MỤC LỤC
1.1. Cơ sở lý luận 10
1.2. Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến định hướng ngành học: 18
1.2.1. Các nhân tố chủ quan: 18
1.2.2. Các nhân tố khách quan: 19
1.3. Phương pháp thống kê nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến
định hướng ngành học của học sinh lớp 12 22
1.3.1. Phương pháp bảng, đồ thị 22
1.3.2. Phân tổ thống kê 23
1.3.3. Kiểm định Chi- bình phương: 23
1.3.4. Phương pháp phân tích phương sai một yếu tố ( One-Way
ANOVA): 25
1.3.5. Phương pháp hệ số Cronbach Alpha và hệ số tươngquanvới biến
tổng: 26
Hệ số Cronbach Alpha được tính theo công thức: 26
Anpha = 26
Trong đó: N là số mẫu 26
p là hệ số tương quan trung bình giữa các câu hỏi 26
Hệ số Cronbach Alpha dùng để đánh giá mức độ khác nhau của các câu
hỏi trong một Factors (nhân tố). Nếu như hệ số Cronbach Alpha đạt từ
0.6 trở lên thì thang đo được chấp nhận 26
Hệ số tương quan với biến tổng là hệ số tương quan của một biến với
điểm trung bình của các biến khác trong cùng một thang đo, do đó hệ số
này càng cao thì sự tương quan của các biến với các biến khác trong
nhóm càng cao. Và hệ số tương quan với biến tổng phải lớn hơn 0.3.
Theo Nunally & Burnstein (1994) thì các biến có hệ số tương quan với
biến tổng nhỏ hơn 0.3 được xem là biến rác và đương nhiên là loại bỏ
khỏi thang đo 26
1.3.6. Phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA : 26
Phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA là tên chung của một
nhóm các thủ tục được sử dụng chủ yếu để thu nhỏ và tóm tắt các dữ liệu.
BẢNG
1.1. Cơ sở lý luận 10
1.2. Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến định hướng ngành học: 18
1.2.1. Các nhân tố chủ quan: 18
1.2.2. Các nhân tố khách quan: 19
1.3. Phương pháp thống kê nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến
định hướng ngành học của học sinh lớp 12 22
1.3.1. Phương pháp bảng, đồ thị 22
1.3.2. Phân tổ thống kê 23
1.3.3. Kiểm định Chi- bình phương: 23
1.3.4. Phương pháp phân tích phương sai một yếu tố ( One-Way
ANOVA): 25
1.3.5. Phương pháp hệ số Cronbach Alpha và hệ số tươngquanvới biến
tổng: 26
Hệ số Cronbach Alpha được tính theo công thức: 26
Anpha = 26
Trong đó: N là số mẫu 26
p là hệ số tương quan trung bình giữa các câu hỏi 26
Hệ số Cronbach Alpha dùng để đánh giá mức độ khác nhau của các câu
hỏi trong một Factors (nhân tố). Nếu như hệ số Cronbach Alpha đạt từ
0.6 trở lên thì thang đo được chấp nhận 26
Hệ số tương quan với biến tổng là hệ số tương quan của một biến với
điểm trung bình của các biến khác trong cùng một thang đo, do đó hệ số
này càng cao thì sự tương quan của các biến với các biến khác trong
nhóm càng cao. Và hệ số tương quan với biến tổng phải lớn hơn 0.3.
Theo Nunally & Burnstein (1994) thì các biến có hệ số tương quan với
biến tổng nhỏ hơn 0.3 được xem là biến rác và đương nhiên là loại bỏ
khỏi thang đo 26
1.3.6. Phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA : 26
5
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đã có sự khởi sắc về
nhiều mặt, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người
dân. Để hòa chung vào xu thế đó, chúng ta cần một lực lượng lao động có đủ
trình độ năng lực và làm chủ được công nghệ kỹ thuật của đất nước, đủ điều
kiện đảm bảo hoàn thành tốt công việc trong mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội. Nếu chúng ta không chiếm hữu được tri thức, không sáng tạo và sử dụng
được thông tin trong các ngành sản xuất thì không thể thành công trong sự
cạnh tranh quyết liệt của thị trường. Chính vì vậy việc nâng cao trình độ
học vấn, trình độ văn hóa cho nhân dân, đặc biệt là việc định hướng bậc
học và định hướng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ hôm nay, chủ nhân tương lai
của đất nước, cần được quan tâm hơn bao giờ hết.
Nghề nghiệp luôn được coi là một trong nhiều yếu tố quan trọng quyết
định đến tương lai mỗi con người. Vì thế lựa chọn cho mình một ngành nghề
phù hợp là vấn đề được nhiều bạn trẻ quan tâm, đặc biệt là học sinh trung học
phổ thông (THPT), những người đang đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời. Việc
lựa chọn nghề của học sinh không chỉ xác định hướng đi cuộc đời của mỗi cá
nhân mà còn có tác dụng tới toàn xã hội bởi nó thúc đẩy hoặc kìm hãm sự
đóng góp của cá nhân đối với xã hội. Nhưng để lựa chọn được một nghề
nghiệp phù hợp với bản thân và gia đình, trước tiên, học sinh phải định hướng
được cho mình một ngành học thích hợp. Khi chọn được ngành học phù hợp
thì việc có được một công việc theo ý muốn, thích hợp với năng lực, nguyện
vọng sẽ tạo một động lực lớn thúc đẩy các cá nhân say sưa, miệt mài, tích cực
khám phá và sáng tạo để họat động tốt trong nghề, ngược lại nếu quyết định
của họ là chưa chính xác, là sai lầm thì việc tự tạo niềm vui trong nghề là rất
khó. Vào lứa tuổi này, học sinh THPT đã dần hình thành nên lối suy nghĩ chín
7
chắn hơn khi quyết định một kế hoạch trong tương lai. Tuy nhiên, trong thực
tế, việc chọn ngành học là một việc không hề dễ dàng bởi trong xã hội hiện
nay, số lượng ngành học rất phong phú, đa dạng và có những yêu cầu riêng
môn về nghề nghiệp.
Chọn ngành là bước đi đầu tiên, là nền tảng đầu tiên cho dự định
tương lai. Vì vậy, trước khi quyết định lựa chọn một ngành, một nghề nào đó
trong xã hội học sinh cần có những kiến thức cơ bản về ngành nghề đó rồi
mới có quyết định. Nếu học sinh nhận thức đầy đủ, đúng đắn về những yêu
cầu của ngành học, về những phẩm chất mà ngành đó yêu cầu thì họ sẽ có sự
lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với nguyện vọng của mình và xã hội, từ đó sẽ
tích cực hoạt động để vươn tới thành công.
Hàng năm ở nước ta có hàng vạn học sinh tốt nghiệpTHPT, những
học sinh này đều mong muốn tìm cho mình một nghề ổn định. Nhưng vấn đề
đặt ra là những bước đi đầu tiên đã chính xác, liệu họ đã có lựa chọn, định
hướng đúng đắn cho bản thân về một ngành hoạt động; có cơ sở để có một
nghề phù hợp với mình hay không? Những định hướng và lựa chọn ngành của
học sinh chịu ảnh hưởng của những yếu tố nào và ảnh hưởng của các nhân tố
đó tới quyết định chọn ngành của họ ra sao? Trả lời được câu hỏi trên là có ý
nghĩa quan trọng, bước đầu cho phép rút ra kết luận về định hướng ngành
tương lai của học sinh THPT.
Nhận thức sâu sắc được vấn đề đó, chúng tôi, những sinh viên năm
thứ ba của trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã lựa chọn đề tài “Định hướng
ngành học của học sinh lớp 12 tại các trường THPT” nhằm đưa ra cái nhìn
toàn diện và thực chất về vấn đề nhu cầu việc làm và các nhân tố ảnh hưởng
9
tới nhu cầu việc làm của học sinh lớp 12 hiện nay, đồng thời nêu khuyến
nghị nhằm nâng cao công tác hướng nghiệp và nhận thức cho học sinh lớp
12 nói riêng và cho tất cả những ai chuẩn bị bước vào ngưỡng cửa cuộc đời
nói chung.
Đề tài có kết cấu gồm các phần như sau:
LỜI MỞ ĐẦU
Chương I: Cơ sở lý luận và một số phương pháp thống kê sử dụng
trong nghiên cứu.
với bản thân của mỗi người trong hầu hết phần lớn khoảng thời gian quan
trọng của họ. Nghề cũng có thể được hiểu là một lĩnh vực hoạt động lao động
11
mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, kĩ năng để
làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần, đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Nghề nghiệp trong xã hội không phải là một cái gì cố định, cứng nhắc. Nghề
nghiệp cũng giống như một cơ thể sống, có sinh thành, phát triển và tiêu
vong. Chẳng hạn, do sự phát triển của kỹ thuật điện tử nên đã hình thành công
nghệ điện tử, do sự phát triển vũ bão của kỹ thuật máy tính nên đã hình thành
cả một nền công nghệ tin học đồ sộ bao gồm việc thiết kế, chế tạo cả phần
cứng, phần mềm và các thiết bị bổ trợ… Công nghệ các hợp chất cao phân tử
tách ra từ công nghệ hóa dầu, công nghệ sinh học và các ngành dịch vụ, du
lịch tiếp nối ra đời… Quá trình chuyển biến của nền kinh tế từ cơ chế kế
hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường đã gây ra những biến đổi sâu sắc
trong cơ cấu nghề nghiệp của xã hội. Trong cơ chế thị trường, nhất là trong
nền kinh tế tri thức, sức lao động cũng là một thứ hàng hóa. Giá trị của thứ
hàng hóa sức lao động này tuỳ thuộc vào trình độ, tay nghề, khả năng về mọi
mặt của người lao động. Xã hội đón nhận thứ hàng hóa này như thế nào là do
“hàm lượng chất xám” và “chất lượng sức lao động” quyết định. Khái niệm
phân công lao động sẽ mất dần trong quá trình vận hành của cơ chế thị
trường. Con người phải chủ động chuẩn bị tiềm lực, trau dồi bản lĩnh, nắm
vững một nghề, biết nhiều nghề để rồi tự tìm việc làm, tự tạo việc làm…
Nghề lại bao gồm nhiều chuyên môn. Chuyên môn là một lĩnh vực lao động
sản xuất hẹp mà ở đó, con người bằng năng lực thể chất và tinh thần của mình
làm ra những giá trị vật chất (thực phẩm, lương thực, công cụ lao động…)
hoặc giá trị tinh thần (sách báo, phim ảnh, âm nhạc, tranh vẽ…) với tư cách là
những phương tiện sinh tồn và phát triển của xã hội.
Việc đi sai hướng trong ngành học sẽ mang đến nhiều bất lợi trong
cuộc sống của học sinh sau này, cũng không tạo được niềm yêu thích, sự
hứng thú trong quá trình làm việc. Do đó, việc định hướng ngay ngành học là
hướng nghiệp. Nội dung cuốn sách đã đề cập đến sự phát triển đa dạng của
các ngành nghề trong xã hội do sự phát triển của công nghiệp từ đó đã rút ra
những kết luận coi giáo dục hướng nghiệp là một vấn đề quan trọng không thể
thiếu khi xã hội ngày càng phát triển và cũng là nhân tố thúc đẩy xã hội phát
triển. Năm 1980, James McKeen Cattell - một trong những người tiên phong
của khoa học hướng nghiệp, giáo sư tâm lý học của Đại học Pensylvania (Mĩ)
đã mở màn bằng việc xây dựng các bài test đầu tiên để đo lường và đánh giá
các thành công học đường của sinh viên. Năm 1909, Frank Parsons, giáo sư
Đại học Pensylvania, đã xuất bản cuốn “Lựa chọn một nghề nghiệp”
(Choosing Vocation), về sau vào những năm 1930, thế giới phương Tây đã
tôn vinh cuốn sách này như là một công trình nền tảng của ngành tư vấn
hướng nghiệp. Cuốn sách đã trình bày cơ sở tâm lý học của hướng nghiệp và
chọn nghề, các tiêu chí về sự phù hợp nghề của mỗi cá nhân để từ đó có sự
lựa chọn phù hợp. Ở Liên Xô vào những năm 29, 30 của thế kỷ XX, vấn đề
hướng nghiệp cho học sinh cũng được các nhà khoa học và lãnh đạo chính
quyền Xô viết đặc biệt quan tâm. V.I Lênin đã có chỉ thị yêu cầu phải cho học
sinh làm quen với khoa học kỹ thuật, làm quen với cơ sở của nền sản xuất
hiện đại. Việc tôn trọng “Tự do chọn nghề” cho mỗi thanh, thiếu niên là việc
nên làm, sở thích của họ cần được đặt lên hàng đầu. Điều này giúp cho trẻ em
phát triển được hứng thú và năng lực nghề nghiệp, giáo dục cho học sinh thái
độ lao động đúng đắn, động cơ chọn ngành nghề trong sáng. Từ đó học sinh
có thái độ tự giác trong việc chọn nghề. Đồng thời, bản thân mỗi học sinh sẽ
nhận thức được sâu sắc hơn hướng phát triển kinh tế của đất nước, những nhu
cầu của nền sản xuất. Nếu sớm thực hiện giáo dục hướng nghiệp cho thế hệ
trẻ thì sẽ có cơ sở để họ chọn nghề đúng đắn, có sự phù hợp giữa năng lực, sở
thích cá nhân với nhu cầu xã hội là điều dễ dàng.
14
Trong giai đoạn hiện nay, trên thế giới, nền sản xuất công nghiệp và
hậu công nghiệp đã phát triển cao, trong xã hội xuất hiện thêm nhiều ngành
nghề mới, sự phân hoá lao động đã khiến hầu hết các quốc gia trên thế giới
ta đã ra các Chỉ thị, Nghị quyết, văn kiện, các nguyên lý giáo dục của Đảng và
nhà nước. Có thể lấy ví dụ như Nghị định 126/CP ngày 19/03/1981 của chính
phủ về “công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng hợp
lý học sinh các cấp THCS và THPT tốt nghiệp ra trường”. Trong văn kiện Đại
hội Đảng lần thứ IX đã ghi rõ “Coi trọng công tác hướng nghiệp và phân
luồng học sinh trung học, chuẩn bị cho thanh niên, thiếu niên đi vào lao động
nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng
địa phương”. Luật giáo dục năm 2005 đã khẳng định: “Giáo dục THPT nhằm
giúp cho học sinh củng cố và phát triển những kết quả của THCS, hoàn thiện
học vấn để tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học nghề nhiệp, học nghề, và
đi vào cuộc sống lao động”. Chiến lược phát triển giáo dục năm 2001 - 2010
đã xác định rõ: “Thực hiện chương trình phân ban hợp lý nhằm đảm bảo cho
học sinh có học vấn phổ thông, cơ bản theo một chuẩn thống nhất, đồng thời
tạo điều kiện cho sự phát huy năng lực của mỗi học sinh, giúp học sinh có
những hiểu biết về kỹ thuật, chú trọng hướng nghiệp để tạo điều kiện thuận
lợi cho việc phân luồng sau THPT, để học sinh vào đời hoặc chọn ngành
nghề học tiếp sau khi tốt nghiệp”.
Về mặt nghiên cứu khoa học hướng nghiệp ở Việt Nam, theo các
chuyên gia thì ngành hướng nghiệp Việt Nam đã có những bước phát triển
mạnh mẽ vào những năm 1970, 1980. Những nhà khoa học tiên phong phải
kể đến GS. Phạm Tất Dong, GS. Phạm Huy Thụ, GS. Nguyễn Văn Hộ. Đây là
16
người có những đóng góp rất lớn cho giáo dục hướng nghiệp Việt Nam, họ đã
dày công nghiên cứu các vấn đề lí luận và thực tiễn cho giáo dục hướng
nghiệp như xác định mục đích, ý nghĩa, vai trò của hướng nghiệp; hứng thú,
nhu cầu và động cơ nghề nghiệp; hệ thống các quan điểm, nguyên tắc hướng
nghiệp, các nội dung, phương pháp, biện pháp giáo dục hướng nghiệp
Nhiều báo cáo nghiên cứu, báo, sách, giáo trình về “hướng nghiệp cho thanh
niên” đã trở thành những tư liệu quan trọng không chỉ cho bản thân các em
HS mà còn là tư liệu tham khảo bổ ích cho những bậc phụ huynh, những
chuyên gia tư vấn hoặc sử dụng những bài test IQ và EQ để xác định được ưu
và nhược của bản thân để biết được với đặc điểm tâm lý của bản thân thì việc
lựa chọn nghành nghề gì sau này là đơn giản và dễ dàng hơn. Sau khi có được
những thông tin cần thiết, việc trau dồi kiến thức chuyên môn cũng như bổ
sung các kỹ năng mềm như giao tiếp, làm việc nhóm, tư duy sáng tạo,… sẽ
giúp các bạn năng động hơn, nhạy bén hơn để khi ra trường hòa mình tốt vào
công việc.
Trong quá trình tồn tại và phát triển, giai đoạn lựa chọn ngành
được coi là một bộ phận, một mắt xích trong cấu trúc đời sống của con
người. Khi xác định cho mình một hướng đi, một vị trí hoạt động trong đời
sống xã hội chính là lúc con người ta lựa chọn nghề. Quá trình lựa chọn
ngành không phải là chốc lát, không phải diễn ra chỉ một lần mà nó nảy sinh
trong các mối quan hệ phức tạp và những điều kiện khách quan có mối
quan hệ trực tiếp. Việc lựa chọn ngành học tiến tới quyết định lựa chọn nghề
nghiệp sau này của học sinh là một quá trình lâu dài và phức tạp, nó được
biểu hiện ở các mức độ khác nhau ngay trong những lớp đầu của trường
THCS, được tiếp tục phát triển và hoàn thiện dần ở những lớp sau, nhất là ở
18
cuối cấp THPT. Quá trình lựa chọn của học sinh diễn ra với sự chi phối
của những mối quan hệ xã hội phức tạp (giữa học sinh với gia đình; học
sinh với tập thể lớp, trường, Đoàn Đội; học sinh với cộng đồng ). Những
mối quan hệ này tác động tới nhận thức, nhu cầu, động cơ, hứng thú, sở
thích nghề nghiệp của học sinh. Mặc dù quyết định cuối cùng là ở bản thân
của nhiều HS nhưng những yếu tố trên cũng ảnh hưởng ít nhiều tới lựa
chọn của họ.
1.2. Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến định hướng ngành học:
1.2.1. Các nhân tố chủ quan:
a. Sở thích của bản thân:
Học sinh THPT là những học sinh đang học trong trường THPT có độ
tuổi từ 15 đến 18 tuổi. Lứa tuổi này có một vị trí đặc biệt quan trọng trong các
và năng lực riêng, tri thức, kĩ năng và tình trạng sức khoẻ đáp ứng được đòi
hỏi do nghề nghiệp đặt ra. Để làm được điều đó, mỗi cá nhân phải xác định
được khả năng của mình tới đâu, có thể làm tốt được những công việc ở mức
độ nào. Không chỉ nâng cao kiến thức, mỗi người cũng cần tự rèn luyện các kĩ
năng mềm để hoàn thiện bản thân. Một người nếu chỉ có thế có được một
công việc tốt khi họ có học thức cũng như họ biết cách vận dụng, kết hợp giữa
lý thuyết vào thực tiễn.
1.2.2. Các nhân tố khách quan:
d. Bố mẹ, người thân hoặc thầy cô khuyên bảo hoặc do các trung
tâm tư vấn việc làm giới thiệu:
Gia đình là yếu tố rất quan trọng đối với sự phát triển về mọi mặt
của học sinh trong đó có cả vấn đề định hướng, lựa chọn ngành của con em.
Trong gia đình, cha mẹ là người luôn luôn gần gũi, hiểu rõ con cái mình
20
nhất nên cha mẹ có thể biết được hứng thú, năng lực, sở thích của chúng ra
sao. Cha mẹ là những người đi truớc có nhiều kinh nghiệm thực tế, có sự
hiểu biết về thế giới, nghề nghiệp trong xã hội hơn. Vì vậy, nhiều HS có sự
ảnh hưởng và tin tuởng rất lớn từ cha mẹ trong việc lựa chọn nghề nghiệp
cho bản thân. Hơn nữa trong điều kiện xã hội hiện nay, vấn đề việc làm sau
khi ra trường còn phụ thuộc rất nhiều vào các mối quan hệ và khả năng tài
chính của gia đình. Điều đó càng khẳng định vai trò quan trọng của gia đình
đối với việc lựa chọn nghề nghiệp của HS. Tuy nhiên, sự can thiệp, ảnh
hưởng quá lớn từ cha mẹ đến việc lựa chọn nghề nghiệp của học sinh sẽ
có tác động hai mặt: Mặt tích cực, đối với những trường hợp cha mẹ hiểu rõ
năng lực, hứng thú của con, hiểu biết rõ về các ngành nghề trong xã hội
nên hướng cho con mình lựa chọn những ngành phù hợp. Mặt tiêu cực là có
một bộ phận không nhỏ các bậc phu huynh lại áp đặt con cái lựa chọn
ngành, nghề theo ý mình. Với suy nghĩ là cha mẹ phải có trách nhiệm với
con cái từ việc chọn nghề đến lúc tìm việc làm mà hầu như không tính đến
hứng thú, năng lực sở trường của chúng. Điều này đã dẫn đến việc lựa chọn
trường THPT
f. Cơ hội tìm việc làm của ngành học:
Trong thời đại bùng nổ của thông tin và các phương tiện thông tin đại
chúng như hiện nay đã tác động không nhỏ tới việc lựa chọn ngành học của
HS. Với sự hỗ trợ của sách, báo, phim ảnh, truyền hình đặc biệt là kho thông
tin khổng lồ - mạng Internet, HS hiện nay dễ dàng nắm bắt, tiếp thu các
thông tin đa dạng về mọi mặt của các lĩnh vực đời sống xã hội, biết được
những ngành nghề nào đang được nhiều người quan tâm, biết được xã hội
đang thiếu nhân lực trong những ngành nào cũng như “xu hướng ngành nghề”
của toàn xã hội. Khi nói đến quá trình lựa chọn nghề là nói tới sự kết hợp giữa
nhu cầu, nguyện vọng cá nhân với yêu cầu do nghề nghiệp và xã hội đòi hỏi.
22
Không phải bất cứ nguyện vọng ngành nào nhiều học sinh lựa chọn cũng
được xã hội chấp nhận. Trong xã hội, mỗi cá nhân có một vị trí xác định, với
vị trí đó, cá nhân vừa được hưởng những quyền lợi đồng thời cũng cần có
trách nhiệm đối với cộng đồng và xã hội. Mối quan hệ giữa quyền lợi và trách
nhiệm trong lựa chọn được biểu hiện trong qua mối quan hệ giữa nguyện
vọng cá nhân (tôi muốn) với đòi hỏi về số lượng và chất lượng mà nhu cầu
nguồn nhân lực hoạt động trong các lĩnh vực đòi hỏi (tôi cần phải). Bởi vậy
trong nhiều trường hợp, nhiều HS phải từ bỏ sở thích cá nhân mà lựa chọn
ngành nghề sau này có nhiều cơ hội tìm việc trong tương lai.\.
1.3. Phương pháp thống kê nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến
định hướng ngành học của học sinh lớp 12.
1.3.1. Phương pháp bảng, đồ thị
a. Khái niệm, tác dụng của bảng thống kê:
Sau khi tổng hợp các tài liệu điều tra thống kê, muốn phát huy tác
dụng của nó với giai đoạn phân tích thống kê, cần phải trình bày kết quả tổng
hợp theo 1 hình thức thống nhất và thuận lợi, đó chính là bảng thống kê.
Có các loại bảng thống kê là bảng giản đơn, bảng phân tổ và bảng kết hợp.
Bảng thống kê là một hình thức trình bày các tài liệu thống kê một
: hai biến phụ thuộc với nhau
b. Tính toán đại lượng χ
2
:
Công thức tính χ
2
:
2
1
( )
c
ij ij
j
ij
O E
E
=
−
∑
Trong đó:
24
χ
2
: đại lượng Chi- bình phương dùng để kiểm định
O
ij
: đại diện cho số trường hợp được quan sát trong một ô cụ thể của
bảng chéo ( tần số quan sát)
E
ij
có khả năng có mối liên hệ giữa 2 biến.
c. Tìm giá trị giới hạn χ
2
(r-1)(c-1),α
:
Đại lượng kiểm định này có phân phối Chi- bình phương nên tra bảng
phân phối χ
2
sẽ tìm được giá trị giới hạn với mức ý nghĩa α hay số bậc tự do
df=(r-1).(c-1). Mức ý nghĩa α là khả năng tối đa cho phép phạm phải sai lầm
loại I trong kiểm định, tức khả năng bác bỏ H
0
mặc dù thực tế H
0
đúng.
25
d. Tiêu chuẩn quyết định là so sánh giá trị giới hạn và đại lượng
χ
2
:
Bác bỏ giả thuyết H
0
nếu: χ
2
> χ
2
(r-1)(c-1),α
Chấp nhận giả thuyết H
0
nếu: χ
, , ,
k
µ µ µ
là các trung bình thực của các tổng
thể nhóm mà từ đó ta rút ra được các mẫu tương ứng
• là trung bình chung của tất cả các nhóm theo biến định lượng đang
nghiên cứu tức trung bình tính chung cho mẫu không phân tách thành nhóm
Tiến hành kiểm định giả thuyết:
H
0
: μ
1
= μ
2
= = μ
k
(nghĩa là không có sự khác biệt giữa các
trung bình của các nhóm được phân loại theo biến định tính)
H
1
: Tồn tại ít nhất 1 cặp μ
i
≠ μ
j
với i ≠ j