Luận văn tốt nghiệp Hoàn thiện Hệ thống kiểm soát nội bộ trong lĩnh vực xây lắp thiết kế tại Tổng công ty Công trình giao thông 5 - Cicenco 5 - Pdf 27

Luận văn tốt ngiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Nếu là một nhà đầu tư, đứng trước một quyết định đầu tư vào một
Doanh nghiệp nào đó thì bạn quan tâm đến vấn đề gì đầu tiên. Hay với tư
cách là một nhà quản lý Doanh nghiệp thì bạn mong muốn điều gì ở doanh
nghiệp của mình. Chắc chắn rằng bất cứ ai ở địa vị đó cũng không mong
muốn gì hơn là Doanh nghiệp đó hoạt động có hiệu quả. Vậy thì làm thế nào
tin tưởng rằng Doanh nghiệp đó hoạt động có hiệu quả? Hoạt động kiểm toán
ra đời từ đáp ứng nhu cầu đó.
Để có thể đảm bảo hoạt động của Doanh nghiệp là có hiệu quả thì các
nhà lãnh đạo phải mời các chuyên gia kiểm toán đến để thực hiện kiểm toán
cho Doanh nghiệp của mình. Biện pháp này rất có hiệu quả tuy nhiên chi phí
lại tốn kém và lại không thể thực hiện một cách thường xuyên được. Bên cạnh
đó có một biện pháp khác là Doanh nghiệp tự thiết lập một bộ phận chuyên
trách thực hiện nhiệm vụ kiểm soát các hoạt động của các bộ phận. Biện pháp
này giúp Doanh nghiệp đảm bảo hiệu quả hoạt động trong từng khâu công
việc mà chi phí lại không tốn kém như biện pháp trên.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, cùng với tiến trình
công nhiệp hoá hiện đại hoá đất nước thì việc thiết lập Hệ thống kiểm soát nội
bộ đang trở thành một vấn đề cần thiết hơn bao giờ hết đặc biệt đối với các
Doanh nghiệp có qui mô lớn, các tập đoàn kinh tế, các Tổng công ty…
Là một sinh viên chuyên ngành kiểm toán, ngay từ đầu đã rất tâm đắc
với các vấn đề về việc xây dựng và thiết lập Hệ thống kiểm soát nội bộ trong
Doanh nghiệp. Được thực tập tại Tổng công ty Công trình giao thông 5 -
Cicenco 5 là một cơ hội tốt cho em được tiếp tục học hỏi sâu thêm về vấn đề
này. và cũng chính vì thế mà em quyết định chọn đề tài “ Hoàn thiện Hệ
thống kiểm soát nội bộ trong lĩnh vực xây lắp thiết kế tại Tổng công ty Công
trình giao thông 5 - Cicenco 5“ làm Luận văntốt nghiệp của mình. Luận
vănbao gồm 3 phần:
Phần 1. Lý luận chung về hệ thống kiểm soát nội bộ tại các Doanh nghiệp
Trình bày các vấn đề liên quan đến hệ thống kiểm soát nội bộ tại

1.1. Khái niệm kiểm soát trong quản lý
Quản lý là quá trình định hướng và tổ chức thực hiện các hướng đã
định trên cơ sở những nguồn lực xác định nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Quá
trình này bao gồm nhiều chức năng và có thể chia thành nhiều pha (giai
đoạn): ở giai đoạn định hướng cần có những dự báo về nguồn lực và mục tiêu
cần và có thể đạt tới, kiểm tra lại các thông tin về nguồn lực và mục tiêu, xây
dựng các chương trình, kế hoạch Sau khi các chương trình, kế hoạch đã
được kiểm tra có thể đưa ra các quyết định cụ thể để tổ chức thực hiện, cần
kết hợp các nguồn lực theo phương án tối ưu, đồng thời thường xuyên kiểm
tra diễn biến và kết quả của các quá trình để diều hoà các mối quan hệ, điều
chỉnh các định mức và mục tiêu trên quan điểm tối ưu hoá kết quả hoạt động.
Như vậy là kiểm tra kiểm soát không phải là một pha hay một giai đoạn
của quá trình quản lý mà nó được thực hiện ở tất cả các giai đoạn của quá
trình này. Bởi vậy kiểm tra kiểm soát được hiểu là một chức năng của quản
lý. Hay nói cách khác kiểm soát là một chức năng thẩm định độc lập được
thiết lập nhằm mục đích để xem xét và đánh giá các hoạt động của một tổ
chức với tư cách là một sự trợ giúp đối với tổ chức đó.
Vậy kiểm soát nội bộ là gì? kiểm soát nội bộ cũng là một loại kiểm soát
tức cũng có nghĩa là một chức năng thẩm định nhưng chức năng này được
thiết lập bên trong một tổ chức để xem xét và đánh giá các hoạt động của tổ
chức đó và cũng với tư cách là một sự trợ giúp đối với các tổ chức đó.
Ngô Thị Thanh Tâm Kiểm toán 42C
3
Luận văn tốt ngiệp
Quá trình kiểm soát là rất cần thiết trong tất cả các lĩnh vực hoạt động
của con người, của một tổ chức hay của toàn Xã hội. Kiểm soát được xem là
một hoạt động của tổ chức hay là một bộ phận của bất kỳ hoạt động có tổ
chức nào đó nên nó tồn tại ở hầu hết các cấp độ tổ chức và nó thu hút được sự
quan tâm của nhiều người trong tổ chức đó. Kiểm soat tồn tại như một khâu
độc lập của quả trình quản lý nhưng đồng thời nó lại là một bộ phận xuyên

phải thực hiện việc tóm lược hoạt động có liên quan. Việc thiết kế những
nhiệm vụ của tổ chức cũng có thể tạo ra những cơ hội đảm bảo cần thiết qua
sự đánh giá những quyết định kinh doanh chủ yếu và hành động thực hiện.
Nhân tố chung là có một kế hoạch kiểm soát lập sẵn hoắc có một cách sắp đặt
để trong điều kiện bình thường sẽ mặc nhiên giúp vào một hành động bảo vệ
hoặc cải tiến.
 Kiểm soát sau hành động
Loại kiểm soát thứ ba này trùng với hai loại kiểm soát đã trình bày ở
trên, nhưng nó được phân biệt là hành động kiểm soát xảy ra sau, và tiến hành
theo hình thức có hiệu quả nhất trong hoàn cảnh hiện thời. Hoạt động đó có
thể là sửa chữa một sản phẩm hoặc thay đổi một chủ trương hay một tiến
trình. Hoặc là hành động có thể thải hồi hay tái tuyển một nhân viên. Hoạt
động sau sự việc có thể là đã làm ngay hay phải nghiên cứu thêm và triển
khai. Ở đây, kiểm soát cần được hiểu là xem xét lại quá khứ nhưng bao giờ
cũng hướng vào cải tiền tương lai.
2. Hệ thống kiểm soát nội bộ
Ở phần trên chúng ta đã biết thế nào là kiểm soát nội bộ, vậy thì Hệ
thống kiểm soát nội bộ là gì ? và nó khác gì so với khái niệm về Kiểm soát
nội bộ ?
Có rất nhiều khái điểm khác nhau về Hệ thống kiểm soát nội bộ. Trong
khuôn khổ báo cáo này em xin nêu lên một số quan điểm khác nhau về Hệ
thống kiểm soát nội bộ.
2.1. Quan điểm của Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC)
Theo quan niệm này thì “Hệ thống kiểm soát nội bộ là một hệ thống
những chính sách và thủ tục nhằm 4 mục tiêu sau: bảo vệ tài sản của đơn vị,
bảo đảm độ tin cậy của các thông tin, bảo đảm việc thực hiện các chế độ
pháp lý, bảo đảm hiệu quả của các hoạt động”
Theo đó, kiểm soát nội bộ là một chức năng thường xuyên của đơn vị,
tổ chức và trên cơ sở xác định rủi ro có thể xảy ra trong từng khâu công việc
để tìm ra biện pháp ngăn chặn nhằm thực hiện có hiệu quả tất cả các mục tiêu

2.2. Quan điểm của các kế toán viên công chứng Mỹ (AICPA)
Các định nghĩa của viện kế toán viên công chứng (IACPA) ở Mỹ về
Kiểm soát nội bộ liên quan đến từng lĩnh vực cụ thể. Trong phần thực hành
kiểm toán Kiểm soát nội bộ được định nghĩa như sau:
“Kiểm soát nội bộ gồm kế hoạch tổ chức và tất cả những phương pháp,
biện pháp phối hợp được thừa nhận dùng trong kinh doanh để bảo vệ tài sản
của tổ chức, kiểm tra độ chính xác và độ tin cậy của các thông tin kế toán,
Ngô Thị Thanh Tâm Kiểm toán 42C
6
Luận văn tốt ngiệp
thúc đẩy hiệu quả hoạt động và khích lệ bám sát những chủ trương quản lý
đã đề ra”
Theo quan niêm này thì hệ thống kiểm soát nội bộ cũng có xu hướng
thiên về phục vụ các mục tiêu của doanh nghiệp gần với quan niệm của liên
đoàn kế toán quốc tế
Ngô Thị Thanh Tâm Kiểm toán 42C
7
Luận văn tốt ngiệp
2.3. Quan điểm của chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VSA)
Theo VSA 400 Hệ thống kiểm soát nội bộ được định nghĩa như sau:”
Hệ thống kiểm soát nội bộ là các qui định và các thú thục kiểm soát do đơn vị
được kiểm toán xây dựng và áp dụng nhằm đảm bảo cho đơn vị tuân thủ pháp
luật và các qui định để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừavà phát hiện gian lận,
sai sót; để lập báo cáo tài chính trung thực và hợp lý; nhằm bảo vệ, quản lý
và có hiệu quả tài sản của đơn vị. Hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm môi
trường kiểm soát, hệ thống kế toán và các thủ thụckiểm soát.”
Trong đó:
Hệ thống kế toán: Là các qui định về kế toán và các thủ tục kế toán mà
đơn vị được kiểm toán áp dụng để thực hiện ghi chép kế toán và lập báo cáo
tài chính.

soát
• Lập kế hoạch quản lý:
Bao gồm toàn bộ việc lập kế hoạch từ những quyết định ở mức cao
nhất về các mục đích và mục tiêu chủ yếu đến những chiến lược và các chủ
trương hỗ trợ ở mức thấp hơn, đến các trình tự và phương pháp ở mức thấp
hơn nữa cho việc thực hiện các nghiệp vụ cụ thể. Lập kế hoạch quản lý cũng
là căn cứ cho tất cả các quá trình khác
• Tổ chức thực hiện kế hoạch:
Quá trình này phải chia công việc của tổ chức thành nhiều phần sau đó
phối hợp các phần này với nhau sao cho toàn bộ công việc của tổ chức được
hoàn thành. Nó giúp cho mỗi người trong tổ chức biết họ phải làm gì và ai là
người có trách nhiệm giúp đỡ họ thực hiện công việc đó. Quá trình này được
xây dựng dựa trên cơ sở của việc lập kế hoạch chung nói trên.
• Cung cấp các nguồn lực:
Đây là quá trình cung cấp các nguồn lực cần thiết nó bao gồm việc
mua sắm các nguồn lực vật chất như máy móc thiết bị và các loại vật tư cung
ứng… và việc tuyển dụng, phát triển nhân lực. Đặc biệt hoạt động chuẩn bị
nguồn lực về con người được các nhà quản lý hết sức quan tâm
• Điều hành quản lý:
Đây là quá trình khi công việc được tiến hành trong thực tế. Nó bao
gồm 3 loại hoạt động hỗ trợ làm cơ sở cho việc thực thi các nghiệp vụ được
giao: hướng dẫn, phối hợp, chỉ đạo thực hiện kế hoạch
• Kiểm soát:
Việc hoàn thành công việc hiện tại không trành khỏi bị ảnh hưởng của
những điều kiện thay đổi và năng lực con người không đồng đều. Do đó,
chúng ta phải thấy được những sai lệch so với kế hoạch và xử lý những chỗ
Ngô Thị Thanh Tâm Kiểm toán 42C
9
Luận văn tốt ngiệp
sai lệch đó một cách có hiệu quả. Việc kiểm soát là một tiểu qúa trìnhcần thiết

đầu tiên của chúng ta là việc lập kế hoạch thật tốt cho toàn công ty.
Ngô Thị Thanh Tâm Kiểm toán 42C
10
Luận văn tốt ngiệp
3.2.2. Quan hệ với việc tổ chức:
Tổ chức là một khâu quan trọng trong quá trình quản lý, thông qua
việc tổ chức mà các công việc được giao, được uỷ quyền, được hạch toán.
Với cách nhìn nhận này tổ chức tạo lập tiến trình cho kiểm soát. hơn thế nữa,
trách nhiệm trong việc tổ chức của các cá nhân hay nhóm là xây dựng các
mục tiêu và đo lường các kết quả của các hoạt động. điều này có nghĩa là nếu
chúng ta muốn kiểm soát có hiệu quả thì chúng ta phải quan tâm cải tiến kế
hoạch tổ chức hoàn hảo và những việc bố trí tổ chức theo kế hoạch đó.
3.2.3. Quan hệ với việc cung cấp các nguồn lực:
Các việc mua sắm, quản lý và sử dụng những nguồn lực đều có những
vấn đề cần thiết để kiểm soát. Đặc biệt là kiểm soát trong lĩnh vực cung cấp
nguồn lực con người, cũng như toàn bộ quá trình quản lý, kiểm soát là một bộ
phận, là quá trình do con người làm, những con người đã được chọn lọc, huấn
luyện và quản lý. Hơn nữa ở đau có nhà quản lý giỏi thì ở đó chức năng kiểm
soát cũng được quản lý với một hình thức hiệu quả hơn. Vì vậy, kiểm soát tốt
phải bao gồm tất cả các mặt chủ yếu của chức năng quản lý đội ngũ và nhân
sự
3.2.4. Quan hệ với việc điều hành:
Trong giai đoạn điều hành quản lý, các nhà quản lý phải ra chỉ thị,
giám sát nhân viên, phối hợp công việc và chỉ đạo. ở giai đoạn này các nhà
quản lý cũng điều hành hệ thống kiểm soát và có những hành động cần thiết
khi việc thực hiện kế hoạch quản lý có thay đổi. Cách thức điều hành trực tiếp
này có thể hỗ trợ hoạt động kiểm soát tuy nhiên đôi khi nó lại cản trở công
việc kiểm soát. Như vậy, muốn kiểm soát tốt phải cộng tác tốt với những nhà
quản lý có trách nhiệm để công việc ở đây đảm bảo là hỗ trợ những nhu cầu
kiểm soát.

hệ thống và việc theo dõi hệ thống. ở đây chúng ta tập trung ngay vào công
việc cụ thể và những người liên quan. Cũng ở đây, ta cần tới kỹ năng quản trị
và nhận định để giải quyết những tình thế phát sinh ngoài dự kiến và về
những vấn đề không tránh được về con người
1.2. Sự cần thiết phải hoà nhập kiểm soát vào hoạt động quản lý
Một vấn đề liên quan chặt chẽ với dự kiến và thực hiện nói trên là
phạm vi mà các biện pháp kiểm soát có thể hoà nhập với các trình tự và hành
động quản lý bình thường. điều mà chúng ta phải luôn tự nhủ rằng không coi
Ngô Thị Thanh Tâm Kiểm toán 42C
12
Luận văn tốt ngiệp
những biện pháp kiểm soát là những hoạt động phụ thêm và tách rời. Thay
vào đó, chúng ta tìm được mục đích kiểm soát của chúng ta thông qua quá
trình hoạt động bình thường.
Sở dĩ chúng ta nên làm như vậy là vì nếu làm như vậy chúng ta sẽ tiết
kiệm được chi phí và loại trừ bớt bực tức cho những người trực tiếp hay gián
tiếp bị kiểm tra. Ví dụ như nều chấp nhận được một bộ phận cụ thể từ một tổ
của phân xưởng sản xuất có thể tự động xác định được liệu nó có phù hợp
trong dây truyền lớn hơn không mà không cần phải có một nhóm thanh tra
trung gian nào nữa. tương tự như vậy, chúng ta cứ xem việc xử lý kiểm soát
như là quan hệ quản lý bình thường chứ không phải là một vấn đề tách biệt.
Các chuyên gia kiểm soát bao giờ cũng có những thuận lợi như vậy để thực
hiện kiểm soát, coi kiểm soát như một hoạt động thông thường.
1.3. Qui mô bảo vệ và xây dựng
Khi xem xét chức năng kiểm soát người ta còn xem xét qui mô bảo vệ
và xây dựng của chúng và cố gắng tối đa hoá qui mô đó. Một phạm vị khá lớn
của kiểm soát thực hiện là để phục vụ mục tiêu bảo vệ cho các nhà quản lý
cấp cao hơn và tránh những sai sót ở mức thấp hơn. Một số việc kiểm soát
phải có một trong những mục đích chính là đề phòng những loại hành động
nào đó mà chúng nhà quản lý cấp cao không muốn ví dụ như là sử dụng sai

cao hơn và công phu hơn nhất là khi các mục tiêu cải tiến bao hàm khả năng
sinh lời của tập đoàn đã được tăng. Nhưng các mục tiêu bảo vệ căn bản là rất
quan trọng và cần được đề cập thích đáng. Như thường xảy ra, việc đánh giá
của kiểm soát nội bộ về các mục tiêu bảo vệ tự nó đặc biệt làm cho việc phân
tích rủi ro có tổ chức và khoa học hơn
Việc đánh giá rủi ro cho các mục tiêu bảo vệ trực tiếp xoáy vào:
• Tính chất phạm vi và ảnh hưởng của từng loại khiếm khuyết tiềm ẩn
• Tính khả thi và chi phí của công việc kiểm soát thực tế
Loại đánh giá này tất nhiên phải làm riêng cho từng loại công ty và
theo các tình huống hoạt động khác nhau. Nhưng khi đánh giá như vậy nên
xem cần loại kiểm soát gì? phạm vi kiểm soát để có lợi cho kinh doanh.
Nhưng điều làm phức tạp cho việc đánh giá sau là thường có mâu thuẫn giữa
việc làm giảm tốn thất với nhu cầu rộng thêm của quản lý và các mục tiêu.
Tất cả diều đó có nghĩa là phân tích rủi ro tôt hay không về mặt quản lý
còn tuỳ thuộc vào phạm vi được thừa nhận và đánh giá của các mục tiêu quản
lý có liên quan
1.5. Vấn đề phản ứng của con người với kiểm soát
Ngô Thị Thanh Tâm Kiểm toán 42C
14
Luận văn tốt ngiệp
Con người liên quan đến quá trình kiểm soát và nó đòi hỏi con người
phải rất khéo léo khi giải quyết các mối quan hệ. Trong khi thực hiện, triển
khai một hệ thống kiểm soát có hiệu lực thì thấy có các vấn đề: Nguồn gốc
chủ yếu của các vấn đề là hầu hết ai cũng có bản năng hành động độc lập và
tự do. Thực tế cho thấy rằng con người phải làm gì đó khiến họ có khuynh
hướng ác cảm với một việc kiểm soát thậm chí phản đối. Mức độ chấp nhận
đối với những việc kiểm soát phần lớn tuỳ thuộc vào chính con người_ sự
thông minh, có kinh nghiệm, vốn văn hoá, tình cảm vững bền… Nhưng chúng
ta có thể nói rằng xu hướng thông thường là con người bực bội với kiểm soát
và ít nhiều chống lại. điều đó phụ thuộc nhiều vào cách thức kiểm soát được

Môi trường kiểm soát có ảnh hưởng đến hiệu quả của các thủ tục kiểm
soát trong doanh nghiệp. Môi trường kiểm soát mạnh sẽ hỗ trợ đáng kể cho
các thủ tục kiểm soát cụ thể ngược lại môi trường kiểm soát mà yếu thì các
thủ tục kiểm soát cũng khó có thể phát huy hiệu quả được
Các nhân tố thuộc môi trường kiểm soát nói chung chủ yếu liên quan
đến quan điểm thái độ và nhận thức cũng như hành động của các nhà quản lý
trong doanh nghiệp. trên thực tế tính hiệu quả của các hoạt động kiểm tra
kiểm soát trong các hoạt động của một tổ chức phụ thuộc chủ yếu vào các nhà
quản lý tại doanh nghiệp đó. Nếu các nhà quản lý cho rằng công tác kiểm tra
kiểm soát là quan trọng và không thể thiếu được đối với mọi hoạt động của
đơn vị thì mọi thành viên trong đơn vị đó sẽ có nhận thức đúng đắn về hoạt
động kiểm tra kiểm soát và tuân thủ mọi qui đinh cũng như chế độ đề ra.
Ngược lại, nếu hoạt động kiểm tra kiểm soát bị coi nhẹ từ phía các nhà quản
lý thì chắc chắn các qui chế về hệ thống kiểm soát nội bộ sẽ được vận hành
một cách có hiệu quả bởi các thành viên của đơn vị.
Các nhân tố thuộc môi trường kiểm soát bao gồm:
2.1.1. Các đặc thù về quản lý:
Nói đến các đặc thù về quản lý tức là đề cập tới các quan điểm khác
nhau trong điều hành hoạt động doanh nghiệp của các nhà quản lý. Các quan
điểm đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chính sách, chế độ, các qui định và cách
thức tổ chức kiểm tra kiểm soát trong doanh nghiệp. bởi vì chính các nhà
quản lý và đặc biệt là các nhà quản lý cao cấp nhất sẽ phê chuẩn các quyết
định, chính sách và thủ tục kiểm soát sẽ áp dụng tại các doanh nghiệp
2.1.2. Cơ cấu tổ chức:
Cơ cấu tổ chức là cách thức tổ chức quản lý trong doanh nghiệp hay có
thể hiểu cơ cấu tổ chức là cách phân quyền trong bộ máy quản lý
Ngô Thị Thanh Tâm Kiểm toán 42C
16
Luận văn tốt ngiệp
Cơ cẩu tổ chức được xây dựng hợp lý trong doanh nghiệp sẽ góp phần

hoạt động và sự luân chuyển tiền trong tương lai, là những nhân tố quan trọng
trong môi trường kiểm soát. nếu việc lập và thực hiện kế hoach được tiến
Ngô Thị Thanh Tâm Kiểm toán 42C
17
Luận văn tốt ngiệp
hành khoa học và nghiêm túc thì hệ thống kế hoạchvà dự toán đó sẽ trở thành
công cụ kiểm soát rất hữu hiệu. Vì vậy trong thực tế các nhà quản lý thường
quan tâm, xem xét tiến độ thực hiện kế hoạch, theo dõi những nhân tố ảnh
hưởng đến kế hoach đã lập nhằm phát hiện những vấn đề bất thường và xử lý,
điều chỉnh kế hoạch kịp thời
2.1.5. Uỷ ban kiểm soát
Uỷ ban kiểm soát bao gồm những người trong bộ máy lãnh đạo cao
nhất của đơn vị như thành viên của hội đồng quản trị nhưng không kiêm
nhiệm các chức vụ quản lý và những chuyên gia am hiểu về lĩnh vực kiểm
soát
Uỷ ban kiểm soát đặt ra để thực hiện những nhiệm vụ: giám sát sự chấp
hành luật pháp của công ty, kiểm tra giám sát công việc của kiểm toán viên
nội bộ, giám sát tiến trình lập báo cáo tài chính, dung hoà các bất đồng nếu có
giữa ban giám đốc với các kiểm toán viên bên ngoài…
2.1.6. Môi trường bên ngoài:
Môi trường kiểm soát chung của một doanh nghiệp còn phụ thuộc vào
các nhân tố bên ngoài. Các nhân tố này tuy không thuộc sự kiểm soát của các
nhà quản lý nhưng có ảnh hưởng rất lớn đến thái độ và phong cách điều hành
của cac nhà quản lý cũng như sự thiết kế và vận hành các qui chế và thủ tục
kiểm soát nội bộ.
Nhóm các nhân tố bên ngoài bao gồm: sự kiểm soát của các cơ quan
chức năng nhà nước, ảnh hưởng của cac đối tác làm ăn, môi trường pháp lý,
đường lối phát triển đất nước…
Như vậy môi trường kiểm soát bao gồm toàn bộ các nhân tố có ảnh
hưởng đến quá trình thiết kế, vận hành và xử lý dữ liệu của hệ thống kiểm

Sự đánh giá Đảm bảo không có sai phạm gì trong việc tính toán các
khoản giá và phí.
Sự phân loại Đảm bảo các nghiệp vụ được ghi chép đúng theo sơ đồ
tài khoản và ghi nhận đúng đắn ở các loại sổ sách kế
toán.
Tính đúng kỳ Bảo đảm việc ghi sổ các nghiệp vụ phát sinh được thực
hiện kịp thời theo quy định.
Quá trình
chuyển sổ và
tổng hợp chính
xác
Số liệu kế toán được ghi vào sổ phải được tổng cộng và
chuyển sổ đúng đắn, tổng hợp chính xác trên các báo
cáo tài chính của doanh nghiệp
2.3. Các thủ tục kiểm soát
Thủ tục kiểm soát là các qui chế và các thủ tục do nhà quản lý thiết lập
và thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu quản lý cụ thể
Theo VSA 400 thủ tục kiểm soát là các qui chế và thủ tục do ban lãnh
đạo của đơn vị thiết lập và chỉ đạo thực hiện trong đơn vị nhằm đạt được các
mục tiêu quản lý cụ thể
Các thủ tục kiểm soát chủ yếu trong doanh nghiệp bao gồm:
• Lập, kiểm tra, so sánh và phê duyệt các số liệu, tài liệu liên quan đến đơn
vị
Ngô Thị Thanh Tâm Kiểm toán 42C
20
Luận văn tốt ngiệp
• Kiểm tra tính chính xác của các số liệu tính toán
• Kiểm tra chương trính ứng dụng và môi trường tin học
• Kiểm tra số liệu giữa sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết
• Kiểm tra phê duyệt các tài liệu kế toán

• Về tổ chức:
Bộ phận kiểm toán nội bộ phải trực thuộc một cấp cao đủ để không
giới hạn phạm vi hoạt động của nó đồng thời phải được giao một quyền hạn
tương đối rộng rãi và hoạt động tương đối độc lập với phòng kế toán và các
bộ phận hoạt động được kiểm tra
• Về nhân sự:
Bộ phận kiểm toán nội bộ phải tuyển chọn những nhân viên có năng
lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp phù hợp với các qui định hiện hành
Kiểm toán nội bộ được thiết lập trong doanh nghiệp với nhiệm vụ đầu
tiên là đáp ứng những nhu cầu nghiệp vụ rất cơ bản và được xác định rõ ràng.
Mối quan tâm đặc biệt từ đầu của quản lý là liệu tài sản của đơn vị có được
bảo vệ tốt không, các qui tắc, qui phạm của công ty có được tuân thủ không
và sổ sách tài chính có được ghi chép đầy đủ không. điều rất quan trọng nữa
là phát hiện gian lận và giữ gìn mọi thứ nguyên vẹn… Tóm lại có thể nói rằng
bộ phận kiểm toán nội bộ được thiết lập trong đơn vị nhằm tiến hành công
việc kiểm tra và đánh giá các hoạt đông phục vụ yêu cầu quản trị nội bộ của
đơn vị
3. Thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp
Để thiết lập một hệ thống kiểm soát nội bộ cho doanh nghiệp tức là
chúng ta phải thiết lập từng các yếu tố cơ bản của hệ thống kiểm soát nội bộ
có nghĩa là chúng ta phải thiết lập các yếu tố: Môi trường kiểm soát, hệ thống
kế toán, các thủ tục kiểm soát và bộ phận kiểm toán nội bộ
3.1. Thiết lập môi trường kiểm soát
Như đã trình bày ở phần trên, môi trường kiểm soát bao gồm các nhân
tố bên trong và nhân tố bên ngoài. Để có thể thiết lập được một hệ thống kiểm
soát nội bộ hoạt động có hiệu quả thì điều đầu tiên chúng ta phải thiết lập
được một môi trường kiểm soát tốt
Trước tiên chúng ta quan tâm đến các nhân tố thuộc bên trong của môi
trường kiểm soát tức là các yếu tố liên quan đến đặc điểm quản lý, cơ cấu tổ
chức, chính sách nhân sự, công tác kế hoạch… Những yếu tố này được thiết

phù hợp với điều kiện thời đại mới
Để thiết lập được một mô hình hoàn toàn phù hợp với doanh nghiệp
không phải là chuyên dễ vì vậy các nhà quản lý doanh nghiệp phải không
ngừng học hỏi, trau dồi kiến thức để tìm ra được cái đúng, cái hay trong thời
đại mới mà áp dụng
Ngô Thị Thanh Tâm Kiểm toán 42C
23
Luận văn tốt ngiệp
3.1.3. Xây dựng chính sách nhân sự:
Chất lượng của đội ngũ nhân viên luôn là nhân tố ảnh hưởng lớn nhất tới
chất lượng của tất cả các hoạt động trong doanh nghiệp. Trong bất cứ hoạt
động nào của Xã Hội cũng vậy nhân tố con ngươì luôn là vấn đề cần thiết và
bức xúc của các doanh nghiệp nói riêng và của toàn Xã Hội nói chung
Trong việc thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp thì
con người cũng là nhân tố trung tâm, là chủ thể trực tiếp thực hiện hành vi
kiểm soát, thực hiện các thủ tục kiểm soát nên chất lượng hoạt đông của hệ
thống kiểm soát nội bộ phụ thuộc hoàn toàn vào chất lượng của nhân viên
kiểm soát bởi vì ngay cả khi doanh nghiệp có thiết kế và vận hành các thủ tục,
chính sách kiểm soát chặt chẽ nhưng với đội ngũ nhân viên kém năng lực
trong công việc và thiếu trung thực về phẩm chất đạo đức thì hệ thống kiểm
soát nội bộ không thể phát huy hiệu quả. Vì vậy, đào tạo con người luôn được
các doanh nghiệp quan tâm và các doanh nghiệp phải thường xuyên có những
chính sách cụ thể và rõ ràng về tuyển dụng, đào tạo, xắp xếp, đề bạt, khen
thưởng, kỷ luật nhân viên. việc đào tạo, bố trí cán bộ và đề bạt nhân sự phải
phù hợp với năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức đồng thời phải mang
tính kế tục và liên tiếp.
Bên cạnh đó thì việc đào tạo nâng cao chất lượng hoạt đông của đội ngũ
nhân viên kiểm soát cũng cần phải được quan tâm và luôn thực hiện
3.1.4. Thiết kế công tác kế hoạch:
Doanh nghiệp nên tổ chức công tác kế hoạch trong các hoạt đông của

Hệ thống kế toán trong một doanh nghiệp bao gồm hệ thống chứng từ kế
toán, hệ thống tài khoản kế toán và hệ thống bảng tổng hợp cân đối kế toán.
Vì vậy thiết lập hệ thống kế toán tức là phải thiết lập các yếu tố cơ bản của hệ
thống kế toán
3.2.1. Tổ chức hệ thống chứng từ kế toán:
Chứng từ kế toán là phương tiện để ghi chép, phản ánh các nghiệp vụ
kinh tế, tài chính phát sinh liên quan đến các nội dung nghiệp vụ kinh tế
Hệ thống chứng từ kế toán qui định trong chế độ kế toán hiện hành bao
gồm hai hệ thống:
+ Hệ thống chứng từ bắt buộc
+ Hệ thống chứng từ hướng dẫn
( Bao gồm 6 loại: chứng từ lao động tiền lương, chứng từ hàng tồn kho,
chứng từ bán hang, chứng từ tiền tệ, chứng từ tài sản cố định, chứng từ sản
xuất )
trên cơ sở hệ thống chứng từ kế toán(Cả bắt buộc và hướng dẫn) các
doanh nghiệp phải tổ chức xử lý và xây dựng trình tự luân chuyển chứng từ
Ngô Thị Thanh Tâm Kiểm toán 42C
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status