Luận văn tốt nghiệp Đặng Hoàng Nam - K35E1 -
TMQT
TRƯỜNG………………………
KHOA……………………
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
“Hoàn thiện công tác tổ chức thực
hiện hợp đồng nhập khẩu bộ linh kiện
xe máy tại Công ty quan hệ quốc tế và
đầu tư sản xuất - CIRI”
1
Luận văn tốt nghiệp Đặng Hoàng Nam - K35E1 -
TMQT
Lời nói đầu.
Ngày nay, quốc tế hoá, toàn cầu hoá đang là xu thế chung của nhân loại,
không một quốc gia nào có thể thực hiện một chính sách đóng cửa mà có thể
đem lại sự phát triển cho đất nước mình. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế
đó. Nền kinh tế Việt Nam hiện nay, trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế
thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước, đó là một nền kinh tế mở cửa theo
hướng hội nhập quốc tế .
Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Đảng ta đã xác định con đường
phát triển nền kinh tế đất nước nhanh nhất đó là việc thực hiện CNH-HĐH thông
qua xu hướng mở cửa và hội nhập quốc tế. Sau hơn 10 năm đổi mới, nền kinh tế
nước ta đã có những bước chuyển đổi rõ rệt trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính
trị, xã hội... Trong quá trình phát triển đó có sự đóng góp đáng kể và quan trọng
của hoạt động thương mại quốc tế. Thương mại quốc tế là một lĩnh vực hoạt
động đóng vai trò mũi nhọn thúc đẩy nền kinh tế trong nước hội nhập với nền
kinh tế thế giới, phát huy những lợi thế so sánh của đất nước, tận dụng tiềm năng
về vốn khoa học kỹ thuật, kỹ năng quản lý tiên tiến từ nước ngoài.
Nói đến thương mại quốc tế ta có thể liên tưởng ngay tới hoạt động xuất
khẩu và nhập khẩu. Nhưng ở nước ta hiện nay còn nghèo, cơ sở vật chất nhất là
thầy giáo BÙI ĐỨC DŨNG, các cán bộ nhân viên trong công ty nên em xin chọn
đề tài: “Hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu bộ linh
kiện xe máy tại Công ty quan hệ quốc tế và đầu tư sản xuất - CIRI”.
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là: Nhằm hoàn thiện hơn công tác tổ
chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu bộ linh kiện xe máy mà công ty đang áp
dụng. Từ đó đưa ra một số giải pháp để công ty có thể áp dụng. Đồng thời rút ra
kinh nghiệm cho bản thân trong việc thực hiện hợp đồng nhập khẩu trên thực tế.
Giới hạn nội dung và phạm vi nghiên cứu: Dựa trên những cơ sở lý luận
và thực tiễn liên quan đến công tác tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu xe
máy cùng với những kiến thức đã học.
Phương pháp nghiên cứu: Kết hợp những kiến thức đã học ở trường và sự
hướng dẫn tận tình của thầy cô giáo cùng với những kinh nghiệm thực tế khi
3
Luận văn tốt nghiệp Đặng Hoàng Nam - K35E1 -
TMQT
tham gia thực tập tại công ty (CIRI). Đồng thời sử dụng nguồn số liệu của công
ty để phân tích, đánh giá và đưa ra các biện pháp nhằm hoàn thiện công tác tổ
chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu tại công ty (CIRI).
Kết cấu luận văn được chia làm 3 chương:
Chương I: Lý luận chung về hoạt động nhập khẩu và việc thực hiện hợp đồng
nhập khẩu.
Chương II: Thực trạng công tác tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu bộ linh
kiện xe máy tại công ty (CIRI).
Chương III: Giải pháp và những kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác tổ chức
thực hiện hợp đồng nhập khẩu của công ty.
4
Luận văn tốt nghiệp Đặng Hoàng Nam - K35E1 -
TMQT
Chương I
Lý luận về hoạt động nhập khẩu và việc thực hiện hợp đồng nhập
TMQT
để tiến hành nhập khẩu và lựa chọn hình thức nhập khẩu, tiến hành các cuộc đàm
phán để xem xét nên áp dụng hình thức nhập khẩu nào đem lại lợi nhuận cao
nhất.
3. Vai trò của hoạt động nhập khẩu đối với nên kinh tế quốc dân.
Việt Nam sau một thời gian dài thực hiện chính sách đóng cửa nền kinh tế
đã gây ra biết bao vấn đề tiêu cực như nền kinh tế trì trệ, lạc hậu và trình độ thấp
kém thua xa các nước trong khu vực và có lẽ là một trong những nước kém phát
triển nhất thế giới. Nhận thức được vấn đề này, Đảng ta đã xác định con đường
để đưa đất nước nhanh chóng tiến kịp thời đại là CNH-HĐH đất nước, đẩy mạnh
xuất khẩu, tăng cường nhập khẩu các loại máy móc công nghệ hiện đại phục vụ
sản xuất trong nước. Như vậy, ta thấy nhập khẩu có vai trò quan trọng trong nền
kinh tế quốc dân, đặc biệt là trong điều kiện quốc tế hoá đời sống kinh tế xã hội
trong thời đại ngày nay. Vai trò của hoạt động nhập khẩu được thể hiện ở mấy
mặt cơ bản sau:
a) Đối với nền kinh tế quốc dân:
Nhập khẩu đem lại cho nền kinh tế những công nghệ hiện đại máy móc thiết
bị tiên tiến, hoàn thiện và có năng lực sản xuất hơn những thứ đã có trong
nước. Từ đó nó làm tăng hiệu quả sản xuất, tăng sản lượng sản phẩm xã hội,
thu nhập quốc dân.
Nhập khẩu mở rộng khả năng tiêu dùng của một nước. Xã hội ngày càng phát
triển và nhu cầu của con người ngày càng phong phú và đa dạng thông qua
con đường nhập khẩu sẽ thoả mãn mọi nhu cầu đó của con người. Nhập khẩu
làm đa dạng hoá về mặt hàng, về chủng loại.
Nhập khẩu góp phần đáng kể vào việc xoá bỏ tình trạng độc quyền, phá vỡ
nền kinh tế đóng, tự cung tự cấp. Ngoài ra, nó còn đưa tới việc xoá bỏ nhanh
chóng các chủ thể kinh doanh các sản phẩm lạc hậu không thể chấp nhận
được, góp phần hoàn thiện các cơ chế quản lý xuất nhập khẩu của nhà nước.
Nhập khẩu là để tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật công nghệ tiên tiến, hiện
đại cho sản xuất và các loại hàng hoá cho tiêu dùng mà trong nước không sản
Hợp đồng thương mại quốc tế hoặc hợp đồng mua bán ngoại thương hay
hợp đồng xuất nhập khẩu là sự thoả thuận giữa các đương sự có trụ sở kinh
doanh ở các quốc gia khác nhau, theo đó một bên gọi là bên bán (bên xuất khẩu)
7
Luận văn tốt nghiệp Đặng Hoàng Nam - K35E1 -
TMQT
có nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu cho một bên khác gọi là bên mua (bên nhập
khẩu) một tài sản nhất định gọi là hàng hoá, bên mua có nghĩa vụ nhận hàng và
trả tiền hàng.
Như vậy thông qua khái niệm trên ta có thể rút ra một vài đặc điểm chính
của hợp đồng xuất nhập khẩu như sau:
Chủ thể của hợp đồng này là bên bán (bên xuất khẩu) và bên mua (bên nhập
khẩu) họ có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau. Bên bán giao hàng hoá
cho bên mua, bên mua phải trả cho bên bán một đối giá cân xứng với giá trị
hàng hoá đã được giao.
Đối tượng của hợp đồng này là tài sản: Do được đem ra mua bán, tài sản này
biến thành hàng hoá. Hàng hoá này có thể là hàng hoá vật chất hay hàng hoá
phi vật chất (dịch vụ).
Bản chất của hợp đồng này là sự thoả thuận giữa các bên ký kết hợp đồng.
Điều cơ bản là hợp đồng phải thể hiện ý chí thực sự thoả thuận không được
cưỡng bức, lừa dối lẫn nhau và có sự nhầm lẫn không chấp nhận được.
Khách thể của hợp đồng này là sự di chuyển quyền sở hữu hàng hoá (chuyển
chủ hàng hoá). Đây là sự khác biệt so với hợp đồng thuê mướn vì hợp đồng
thuê mướn không tạo ra sự chuyển chủ và so với hợp đồng tặng biếu không
có sự cân xứng giữa nghĩa vụ và quyền lợi.
Hợp đồng nhập khẩu khác với hợp đồng mua bán trong nước ở những
điểm sau đây:
Hàng hoá (đối tượng) của hợp đồng thường di chuyển ra khỏi biên giới quốc
gia.
Đặc điểm này có thể có cũng có thể không. Ví dụ, hợp đồng mua bán ký kết giữa
bản pháp luật hiện hành của hai nước.
c) Hợp đồng thương mại quốc tế phải có nội dung chủ yếu của hợp đồng mua
bán hàng hoá.
Theo điều 50 - luật thương mại Việt Nam thì nội dung của hợp đồng buộc
phải có các điều khoản sau: Tên hàng, quy cách chất lượng, giá cả, phương thức
thanh toán, địa điểm và thời gian giao nhận hàng.
9
Luận văn tốt nghiệp Đặng Hoàng Nam - K35E1 -
TMQT
Ngoài ra, các bên có thoả thuận thêm những nội dung, những điều khoản
khác cho hợp đồng.
d) Hình thức của hợp đồng:
Theo luật Việt Nam, hợp đồng xuất nhập khẩu phải được lập thành văn bản
mới có hiệu lực: Thư từ điện tín cũng được coi là văn bản, mọi hình thức thoả
thuận bằng miệng đều không có giá trị, mọi sửa đổi bổ sung đều được làm bằng
văn bản.
3. Nội dung chủ yếu của hợp đồng nhập khẩu.
Nội dung của hợp đồng xuất nhập khẩu có thể rất khác nhau. Nó tuỳ thuộc
vào tính chất và đặc điểm của hàng hoá, hoặc tuỳ thuộc và tập quán buôn bán
giữa các bên. Có những hợp đồng đưa ra rất nhiều điều khoản, hết sức chặt chẽ
và chi tiết, nhưng có những hợp đồng chỉ đưa ra những điều khoản cơ bản và hết
sức đơn giản. Nhưng thông thường một hợp đồng xuất nhập khẩu gồm có hai
phần: Những điều trình bầy và các điều khoản.
Những điều khoản trình bày thường ghi:
Số hợp đồng (contract no).
Địa điểm và ngày tháng ký hợp đồng .
Tên và địa chỉ của các đương sự.
Những định nghĩa dùng trong hợp đồng.
Cơ sở pháp lý để ký kết hợp đồng (đây có thể là hiệp định chính phủ, nghị
định thư, chí ít người ta cũng đưa ra sự tự nguyện của hai bên khi tham gia ký
Điều khoản chất lượng hàng hoá:
Điều khoản này nói lên mặt chất của hàng hoá mua bán. Tức là nói lên tổng
thể các chỉ tiêu, những đặc trưng của hàng hoá mua bán thể hiện được sự thoả
mãn nhu cầu trong những điều kịên tiêu dùng xác định, phù hợp với công dụng
của hàng hoá bao gồm: Các chỉ tiêu cơ lý hoá, công suất, độ chính xác và các chỉ
tiêu cảm quan như màu sắc, mùi vị của hàng hoá giao dịch mua bán.
Trong điều khoản này cần nêu rõ phương pháp xác định phẩm chất, chỉ tiêu
đại khái quen dùng, quy cách hàng hoá, hàm lượng của chất chủ yếu trong hàng
hoá, tài liệu kỹ thuật, số lượng thành phẩm thu được từ hàng hoá đó, hiện trạng
của hàng hoá đó, mô tả của hàng hoá và tên của nơi sản xuất.
Điều khoản về số lượng:
Điều khoản này nói lên lượng hàng hoá được giao dịch. Nó xác định rõ đối
tượng mua bán và liên quan đến trách nhiệm, nghĩa vụ của bên mua và bên bán.
Do vậy việc lựa chọn đơn vị đo lường số lượng nào vừa phải căn cứ vào bản thân
sản phẩm, vừa căn cứ vào tập quán buôn bán quốc tế về đo lường.
Đơn vị tính số lượng: Do có nhiều đơn vị khác nhau như: cái, số, chiếc, kg,
m... nhiều đơn vị có nhiều tên gọi nhưng ở mỗi nước lại có một nội dung khác.
Ví dụ:
11
Luận văn tốt nghiệp Đặng Hoàng Nam - K35E1 -
TMQT
Một tấn hệ mét khác với một tấn hệ của Anh. Cho nên sử dụng điều khoản này
khá phức tạp tuỳ thuộc vào từng loại sản phẩm.
Phương pháp quy định số lượng: trong thực tiễn Thương mại quốc tế
người ta có thể quy định số lượng hàng hoá bằng hai cách:
- Bên bán và bên mua quy định cụ thể số lượng hàng hoá giao dịch. Thường
được áp dụng đối với hàng hoá có giá trị lớn với đơn vị đo là chiếc, cái ví dụ: 10
chiếc xe ô tô... ở đây không được dùng “khoảng”.
- Bên bán và bên mua quy định số lượng phỏng chừng. Trong hợp đồng
mua bán người ta thường dùng các thuật ngữ như: Khoảng, xấp xỉ, hơn kém,
tt
: trọng lượng thực tế của hàng hoá.
W
tc
: độ ẩm tiêu chuẩn của hàng hoá.
W
tt
: độ ẩm thực tế của hàng hoá.
12
Luận văn tốt nghiệp Đặng Hoàng Nam - K35E1 -
TMQT
- Trọng lượng lý thuyết: Thường áp dụng đối với hàng hoá có tính tiêu
chuẩn cao. Ví dụ: Thép, tôn và các thiết bị đồng bộ. Theo phương pháp này
người ta căn cứ vào thể tích, khối lượng riêng và số lượng hàng hoá để tính toán
trọng lượng hàng, hoặc căn cứ vào thiết kế của nó (đối với thiết bị toàn bộ) để
xác định hàng hoá cung cấp cho nhau.
Điều khoản về giá cả.
Trong hợp đồng thương mại quốc tế điều khoản giá cả bao gồm những nội
dung như: Mức giá, đồng tiền tính giá, phương pháp quy định giá, phương pháp
xác định giá, sử dụng các loại giảm giá (chiết giá), những quy định khác liên
quan đến giá cả.
- Mức giá: Để xác định chính xác mức giá cần phải nắm chắc nguyên tắc
xác định giá, xu thế thay đổi của giá cả thị trường thế giới, xem xét đầy đủ các
yếu tố ảnh hưởng đến giá cả, hạch toán lỗ lãi đồng thời định rõ điều kiện cơ sở
giao hàng liên quan đến giá đó.
- Đồng tiền tính giá: có thể là đồng tiền của nước người bán, của nước
người mua hay của một nước thứ ba mà hai bên đồng ý. Trên thực tế người ta
thường sử dụng đồng tiền có khả năng chuyển đổi mạnh như đô la Mỹ (USD).
- Phương pháp quy định giá: trong thương mại quốc tế tuỳ theo từng trường
hợp người ta có thể áp dụng các phương pháp quy định giá như sau: giá cố định,
thức nhờ thu (collection), phương thức tín dụng chứng từ (documentary credit).
- Điều kiện đảm bảo hối đoái: đó có thể là điêu kiện đảm bảo vàng hoặc
điều kiện đảm bảo ngoại hối.
Điều khoản giao hàng.
Điều khoản giao hàng của hợp đồng quy định một cách cụ thể những nội
dung sau: thời hạn giao hàng, địa điểm giao hàng, phương thức giao hàng và việc
thông báo giao hàng để tránh xảy ra tranh chấp khi thực hiện hợp đồng.
- Thời hạn giao hàng: là thời hạn mà người bán phải hoàn thành nghĩa vụ
giao hàng. Nếu các bên giao dịch không có thoả thuận gì khác thì lúc này cũng là
lúc di chuyển rủi ro và tổn thất về hàng hoá từ người bán sang người mua. Trong
14
Luận văn tốt nghiệp Đặng Hoàng Nam - K35E1 -
TMQT
buôn bán quốc tế có ba quy định thời hạn giao hàng: thời hạn giao hàng có định
kỳ, không có định kỳ và giao hàng ngay.
- Địa điểm giao hàng: Việc lựa chọn địa điểm giao hàng có liên quan chặt
chẽ đến phương thức chuyên chở hàng hoá và điều kiện cơ sở giao hàng.
- Phương thức giao hàng gồm các bước sau: Giao hàng sơ bộ, giao nhận về
số lượng, giao nhận về chất lượng, giao nhận cuối cùng.
- Thông báo giao hàng: Trước khi giao hàng thường có những thông báo
của người bán về việc hàng đã sẵn sàng để giao hoặc đem ra cảng (ga) để giao.
Người mua thông báo cho người bán những điều kiện cần thiết để gửi hàng hoặc
về chi tiết của tàu đến nhận hàng. Sau khi giao hàng người bán vẫn tiếp tục thông
báo về tình hình đã giao.
Điều kiện về bao bì ký mã hiệu.
Điều khoản về bao bì bao gồm các vấn đề như: chất lượng bao bì, phương
pháp cung ứng và giá cả bao bì hàng hoá nhằm đảm bảo cho lộ trình vận chuyển
và bảo quản hàng , đồng thời nâng cao tính hấp dẫn cho sản phẩm.
Quy định về ký mã hiệu: là điều kiện nhằm tạo thuận lợi cho việc bốc dỡ,
giao nhận và bảo quản hàng hoá. Yêu cầu của mã hiệu là phải viết bằng sơn hoặc
hoặc toà án kinh tế của địa phương để giải quyết.
Quy định nội dung: Ai là người đứng ra phân xử, luật áp dụng vào việc xét
xử, địa điểm tiến hành trọng tài, cam kết chấp hành tài quyết và phân định chi
phí trọng tài. Quy định các trường hợp phạt và bồi thường, cách thức phạt và bồi
thường, trị giá phạt và bồi thường.
Trên đây là các điều khoản chủ yếu cơ bản nhất của một hợp đồng. Tuy nhiên
trong thực tế tuỳ từng trường hợp cụ thể mà có thể thêm một số điều khoản khác
như điều khoản bảo hiểm, điều khoản vận tải...
4. Luật điều chỉnh hợp đồng nhập khẩu.
Luật điều chỉnh hợp đồng ngoại thương là một vấn đề mà các bên đều
quan tâm bởi nó bảo vệ lợi ích của tất cả các bên trong hợp đồng và là cơ sở
pháp lý đầu tiên để giải quyết tranh chấp xảy ra. Do có yếu tố nước ngoài, vì vậy
hợp đồng nhập khẩu có nguồn luật điều chỉnh phức tạp hơn nhiều so với hợp
16
Luận văn tốt nghiệp Đặng Hoàng Nam - K35E1 -
TMQT
đồng mua bán trong nước. Luật điều chỉnh hợp đồng nhập khẩu có thể là điều
ước quốc tế, luật quốc gia, các tập quán thương mại quốc tế, án lệ.
a) Điều ước quốc tế:
Khi phát sinh tranh chấp từ hợp đồng nhập khẩu liên quan đến vấn đề
không quy định hoặc quy định không đầy đủ trong hợp đồng, các bên có thể dựa
vào điều ước quốc tế về ngoại thương. Ở Việt Nam điều ước đã ký kết hoặc thừa
nhận thì chúng có giá trị bắt buộc đối với hợp đồng nhập khẩu có liên quan.Tức
là, dù bên nào có dẫn chiếu hay không thì các điều ước quốc tế về ngoại thương
mà công ty ký kết hoặc thừa nhận vẫn đương nhiên được áp dụng. Còn những
điều ước quốc tế về ngoại thương mà Việt Nam không ký, chưa ký hoặc không
thừa nhận thì không có giá trị bắt buộc đối với chủ thể Việt Nam trong hợp đồng
nhập khẩu. Chúng chỉ trở thành nguồn luật điều chỉnh hợp đồng nhập khẩu nếu
các bên thoả thuận dẫn chiếu tới trong hợp đồng.
Nếu trong các điều ước quốc tế về ngoại thương có những quy định khác
Luật quốc gia do các bên thoả thuận lựa chọn không có hoặc có nhưng không
đầy đủ về vấn đề tranh chấp, vấn đề cần điều chỉnh.
Do tập quán thương mại quốc tế có nhiều loại nên khi sử dụng cần ghi rõ
tên nguồn để tránh nhầm lẫn. Khi lập hợp đồng nhập khẩu cần chú ý bốn nguyên
tắc về Incoterms:
Một là: Incoterms không có giá trị bắt buộc đối với chủ thể của hợp đồng
xuất nhập khẩu vì nó chỉ là tập quán, không phải là luật. Tuy nhiên khi đã dẫn
chiếu vào hợp đồng thì nó bắt buộc như là luật.
Hai là: Khi lập hợp đồng phải ghi rõ nguồn gốc của Incoterm. Ví dụ: Giao
hàng theo điều kiện CIF Incoterms - 2000.
Ba là: Do Incoterms chỉ có giá trị tuỳ ý cho nên ngay cả khi hợp đồng đã
có sự dẫn chiếu tới Incoterms, các bên vẫn có thể thoả thuận với nhau để có thể
thay đổi một số nội dung cụ thể trong Incoterms sao cho phù hợp với hợp đồng
của mình.
18
Luận văn tốt nghiệp Đặng Hoàng Nam - K35E1 -
TMQT
Bốn là: Incoterms giải quyết các vấn đề rủi ro vào thời điểm nào? Ai lo
liệu các chứng từ hải quan? Ai phải trả các cước phí bảo hiểm? Ai chịu trách
nhiệm về chi phí vận tải?
d) Án lệ và các nghị định.
Án lệ thường được áp dụng đối với các trường hợp:
Khi các bên thoả thuận trong hợp đồng sẽ áp dụng án lệ và phải quy định đối
với từng trường hợp cụ thể.
Nếu trung tâm trọng tài được lựa chọn theo thoả thuận trong hợp đồng có áp
dụng án lệ vào xét xử tranh chấp thì các bên đương sự cũng phải áp dụng.
Khi các nghị định đã được ký kết giữa các quốc gia thì nó sẽ trở thành
nguồn luật đương nhiên đối với các bên quốc gia đó và có giá trị bắt buộc đối với
hợp đồng nhập khẩu có liên quan. Các bên có thể dựa vào đó mà không cần có
sự thoả thuận nào, tức là chỉ cần các bên có dẫn chiếu thì chúng đương nhiên
Hợp đồng uỷ thác nhập khẩu (nếu là nhập khẩu uỷ thác).
Các giấy tờ có liên quan (nếu có).
1.2) Thuê phương tiện vận tải.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng thương mại quốc tế việc thuê phương
tiện vận tải phải dựa vào các căn cứ sau
Căn cứ vào điều kiện cơ sở giao hàng: Nếu điều kiện là CFR, CIF, CPT, CIP,
DES, DEQ, DDU, DDP thì người xuất khẩu phải tiến hành thuê phương tiện
vận tải. Còn nếu điều kiện cơ sở giao hàng là EXW, FCA, FAS, FOB thì người
nhập khẩu phải có nghĩa vụ thuê phương tiện vận tải.
Căn cứ vào khối lượng hàng và đặc điểm của hàng hoá: Căn cứ vào khối
lượng hàng để tối ưu hoá trọng tải của phương tiện từ đó tối ưu hoá chi phí.
Đồng thời căn cứ vào đặc điểm của hàng hoá là để lựa chọn phương tiện đảm
bảo an toàn cho hàng hoá trong quá trình vận chuyển.
Căn cứ vào điều kiện vận tải: Đó là hàng hoá rời hay hàng hoá đóng trong
Container, hàng hoá thông dụng hay hàng hoá đặc biệt. Vận chuyển trên tuyến
đường bình thường hay đặc biệt, vận tải một chiều hay khứ hồi...
20
Luận văn tốt nghiệp Đặng Hoàng Nam - K35E1 -
TMQT
Ngoài ra còn phải căn cứ vào các điều kiện khác trong hợp đồng thương mại
quốc tế: Quy định tải trọng tối đa của phương tiện, mức bốc dỡ, thưởng phạt bốc
dỡ...
Việc thuê phương tiện vận tải phục vụ cho chuyên chở hàng hoá có ý
nghĩa quan trọng đối với các tác nghiệp của quy trình thực hiện hợp đồng nhập
khẩu. Nó trực tiếp ảnh hưởng tới tiến độ giao hàng, đến sự an toàn của hàng hoá
và có liên quan nhiều đến nội dung của hợp đồng. Chính vì vậy, khi thuê phương
tiện vận tải cần phải hiểu và nắm chắc nghiệp vụ cũng như cần có kinh nghiệm
thực tế, nhất là trong trường hợp thuê tàu biển (một lĩnh vực rất phức tạp).
1.3) Mua bảo hiểm.
Trong thương mại quốc tế thường phải vận chuyển đi xa, trong những điều
tra thực tế hàng hoá.
Ở bước này công chức hải quan sẽ kiểm tra các doanh nghiệp phải cưỡng
chế làm thủ tục hải quan; Kiểm tra sự đồng bộ và đầy đủ của hồ sơ hải quan theo
quy định ( Trường hợp không chấp nhận đăng ký hồ sơ hải quan thì phải thông
báo lý do cho người khai hải quan biết); Kiểm tra việc kê khai theo nội dung yêu
cầu trên tờ khai hải quan chứng từ thuộc hồ sơ hải quan, sự phù hợp của nội
dung khai hải quan với chứng từ thuộc hồ sơ hải quan; Nếu có trường hợp vi
phạm thì lập biên bản vi phạm. Sau đó lãnh đạo chi cục: Quyết định hình thức, tỷ
lệ kiểm tra thực tế hàng hoá; Ký xác nhận đã làm thủ tục hải quan và thông quan
đối với trường hợp lô hàng thuộc đối tượng miễn thuế, hàng có thuế suất 0% và
được miễn kiểm tra thực tế, hoặc chuyển hồ sơ cho bước 2 đối với lô hàng phải
kiểm tra thực tế, hoặc chuyển hồ sơ hải quan cho bước 3 đối với lô hàng miễn
kiểm tra thực tế.
Bước 2: Kiểm tra thực tế hàng hoá.
Việc kiểm tra do ít nhất 2 công chức hải quan thực hiện và chịu trách
nhiệm các công việc sau:
- Kiểm tra thực tế hàng hoá.
- Xác nhận kết quả kiểm tra thực tế hàng hoá vào tờ khai hải quan.
- Đối với lô hàng vi phạm thì lập biên bản vi phạm.
Bước 3: Kiểm tra tính thuế: Gồm các công đoạn sau:
22
Luận văn tốt nghiệp Đặng Hoàng Nam - K35E1 -
TMQT
- Căn cứ vào các quy định hiện hành, kết quả tính thuế của người khai hải
quan và kết quả kiểm tra tính thuế hàng hoá (nếu có) để kiểm tra xác định số
thuế phải nộp của lô hàng.
- Ra thông báo thuế hoặc viết biên lai thu thuế (nếu có), viết biên lai lệ phí
hải quan.
- Nhập số liệu vào máy vi tính và chuyển hồ sơ cho lãnh đạo đội trực tiếp
điều hành khâu kiểm tra tính thuế để xác nhận đã làm thủ tục hải quan và trả tờ
Nếu hàng đầy toa xe, người nhập khẩu nhận cả toa xe, kiểm tra, niêm phong
kẹp chì, làm thủ tục hải quan, dỡ hàng, kiểm tra hàng hoá, tổ chức vận chuyển
hàng hoá về kho riêng.
Nếu hàng hoá không đủ toa xe, người nhập khẩu nhận hàng tại trạm giao
hàng và ngành đường sắt, rồi tổ chức vận chuyển hàng hoá về kho riêng.
d) Nếu nhận hàng chuyên chở bằng đường hàng không: Người nhập khẩu
nhận hàng tại trạm giao nhận hàng không, tổ chức hàng vận chuyển về kho riêng
của mình.
e) Nếu nhận hàng chuyên chở bằng đường bộ:
Nếu nhận tại cơ sở người nhập khẩu thì người nhập khẩu phải chịu trách
nhiệm dỡ hàng xuống và nhận hàng.
Nếu nhận hàng tại cơ sở của người vận tải thì người nhập khẩu phải kiểm tra
hàng và tổ chức vận chuyển hàng về kho riêng.
1.6) Kiểm tra hàng.
Sau khi nhận hàng bên nhập khẩu làm thủ tục kiểm tra quy cách, phẩm
chất và tình hình thực tại của hàng hoá. Thông thường bên mua sẽ mời một cơ
quan giám định để giám định hàng hoá. Cơ quan này lấy mẫu, phân tích số
lượng, chất lượng hàng xem có phù hợp với hợp đồng không.
Đối với ga hoặc cảng: Kiểm tra niêm phong kẹp chì trước khi bốc hàng, xem
hàng có được xếp đúng theo sơ đồ không.
Nếu khi bốc hàng thấy thiếu hụt mất mát về số lượng thì phải lập biên bản kế
toán nhận hàng trên tàu. Nếu hàng bị đổ vỡ hư hỏng thì lập biên bản hàng đổ
vỡ hư hỏng và phải có chữ ký của thuyền trưởng.
24
(7)
(2)
(1) (8) (9) (7)(5)(3)
(6)
(4)
Luận văn tốt nghiệp Đặng Hoàng Nam - K35E1 -