng minh
Là một thao tác logic để xác định tính chân thực của một luận đề nào đó.
Muốn chứng minh một phán đoán B cần dựa trên những luận cứ, những phán
đoán khác, gọi chung là A. Quá trình suy từ A ra B được dựa trên một chuỗi các