Về việc dịch các từ ngữ có tính ẩn dụ liên quan đến hình tượng người anh hùng, quân tử trong một vài tác phẩm thơ Đường từ tiếng Hán sang tiếng Việt - Pdf 27

I HC QUC GIA H NI
TRNG I HC KHOA HC X HI V NHN VN
PHM TH KIM THU Về VIệC DịCH CáC Từ NGữ Có TíNH ẩN Dụ
LIÊN QUAN ĐếN
HìNH TƯợNG NGƯờI ANH HùNG, QUÂN Tử
TRONG THƠ ĐƯờNG
Từ TIếNG HáN SANG TIếNG VIệT

LUN VN THC S NGNH NGễN NG HC

1 1
H NI 2014
I HC QUC GIA H NI
TRNG I HC KHOA HC X HI V NHN VN
PHM TH KIM THU


văn hoá Trung Quốc và là đề tài bất tận mang lại nguồn cảm hứng cho nhiều
tác giả. Cho tới nay đã có rất nhiều tác giả dịch thơ Đường có liên quan tới
mảng đề tài này, có thể kể ra như các bản dịch thơ Đường của các dịch giả
như: Phan Huy Vịnh, Ngô Thế Vinh, Nguyễn Công Trứ, Trương Minh Ký,
Nguyễn Khuyến
Ngôn ngữ trong thơ Đường trong sáng, tinh luyện, tiết kiệm ngôn từ
(bài ngắn nhất 20 chữ: ngũ ngôn tuyệt cú). Do đó thơ Đường rất súc tích, cô
đọng. Ít khi thơ chịu nói hết ý, và không nói trực tiếp, mà chỉ dựng lên hàng
loạt các mối quan hệ để cho độc giả tự suy luận, tức chỉ “vẽ mây” để “nẩy
trăng”, ý ở ngoài lời, ý đến mà bút không đến, bút dừng mà ý không dừng, lời
hết mà ý chưa hết…Cho nên để hiểu cặn kẽ thơ Đường là rất khó, nhất là hiểu
cho được hết ý nghĩa biểu trưng của các hình tượng. Do đó, việc nghiên cứu về
3 3
vấn đề chuyển dịch từ ngữ từ Hán sang Việt luôn là một việc làm thiết thực
của các nhà nghiên cứu.
Làm tốt công tác nghiên cứu dịch thuật từ Hán sang Việt cũng là cách đóng
góp ý nghĩa vào sự nghiệp xây dựng con người mới và nền văn hóa mới.
Không phải ngẫu nhiên mà chúng tôi chọn đề tài: Về việc dịch các từ ngữ có
tính ẩn dụ liên quan đến hình tượng người anh hùng, người quân tử trong
thơ Đường từ tiếng Hán sang tiếng Việt. Ai cũng biết rằng “xưa nay thơ càng
hay càng khó dịch. Vì cái hay của nguyên tác đa diện quá, đa dạng quá, sức
chứa phong phú quá, người dịch làm sao chuyển tải nổi. Đối với thơ Đường thì
việc dịch lại càng khó khăn hơn nhiều. Bởi đó phần nhiều là những bài thơ “ý
tại ngôn ngoại”, tình cảm sâu xa, diễn đạt bằng vài trang lời văn chưa chắc đã
hết, nói chi đến việc gói gọn trong vài dòng thơ tiếng Việt. Mặt khác cũng là
để nhìn nhận lại một trong rất nhiều cách tiếp nhận Đường thi ở Việt Nam –
cách tiếp nhận
của những người làm công tác dịch thuật”.
2.Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Trong Thơ Đường có rất nhiều tác giả mà tác phẩm của họ đã ghi lại dấu ấn

văn học. Từ đó nhằm đóng góp cho các nghiên cứu về mối quan hệ trong
ngôn ngữ và tư duy, quan hệ giao lưu văn hóa giữa hai dân tộc Việt Nam –
Trung Quốc.
6.Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, khóa luận gồm 3 chương:
- Chương I: Cơ sở lý luận
- Chương II: Vấn đề chuyển dịch từ ngữ từ Hán sang Việt (Có liên
quan đến hình tượng người anh hùng, người quân tử
trong thơ Đường)
5 5
- Chương III: Cách tiếp nhận ẩn dụ chỉ hình tượng người anh hùng,
người quân tử trong thơ Đường ở Việt Nam.
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1. Thơ và đặc điểm của ngôn ngữ thơ
1.1.1. Thơ là gì?
Trước khi đi vào tìm hiểu về ngôn ngữ thơ, chúng ta cần phải biết “thơ là
gì?”.Theo tác giả Hữu Đạt viết trong cuốn “Ngôn ngữ thơ ca Việt Nam” thì từ
trước tới nay, trong giới nghiên cứu và phê bình đã có rất nhiều định nghĩa
khác nhau về thơ. Theo ông, cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa nào đầy
đủ, hoàn hảo, phản ánh về thơ một cách bản chất nhất, đặc trưng nhất. Mỗi
định nghĩa mới chỉ đúng từ một góc độ, một phương tiện trên những quan
niệm khác nhau về thơ ca. Nhìn một cách khái quát, ông đã nêu ra mấy
khuynh hướng sau đây:
a. Khuynh hướng thần thánh hoá thơ ca. Khuynh hướng này cho thơ là
một cái gì đó thuộc về thần linh tối cao, do thượng đế sáng tạo rồi nhập vào
con người. Ở Việt Nam, một số nhà thơ của phong trào Thơ Mới chịu ảnh
hưởng của quan niệm này luôn coi thơ là những hình thức nguyện cầu để trở
về với Thượng đế.Sống trong xã hội đương thời, bế tắc, thi sĩ làm thơ coi thơ
chỉ là những lời than vãn, những tiếng kêu than xót xa khẩn cầu lên đấng tối

Hai mặt này bao giờ cũng gắn bó chặt chẽ với nhau và tồn tại không tách rời
với nhau. Tuy nhiên, do đặc trưng của từng thể loại, loại hình nghệ thuật, do
đặc điểm phong cách của từng nghệ sĩ, có khi mặt này hoặc mặt kia được nổi
lên vị trí hàng đầu, còn mặt còn lại thì bị đẩy xuống hàng thứ yếu.
Ví dụ, người ta thường gọi các ngành như hội hoạ, điêu khắc là các ngành
nghệ thuật tạo hình. Còn các ngành như nhảy múa, âm nhạc, văn học…là các
ngành nghệ thuật biểu hiện. Tất nhiên, chúng ta cần phải hiểu rằng, ngay trong
7 7
nghệ thuật vẫn có tính chất biểu hiện và ngược lại, trong ngành nghệ thuật
cũng có tính chất tạo hình. Có điều là, ở mỗi ngành nghệ thuật, chất liệu xây
dựng nên phương thức tạo hình là hoàn toàn khác nhau.
Chẳng hạn, để làm nên phương thức tạo hình thì các nhà nghệ sĩ ở ngành hội
hoạ phải dung màu sắc, ở ngành điêu khắc phải dùng ngôn ngữ. Cho nên, ngôn
ngữ chính là cái chất liệu mà các nhà thơ sử dụng để làm nên tính chất tạo hình
trong thơ.
Một đặc điểm nổi bật của phương thức tạo hình là phản ánh trực tiếp đối
tượng, nghĩa là miêu tả đối tượng như nó vốn có trong thực tế khách quan.
Một tác phẩm thơ ca có tính chất tạo hình là một tác phẩm đem đến cho người
đọc những bức tranh sinh động về cuộc sống, hiện thực và thực tế khiến người
ta có thể cảm nhận được. Muốn như vậy, nhà nghệ sĩ phải sử dụng hai thao tác
cơ bản là thao tác lựa chọn và thao tác kết hợp.Thao tác lựa chọn cho phép nhà
nghệ sĩ lựa chọn các yếu tố ngôn ngữ như là các bức tranh riêng lẻ về hiện
thực. Thao tác kết hợp cho phép nhà nghệ sĩ xây dựng những bức tranh chung
rộng lớn hơn bằng việc kết hợp những bức tranh riêng lẻ này lại với nhau theo
những quy luật nhất định. Tài năng của nhà nghệ sĩ được đánh giá ở chỗ, với
một số lượng hữu hạn các đơn vị ngôn ngữ, anh ta phải làm như thế nào đó để
tạo được những bức tranh vô hạn về thế giới khách quan cũng như về thế giới
nội tâm của con người.
Khi hoạt động với tư cách là chất liệu của ngành nghệ thuật tạo hình thì chức
năng định danh của ngôn ngữ sẽ nổi lên hàng đầu. Trong trường hợp này, tính

“Hình tượng văn học nghệ thuật là một bức tranh sinh động nhất của cuộc
sống được xây dựng bằng ngôn ngữ nhờ có trí tưởng tượng, óc sáng tạo và
cách đánh giá của nhà nghệ sĩ”.
“Tính hình tượng là cái tồn tại phụ thuộc vào văn cảnh, nó tồn tại ở bề mặt
văn bản, trên những mối quan hệ cụ thể, còn hình tượng là cái thuộc về cấu
9 9
trúc chiều sâu của văn bản. Nó là sự tổng hòa hay là sự đồng hiện của tất
cả những cái hình tượng của văn cảnh ấy. Nói một cách khác, hình tượng
là cái nằm ở phía trong của những mối quan hệ.” [11, tr.15]
1.2. Khái niệm về ẩn dụ
1.2.1. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu ẩn dụ
Ẩn dụ là một hiện tượng đã được nghiên cứu từ thời cổ đại (khoảng thế kỷ thứ
IV trước công nguyên) ở nhiều cấp độ khác nhau. Ẩn dụ không chỉ được
nghiên cứu trong các lĩnh vực thuộc về ngữ văn học, mà còn được nghiên cứu
ở nhiều các lĩnh vực khác như: triết học, tâm lý học, phong cách học, từ vựng
học và gần đây nhất là dụng học và ngôn ngữ học tri nhận.
Lý thuyết về ẩn dụ bắt đầu hình thành từ thời triết học Hy Lạp. Ẩn dụ theo
tiếng Hy Lạp lúc bấy giờ là (metaphor) có nghĩa là chuyển từ chỗ này sang
một chỗ khác, tức có nghĩa là chuyển đổi. Sau này khái niệm chuyển đổi ấy
được vận dụng vào việc xác định nghĩa của từ theo phương thức ẩn dụ là hiện
tượng chuyển nghĩa. Trong ẩn dụ một sự vật được miêu tả hay được định nghĩa
bằng những từ biểu thị một sự vật khác, có sự tương đồng hay sự giống nhau
với sự vật trước.
Trong các công trình nghiên cứu của các học giả Trung Hoa cổ đại thì ẩn dụ
được thể hiện qua cách chỉ sự ví von, bóng bẩy và thường ẩn chứa trong lời
khởi đầu của các bài ca dao dân ca sau này và được ghi lại rất nhiều trong các
tác phẩm Kinh Thi nổi tiếng.
Đến thời hiện đại cũng xuất hiện khá nhiều công trình nghiên cứu của các nhà
ngôn ngữ học về ẩn dụ. Có thể kể ra như: R.Jakobon, J.Cohen, và sau này là
George Lakoff và Mark Johnson…Nếu như quan niệm truyền thống chỉ xem

11 11
Thứ nhất: Ẩn dụ là một trong những phương thức chuyển nghĩa cơ bản của
các đơn vị từ vựng. Nếu xem xét ở góc độ này, dựa vào mối quan hệ tương
đồng giữa sự vật và đối tượng thì ẩn dụ là đối tượng nghiên cứu của từ vựng
học. Ẩn dụ không chỉ được thể hiện ở một từ, một câu mà có thể ẩn dụ được
sử dụng làm khung chiếu vật cho cả một đoạn văn, một khổ thơ hay cả một bài
thơ.
Theo các công trình nghiên cứu về ẩn dụ trong và ngoài nước cho đến nay, ẩn
dụ thường được xem là phép chuyển đổi tên gọi dựa trên sự so sánh ngầm giữa
hai sự vật có sự tương đống hay những nét giống nhau nào đó. Tiếng Hy Lạp
“Metaphor” lúc đầu có nghĩa là chuyển từ chỗ này sang một
chỗ khác, tức có nghĩa là “chuyển đổi”.
Chẳng hạn, tác giả Đỗ Hữu Châu lý giải hiện tượng ẩn dụ bằng cơ chế chuyển
đổi trường nghĩa từ vựng. Ông quan niệm “Ẩn dụ là cách gọi tên sự vật hiện
tượng này bằng tên gọi của một sự vật, hiện tượng khác, giữa chúng có mối
quan hệ tương đồng”[7, tr 54]. Cơ chế chuyển đổi nghĩa của ẩn dụ được ông
miêu tả như sau:
“ Cho A là một hình thức ngữ âm, X và Y là những ý nghĩa biểu vật. A vốn là
tên gọi của X (tức X là ý nghĩa biểu vật của A). Phương thức ẩn dụ là phương
thức lấy tên gọi A của X để gọi tên Y, nếu như X và Y giống nhau….” [7, tr
145]
Tác giả Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: “Ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi dựa vào
sự giống nhau giữa các sự vật hoặc hiện tượng được so sánh với nhau”.[19, tr
162]
Nguyễn Văn Tu nêu ra định nghĩa: “Ẩn dụ là phép gọi tên một sự vật bằng tên
gọi của một sự vật khác theo mối quan hệ gián tiếp. Muốn hiểu được mối quan
hệ đó chúng ta phải so sánh ngầm. Khác với hoán dụ, phép ẩn dụ, theo tưởng
tượng của ta mà gọi một sự vật chỉ có vài dấu hiệu chung với sự vật mà từ
12 12
biểu thị trước thôi. Chính nhờ những dấu hiệu chung gián tiếp ấy mà ta thấy

được định danh với khách thể (hiện tượng, hoạt động, tính chất) B có tên gọi
được dùng chuyển sang cho A.[31, tr 52]
Còn tác giả Cù Đình Tú thì nói : “Ẩn dụ là cách cá nhân lâm thời lấy tên gọi
biểu thị đối tượng này dùng để biểu thị đối tượng kia trên cơ sở mối quan hệ
liên tưởng về nét tương đồng giữa hai đối tượng” [62, tr 179]
Tác giả Hữu Đạt nói kỹ hơn: “Ẩn dụ là kiểu so sánh không nói thẳng ra.
Người tiếp nhận văn bản khi tiếp cận với phép ẩn dụ phải dùng năng lực liên
tưởng để quy chiếu giữa các yếu tố hiện diện trên văn bản với các sự vật hiện
tượng tồn tại ngoài văn bản. Như vậy thực chất của phép ẩn dụ là dùng tên
gọi này để biểu hiện sự vật khác dựa trên cơ chế tư duy của ngôn ngữ dân
tộc”. [12, tr 302 ].
Ở luận văn này, này chúng tôi đưa ra cách hiểu về ẩn dụ như sau: “Ẩn dụ là
phép tu từ trong đó dùng tên gọi của sự vật, hiện tượng này để biểu hiện
cho sự vật, hiện tượng khác khi mà giữa 2 sự vật, hiện tượng đó có những
nét tương đồng dựa trên một cơ chế liên tưởng nào đó. Nói cách khác ẩn dụ
chính là sự so sánh ngầm trong đó vế được so sánh bị ẩn đi. Giá trị chủ yếu
của ẩn dụ là biểu cảm, nó được sử dụng nhiều trong ngôn
ngữ và đặc biệt là trong các tác phẩm văn học”.
1.2.3. Phương pháp phân loại ẩn dụ, các kiểu ẩn dụ
Trong Việt ngữ học có rất nhiều cách phân loại ẩn dụ dựa trên những cơ sở
khác nhau từ đó dẫn đến các kiểu , loại ẩn dụ khác nhau. Có thể dẫn ra một số
tác giả với những cách phân loại tiêu biểu sau đây:
* Tác giả Nguyễn Đức Tồn cho rằng có 2 loại ẩn dụ dựa trên cơ sở sau:
+ Thứ nhất: Khi hai biểu vật có cùng nét nghĩa nào đó như nhau nên được tư
duy đồng nhất hoá với nhau nhưng chỉ có một biểu vật đã có gọi tên. Ẩn dụ
14 14
loại này được cố định hoá trong hệ thống ngôn ngữ, được dựa vào từ điển và
được toàn dân sử dụng được gọi là ẩn dụ định danh (hay ẩn dụ từ vựng)
+ Thứ hai: Khi hai biểu vật có cùng nét nào đó như nhau, đều vốn đã có tên gọi
riêng nhưng trên cơ sở tư duy liên tưởng đồng nhất hoá chúng có thể lấy tên

+ Ẩn dụ hình thức: Vd: mũi là một bộ phận của con người có đặc điểm nhọn,
có phần nhô ra. Vì thế phần đất nhô ra cũng được gọi là “mũi đất” + Ẩn dụ
chuyển tính chất của sự vật này sang sự vật hoặc hiện tượng khác.
Ví dụ:
Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu
(Ông đồ - Vũ Đình Liên)
+ Ẩn dụ dựa trên sự giống nhau về một thuộc tính, tính chất nào đó.Vd:
Tình cảm khô khan, lời nói ngọt ngào.
+ Ẩn dụ chức năng: Vd. “Bến” trong bến xe, bến đò, bến sông…tất cả các từ
này đều thể hiện một chức năng giống nhau là đầu mối giao thông.
+ Ẩn dụ đặc điểm hình thức, dáng vẻ bên ngoài: Vd: Người phụ nữ đẹp được
gọi là Tây Thi.
+ Ẩn dụ màu sắc: VD: màu da trời – màu xanh như da trời, màu cánh sen –
màu hồng như màu của cánh sen…
+ Ẩn dụ chuyển tên gọi của con vật thành con người: VD: con cún con của mẹ,
con cún con của anh…
+ Ẩn dụ từ cụ thể đến trừu tượng: VD: hạt nhãn là cái cụ thể chỉ phần bên
trong của quả, nó cũng được dùng để chỉ trung tâm quan trọng nhất của một
vấn đề.
16 16
* Tác giả Hữu Đạt trong cuốn “Phong cách học tiếng Việt hiện đại” –
NXBQG 2000 cho rằng: Trong thực tế ngôn ngữ chúng ta thường gặp các
kiểu ẩn dụ khác nhau và cụ thể có 3 kiểu loại sau đây. Ẩn dụ nhân hoá, ẩn
dụ tượng trưng và ẩn dụ ngụ ngôn.
Các tác giả Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hoà gọi ẩn dụ nhân hoá là kiểu ẩn
dụ được xây dựng dựa trên mối quan hệ giữa người với vật. Cụ thể đó là phép
ẩn dụ được hình thành dựa trên cơ chế chuyển nghĩa giữa trường về con người
và trường về sự vật. Theo đó ẩn dụ nhân hoá bao gồm 2 quan hệ biện chứng đó
là:

thức cho con người”.
Trên đây là cách phân loại ẩn dụ của một số nhà nghiên cứu ngôn ngữ. Quan
niệm và cách phân loại về ẩn dụ tu từ của các nhà ngôn ngữ học được trình bày
theo những cách khác nhau không hề mâu thuẫn, đối lập mà chúng bổ sung
cho nhau đem lại những cách hiểu thống nhất và đầy đủ nhất về ẩn dụ tu từ.
Với những quan điểm khác nhau về ẩn dụ, chúng tôi chọn quan điểm của tác
giả Hữu Đạt làm cơ sở cho sự nghiên cứu và khảo sát các tư liệu ẩn dụ về
hình tượng người anh hùng, người quân tử.
1.3. Vài nét về thơ Đƣờng
1.3.1.Khái quát chung về thơ Đường
Ðến nay, giới nghiên cứu văn học Trung Quốc đã thống kê sưu tầm được năm
mươi ngàn bài thơ Ðường của hai ngàn ba trăm tác giả. Vì sao Ðường thi phát
triển mãnh liệt như vậy?. Ðời Ðường, nước Trung Quốc độc lập và thống nhất
sau thời gian dài bị chia cắt và lệ thuộc. Tình hình đó kích động cảm hứng
sáng tạo cho nhà thơ. Ðô thị phồn vinh tạo điều kiện truyền bá văn học và
cung cấp cho thơ ca nhiều đề tài phong phú.
18 18
TheoTrần Bá Hải viết trong cuốn Đường Thi học dẫn luận thì Thơ Ðường chia
ra bốn giai đoạn Sơ - Thịnh - Trung – Vãn.
Thời kỳ Sơ Đƣờng
Sơ Ðường là giai đoạn chuẩn bị mọi mặt cho thơ, còn mang nặng tính chất uỷ
mỵ với bốn nhà thơ nổi tiếng: Vương Bột, Dương Quýnh, Lư Chiếu Tân và
Lạc Tân Vương. Cuộc đời họ gặp nhiều bất hạnh nhưng trong thơ vẫn có
những tình cảm tích cực lành mạnh. Sau đó, Trần Tử Ngang đề xướng chủ
trương khôi phục tinh thần phong nhã và đặt nền móng cho thơ hiện thực.
Nhược điểm của thời kỳ này là khi viết về chiến tranh, âm hưởng chủ đạo của
họ là khẳng định, ca ngợi.
Thời kỳ Thịnh Đƣờng
Thịnh Ðường là giai đoạn rực rỡ nhất của thơ, đạt đến sự thống nhất hoàn mỹ
giữa nội dung và hình thức với nhiều nhà thơ lớn. Mặc dù thơ Ðường khá đa

Các tác giả sách Lịch sử văn học Trung Quốc viết: “Trung Quốc đời Đường
(618- 907) là một nước tiên tiến, văn minh trên thế giới đương thời. Trong lĩnh
vực văn học nghệ thuật, xuất hiện nhiều cảnh tượng cực kỳ phồn vinh. Những
thành tựu về thơ ca tạo nên thời đại hoàng kim của lịch sử phát triển thơ ca
trong xã hội phong kiến Trung Quốc”
Nội dung cuả thơ Đường thật là phong phú, mang tính hơn hẳn so với thời đại
phong kiến trước và sau nó…đó là kết quả tổng hợp của nhiều nhân tố. Ngoài
đặc điểm phong cách và đời sống của chính bản thân mình, các tác giả còn biết
kế thừa tinh hoa của truyền thống văn học – nghệ thuật hàng nghìn năm trước,
lại tiếp thu được cả một di sản tư tưởng – triết học đa dạng lớn lao, và mỗi nhà
thơ một mặt là do chính cái “bản lai diện mục” vốn có của các nhân tố ấy quy
định. Mặt khác là xuất phát từ cách thế kế thừa, tiếp thu, thâu hóa của từng tác
giả.
20 20
Thành tựu về nghệ thuật
Thơ Đường được coi là đỉnh cao của thi ca cổ điển Trung Quốc không chỉ vì
nội dung phong phú, mà hơn nữa, còn vì nghệ thuật trác việt, kết tụ tinh hoa
của quá khứ và làm khuôn mẫu cho thơ đời sau, nhất là luật thi. Cống hiến của
nó đối với lịch sử văn học rất lớn.
a. Nghệ thuật vận dụng thi pháp
Như chúng ta đã biết, vào đời Đường, mọi thể loại đều đạt đến mức hoàn
chính. Nhạc điệu câu thơ bình hòa, ổn luyện, nhất là câu thất ngôn. Tiết tấu
nhẹ nhàng, ngân nga với nhịp câu chẵn cân đối, âm hưởng thấm sâu vào tâm
hồn người đọc, tạo nên cảm giác êm ái lâng lâng:
Khứ niên/ hoa lý/ phùng quân biệt
Kim nhật/ hoa khai/ hựu nhất niên
Thế sự/ mang mang/ nan tự liệu
Xuân sầu/ ảm ảm/ độc thành miên…
Vi Ứng Vật, Ký Lý Đảm Nguyên Tích
Nhịp điệu ấy hầu như đã định hình và đạt đến mức độ tối ưu của câu thất ngôn,

phương pháp lãng mạn và hiện thực không tách ra thành hai tuyến đối lập
nhau. Ta có thể nói thơ lãng mạn mang tính hiện thực như các bài Thục đạo
nan, Bạch đầu ngâm, Song yến ly…của Lý Bạch và thơ hiện thực mang tính
lãng mạng như các bài Mộng Lý Bạch, Đan thanh dẫn, Cổ bá hành, Tráng
du…của Đỗ Phủ.
c. Nghệ thuật vận dụng ngôn ngữ
Ngôn ngữ thơ Đường kết tinh được nhiều cái đẹp, mang tầm khái quát rất cao,
không những có khả năng biểu cảm mà còn có khả năng biểu ý, kết hợp cảm
quan và nhận thức, truyền thống và cách tân, kế thừa và sáng tạo. Ngôn ngữ
22 22
giàu hình ảnh và cảm xúc ấy phần lớn là do các biện pháp tu từ tạo ra. Nhiều
khi các biện pháp tu từ xen kẽ chồng chéo nhau, làm bật lên cái “tứ” sâu xa
như người ta thường nói “ý tại ngôn ngoại”. Bài thơ, nhất là tứ tuyệt và bát cú,
rất ngắn gọn, sao cho trong một số câu nhất định, một số từ hữu hạn, phải diễn
đạt hết cảm nghĩ của tác giả.
Ngôn ngữ thơ Đường trong sáng, tinh luyện, tiết kiệm ngôn từ (bài ngắn nhất
hơn hai mươi chữ: ngũ ngôn tuyệt cú). Do thế, thơ Đường rất súc tích, cô
đọng. Ít khi thơ chịu nói hết ý, và “vẽ mây, nẩy trăng” (chỉ tả đám mây, nhưng
ta biết có vầng trăng bị che lấp ở phía sau), ý ở ngoài lời, ý đến mà bút không
đến, bút dừng mà ý không dừng – lời hết mà ý chưa hết…
1.3.3. Đôi nét về thể loại và thi pháp thơ Đường
Thể loại thơ Đường
Thể thơ
Đường Thi gồm thơ cổ phong và thơ cận thể (thơ Ðường luật, cách
luật).
 Thơ Cổ Phong hay Cổ Thể
Cổ phong là lối thơ có từ những triều đại trước. Trong thơ cổ phong, người ta
chia ra hai loại cho dễ nhớ: thơ cổ phong năm lời (ngũ ngôn) và bảy lời (thất
ngôn). Thơ cổ phong khác với thơ luật ở chỗ thơ chỉ cần vần chứ không cần
phải theo luật bằng, trắc. Khác với thơ luật, thơ cổ phong có thể dài ngắn khác

định như sau:
- Phá: Câu mở đầu ( cũng gọi là Phá đề)
- Thừa: Nhân ý câu phá mà chuyển tiếp
- Thực: Gồm hai câu 3,4 phải đối nhau từng lời và ý, nói rõ chủ đề của
bài thơ.
24 24
- Luận: Gồm hai câu 5,6 cũng theo luật đối lời đối ý của các câu thực,
nhằm tăng ý chính của bài.
- Kết: hai câu cuối cùng, chuyến ý và thâu tóm ý tưởng của bài thơ hoặc
có một tứ lạ gây thêm cảm xúc cho người đọc.
Thơ luật có thể năm lời (ngũ ngôn) và thể bảy lời( thất ngôn)
Thi pháp thơ Đường
Con người trong thơ Đường
Con người là đối tượng, đồng thời cũng là mục đích cứu cánh của văn học. Khi
Gorky nói rằng: “Văn học là khoa học về con người”, tức là ông quan niệm
văn học không là gì khác hơn ngoài phản ánh, thể hiện con người vì con
người.
Sáng tác văn học là một hoạt động nhận thức và thể hiện con người, tất nhiên
văn học không thể không có quan niệm về con người.
Quan niệm nghệ thuật về con người là một phạm trù rất quan trọng của thi
pháp học. Nó hướng ta nhìn về đối tượng chủ yếu của văn học, trung tâm của
quan niệm thẩm mỹ của nghệ sĩ. Hình tượng nghệ thuật xuất hiện trong tác
phẩm bao giờ cũng mang tính quan niệm, tức là cách phản ánh, miêu tả, thể
hiện nhân vật, con người bao giờ cũng mang trong nó quan niệm của tác giả.
Trong thơ Đường, con người khí phách chưa được thể hiện nhiều như trong
thơ Tống hay trong thơ cổ Việt Nam. Trong thơ hiện đại, ta thấy xuất hiện
nhiều con người hành động. Con người trong thơ Đường không khước từ hành
động nhưng họ đề cao cái tâm hơn, nên những từ có bộ tâm (心) có tần số xuất
hiện cao trong thơ (tâm, tình, ý, ức, tư tưởng, hoài niệm, thương, bi, ưu, sầu,
oán, hận…)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status