i
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và
kết quả trong khoá luận là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì một
công trình nào khác.
Tác giả
Nguyễn Thị Hà Trang
ii
L
LL
iii
Danh mục các từ viết tắt
Kí hiệu Chú giải
LQTPVH Làm quen tác phẩm văn học
NXB
Nhà xu
ất bản
NXBGD Nhà xuất bản giáo dục
1
MỤC LỤC
Lời cam đoan……………………….……………………………………… i
Lời cảm ơn……………………………………… ………………………… ii
Danh mục các từ viết tắt………….……………………….………………….iii
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài………………………………………………………… 3
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề………………………………………………….5
3. Mục đích nghiên cứu……………………………………………………….8
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài……………………………….8
2.1. Chuẩn bị tốt tầm đón nhận ở trẻ trước khi LQTPVH 37
2.2. Thu hút sự chú ý của trẻ trong quá trình tiếp cận văn bản tác phẩm 38
2.3. Đàm thoại, giảng giải, giải thích giúp trẻ hiểu tác phẩm 42
2.5. Luyện tập cho trẻ thể hiện tác phẩm thơ, truyện 44
2.5.1. Tập cho trẻ kể lại truyện 45
2.5.2. Tập cho trẻ đọc thuộc thơ diễn cảm 462
2.5.3. Tổ chức trò chơi đóng kịch dựa theo cốt truyện 48
2.6. Tổ chức hoạt động bổ trợ trong quá trình LQTPVH 52
2.7. Đa dạng hoá các hình thức tổ chức hoạt động LQTPVH 53
2.7.1. Tổ chức hoạt động làm quen thơ, truyện 53
2.7.2. Tổ chức cho trẻ làm quen các tác phẩm thơ, truyện trong các giờ học
khác 64
2.7.3. Tổ chức cho trẻ làm quen tác phẩm thơ, truyện trong giờ hoạt động
góc 64
2.7.4. Cho trẻ làm quen tác phẩm thơ, truyện qua các hoạt động ngoài giờ 65
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Giáo dục Mầm non là bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân có
vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển
nhân cách của con người. Vì thế chăm sóc, giáo dục trẻ Mầm non là một vấn đề đặc
biệt quan trọng trong chiến lược phát huy nhân tố con người của Đảng và Nhà nước.
Chiến lược này được cụ thể hoá trong xây dựng chương trình giáo dục mầm non.
Trong đề án phát triển giáo dục Mầm non giai đoạn 2006 – 2015, quan điểm
trọng tâm là đẩy mạnh xã hội hoá, tạo điều kiện thuận lợi về cơ chế, chính sách để
mọi tổ chức, cá nhân và toàn xã hội tham gia phát triển giáo dục quốc dân. Ở nhiều
nước, không chỉ ở những nước nghèo mà ngay cả ở những nước giàu, để phát triển
sự nghiệp giáo dục, họ đã tìm nhiều giải pháp để đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục,
trong đó có xã hội hoá giáo dục Mầm non.
Hiện nay Bộ giáo dục đào tạo và Vụ giáo dục Mầm non chủ trương cải tiến
nội dung giáo dục dựa trên quan điểm kết hợp giữa các tri thức tự nhiên, xã hội và
nghệ thuật nhằm giáo dục trẻ một cách toàn diện. Trong đó cho trẻ làm quen tác
phẩm văn học (LQTPVH) được xem là hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực phát triển
nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm xã hội và phát triển thẩm mỹ cho trẻ. Việc đổi mới
phương pháp, đề xuất các biện pháp cụ thể nhằm giúp trẻ cảm thụ tốt các tác phẩm
văn học, hướng tới mục tiêu sử dụng tác phẩm văn học giáo dục toàn diện nhân
cách cho trẻ là việc làm cấp thiết đòi hỏi nhiều tâm huyết của các nhà quản lý, các
nhà giáo dục và những ai quan tâm đến sự nghiệp giáo dục Mầm non.
1.2. Là một loại hình nghệ thuật, văn học giữ vai trò to lớn trong việc hình
thành và phát triển toàn diện nhân cách của trẻ, là món ăn tinh thần không thể thiếu
đối với trẻ thơ nhất là lứa tuổi mẫu giáo. Cho trẻ LQTPVH là một trong những hoạt
động chủ yếu ở trường Mầm non, thông qua hoạt động truyền khẩu, vui chơi giáo
quả trên tiết học chưa cao.
Việc giúp trẻ mầm non cảm thụ tốt các tác phẩm thơ, truyện đã được tiến hành
nghiên cứu nhiều qua các chuyên đề cho trẻ LQTPVH. Tuy nhiên chưa có đề tài
nào nghiên cứu cho trẻ mẫu giáo bé 3 - 4 tuổi. Vì vậy, tôi mạnh dạn chọn đề tài
nghiên cứu: “Một số biện pháp giúp trẻ 3 – 4 tuổi cảm thụ tốt các tác phẩm thơ,
truyện” nhằm mục đích nâng cao hiệu quả của các tác phẩm thơ, truyện trong việc
giáo dục trẻ.
5
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1. Ở nước ngoài
Vài thập kỷ trở lại đây, vấn đề cho trẻ mẫu giáo LQTPVH nói chung, các tác
phẩm thơ, truyện nói riêng được nhiều chuyên gia trong và ngoài nước nghiên cứu.
Người ta đã nghiên cứu cảm thụ thẩm mỹ thông qua sự cảm thụ tác phẩm văn học.
Nghiên cứu đặc điểm cảm thụ văn học ở trẻ mẫu giáo. Nghiên cứu sự phát triển
ngôn ngữ ở trẻ mẫu giáo dựa trên sự cảm thụ các tác phẩm văn học. Nghiên cứu
các phương pháp cho trẻ LQTPVH theo các mục đích khác nhau…
Trong công trình nghiên cứu của mình nhà tâm lý học nổi tiếng người Nga
L.X Vưgốtxki nói rằng nghệ thuật là hành vi sáng tạo. Theo ông không thể dạy
được sự sáng tạo nghệ thuật nhưng điều đó không có nghĩa là người giáo viên
không thể tác động lên sự sáng tạo ra biểu hiện của nó [42].
Nhà nghiên cứu nghệ thuật B.M. Treplop khẳng định “Nghệ thuật bao trùm
sâu rộng lên các phương diện khác nhau của tâm lý con người cả tưởng tượng, tình
cảm, trí tuệ và nghị lực” ý nghĩa to lớn của nghệ thuật thể hiện trong sự phát triển ý
thức và tự ý thức, trong giáo dục tình cảm đạo đức và hình thành thế giới quan của
con người. Vì vậy nghệ thuật là một trong những phương diện phát triển nhân cách
toàn diện.
hoà nhập vào các hoạt động nghệ thuật.
2.2 Ở trong nước
Ở Việt Nam nước ta trong 2 thập kỉ trở lại đây các phương pháp cho trẻ
LQTPVH cũng đã được đề cập tới song chưa nhiều. Công trình nghiên cứu Hình
thành sự cảm thụ nghệ thuật các tác phẩm văn học ở trẻ mẫu giáo lớn của PTS Lê
Thị Ánh Tuyết [31] là một trong những nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam trong lĩnh
vực giáo dục mẫu giáo về cho trẻ làm quen với các tác phẩm văn học nghệ thuật.
Trong nghiên cứu này tác giả nêu lên những đặc điểm thực tế của các tác phẩm văn
học ở trẻ mẫu giáo lớn trong trường mầm non Việt Nam. Làm sáng tỏ mức độ cảm
thụ tác phẩm văn học của trẻ mẫu giáo lớn.
Tác giả Nguyễn Thu Thuỷ trong cuốn sách Giáo dục trẻ mẫu giáo qua thơ,
truyện [29] đã đưa ra một số phương pháp cho trẻ LQTPVH, nhưng chỉ dừng lại ở
phương pháp đọc, kể của giáo viên là chủ yếu mà chưa đề cập đến việc làm thế nào
để giúp trẻ mẫu giáo cảm thụ tốt các tác phẩm thơ, truyện.
Khi đề cập đến mục đích, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức cho trẻ
làm quen với tác phẩm văn học, các tác giả Phạm Thị Việt, Lê Thị Ánh Tuyết, Cao
7
Đức Tiến trong công trình nghiên cứu Văn học và phương pháp cho trẻ tiếp xúc với
tác phẩm văn học [30] các tác giả đã chú ý tới sự gần gũi phù hợp, tự nhiên bắt
nguồn từ tâm sinh lý trẻ với các thể loại văn học dân gian từ đó đề xuất các phương
pháp giúp trẻ tiếp xúc với các phẩm văn học.
Phó tiến sĩ Hà Nguyễn Kim Giang trong các nghiên cứu của mình đã khẳng
định ngôn ngữ nghệ thuật ảnh hưởng lớn đến sự phát triển, tâm hồn của trẻ đặc biệt
là sự nhạy cảm thẩm mĩ, sáng tạo ngôn ngữ. Cũng như công trình Văn học và
phương pháp cho trẻ tiếp xúc với tác phẩm văn học của nhóm tác giả: Lê Thị Ánh
Tuyết, Cao Đức Tiến, Phạm Thị Việt, tác giả Hà Nguyễn Kim Giang đã nhấn mạnh
các phương pháp cơ bản cho trẻ mẫu giáo tiếp xúc với tác phẩm văn học như đọc và
kể các tác phẩm có nghệ thuật, trao đổi gợi mở, sử dụng các phương tiện đồ dùng
trực quan và đưa trẻ vào văn học nghệ thuật. [13]
phương tiện dạy học hiện đại thì sẽ phát huy hiệu quả cao trong việc giúp trẻ cảm
thụ tốt các tác phẩm thơ, truyện.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hướng dẫn trẻ 3 - 4 tuổi cảm
thụ tốt các tác phẩm thơ, truyện. Cụ thể đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu các lĩnh vực
học có liên quan thuộc ngôn ngữ học, giáo dục học, tâm lý học sư phạm, phương
pháp cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học nhằm tạo cơ sở lý luận cho đề tài.
Nghiên cứu thực tiễn về mục tiêu giáo dục và chương trình làm quen văn học dành
cho trẻ 3 – 4 tuổi và phương pháp hướng dẫn trẻ 3 – 4 tuổi làm quen thơ, truyện.
Trên cơ sở đó phân tích và rút ra được kết luận sư phạm nhằm định hướng cho việc
giúp trẻ cảm thụ tốt các tác phẩm thơ, truyện.
- Đưa ra một số biện pháp nhằm giúp trẻ 3 – 4 tuổi cảm thụ tốt các tác phẩm
thơ, truyện.
- Tổ chức thực nghiệm sư phạm, phân tích kết quả thực nghiệm nhằm đánh giá
khả năng đưa ra các biện pháp vào thực tế dạy học ở trường Mầm non.
7. Phương pháp nghiên cứu
Nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra trong đề tài, chúng tôi đã kết hợp sử dụng
nhiều phương pháp khác nhau
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng phương pháp thu thập tài liệu, đọc sách, phân tích, so sánh, tổng hợp,
khái quát, hệ thống những nguồn tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp quan sát
- Quan sát để thấy được biểu hiện khả năng cảm thụ các tác phẩm thơ, truyện
của trẻ ở trường mầm non.
- Dự giờ, đánh giá các kết quả mà giáo viên mầm non cho trẻ thực hiện.
9
7.2.2. Phương pháp đàm thoại
10
9. Bố cục của khoá luận
Khoá luận gồm những phần sau:
Phần mở đầu: Lí do chọn đề tài, lịch sử nghiên cứu vấn đề, mục đích nghiên
cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài, giả thuyết khoa học, nhiệm vụ
nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, những đóng góp của đề tài, bố cục khoá luận.
Phần nội dung gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hướng dẫn trẻ mẫu giáo 3 – 4
tuổi cảm thụ tác phẩm thơ, truyện.
Chương 2: Biện pháp giúp trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi cảm thụ tốt các tác phẩm
thơ, truyện.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Phần kết luận và kiến nghị: Những kết quả đạt được của khoá luận
- Tài liệu tham khảo: Thống kê 42 tài liệu đã sử dụng trong quá trình nghiên
cứu đề tài.
- Phần phụ lục: Giới thiệu phiếu tham khảo ý kiến giáo viên về thực trạng hoạt
động cho trẻ 3 – 4 tuổi LQTPVH ở trường Mầm non, Phiếu đánh giá kết quả hoạt
động, 5 giáo án mẫu và kịch bản truyện.
11
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC HƯỚNG DẪN TRẺ 3 – 4 TUỔI
CẢM THỤ TỐT TÁC PHẨM THƠ, TRUYỆN
1.1. Cơ sở lý luận của việc hướng dẫn trẻ 3 - 4 cảm thụ tốt tác phẩm thơ,
truyện
1.1.1. Đặc điểm thơ, truyện trong chương trình làm quen văn học với việc
hướng dẫn trẻ cảm thụ tác phẩm văn học
với trẻ. Còn ở lớp 4 – 5 tuổi thì ngoài những chủ đề trên trẻ còn được làm quen
thêm các chủ đề như: lịch sử, Bác Hồ. Lớp 5 – 6 tuổi có thêm chủ đề: quan hệ giàu
nghèo…
Ngoài những đặc điểm chung của nghệ thuật văn chương. Văn học dành cho
trẻ 3 – 4 tuổi còn mang những đặc điểm sau:
- Sự hồn nhiên, ngây thơ
Hồn nhiên, ngây thơ vốn là bản tính của trẻ Mầm non và đặc biệt là trẻ 3 – 4
tuổi vì thế các tác phẩm thơ, truyện có trong chương trình LQTPVH dành cho trẻ ở
độ tuổi này cũng có những nét riêng về sự hồn nhiên, ngây thơ.
Ví dụ:
Hôm nay trời nắng chang chang
Mèo con đi học chẳng mang thứ gì
Chỉ mang một cái bút chì
Và mang một mẫu bánh mì con con.
(Phan Thị Vàng Anh,Mèo con đi học)
Bé cài nơ hồng
Rung rinh nhịp bước
Bướm trắng lượn hồng
Theo nơ đến lớp
(Xuân Hoài, Đến lớp)
- Sự ngắn gọn, rõ ràng
Thơ, truyện dành cho trẻ Mầm non cần phải ngắn gọn, rõ ràng. Đối với trẻ
mẫu giáo 3 – 4 tuổi, tuy tư duy của trẻ đã đạt tới ranh giới của tư duy trực quan –
13
hình tượng, nhưng các hình tượng và biểu tượng trong đầu trẻ vẫn còn gắn liền với
hành động nên những tác phẩm thơ, truyện dành cho lứa tuổi này phải có sự ngắn
gọn, rõ ràng hơn so với độ tuổi 4 – 5 tuổi và 5 – 6 tuổi. Sự ngắn gọn không chỉ thể
hiện ở dung lượng tác phẩm mà còn thể hiện trong cả câu văn, câu thơ. Văn xuôi
Hay hỏi đâu đâu
Là con chó vện.
Hay chăng dây điện
Là con nhện con.
Ăn no quay tròn
Là cối xay lúa…
(Trần Đăng Khoa, Kể cho bé nghe)
Sự rõ ràng của văn học dành cho trẻ em lứa tuổi này còn được thể hiện ở ý
nghĩa của từ vựng. Từ ngữ thường mang nghĩa đen, với lối miêu tả cụ thể, dễ hiểu.
Ví dụ:
Có cô rong xanh
Đẹp như tơ nhuộm
Giữa hồ nước trong
Nhẹ nhàng uốn lượn.
Một đàn cá nhỏ
Đuôi đỏ lụa hồng
Quanh cô rong đẹp
Múa làm văn công.
(Phạm Hổ, Rong và cá)
Hay như đoạn văn sau đây:
Thế rồi, ngày qua ngày, chiếc mầm cây lớn dần thành cây. Cây trổ lá xanh non
mơn mởn và kết những nụ hoa màu hồng chúm chím. Chẳng bao lâu, nụ hoa xoè
cánh thành những bông hoa rực rỡ, toả hương thơm ngát. Các bạn ong rủ nhau bay
đến để hút mật hoa. Các bạn bướm cũng bay đến, lượn quanh khóm hoa và reo lên:
15
- Hoa đẹp quá, thơm quá! Cảm ơn bạn ấm sành nhé!
( Kim Tuyến, Chiếc ấm sành nở hoa)
Với cách miêu tả trực tiếp như vậy, trẻ có thể dễ dàng hình dung ra và hiểu rõ
các sự vật, hiện tượng được thể hiện trong tác phẩm.
Lá sen xanh mát
Đọng hạt sương đêm
Gió rung êm đềm
Sương long lanh chạy.
(Nhược Thuỷ, Hồ sen)
- Yếu tố truyện trong thơ và yếu tố thơ trong truyện
Cũng giống như lứa tuổi mẫu giáo nhỡ, lớn. Đây cũng là một đặc điểm khá nổi
bật về thơ, truyện trong chương trình LQTPVH dành cho trẻ 3 – 4 tuổi. Khác với
thơ dành cho người lớn, hầu hết là thơ tâm trạng, bao gồm hệ thống những cảm xúc
nổi niềm suy tưởng… thơ dành cho các em còn có thể “kể” lại được. Nhưng ở lứa
tuổi 3 – 4 tuổi vốn ngôn ngữ sống còn hạn chế, khả năng nhận biết các từ trong câu
chưa hoàn chỉnh nên chương trình đã chọn những bài thơ và câu truyện có kết cấu
đơn giản hơn, có thể theo trục thời gian, hai tuyến nhân vật đối lập và rõ rệt, với
những đoạn lặp đi lặp lại giúp trẻ ghi nhớ các tình tiết, dễ theo dõi sự phát triển của
nội dung tác phẩm. Ngoài những truyện thơ như: Mèo Hoa đi học, Bác Gấu Đen và
hai chú thỏ…, những bài thơ ngắn cũng đều kể lại một sự việc, một hiện tượng:
Dán hoa tặng mẹ, Gấu qua cầu, Ong và Bướm, Gà trống…
Xin dẫn một bài cụ thể:
Con bướm trắng
Lượn vườn hồng
Gặp con ong
Đang bay vội
Bướm liền gọi
Rủ đi chơi
Ong trả lời
17
-Tôi còn bận,
Mẹ tôi dặn:
“Việc chưa xong,
Gần đây, trong khi xây dựng chương trình đổi mới, hoạt động LQTPVH được
xác định theo hướng thích hợp chủ đề, chủ điểm. Các nhà giáo dục cũng đã lựa
chọn và đưa các tác phẩm thơ, truyện phù hợp vào chương trình LQTPVH với hình
thức và nội dung giáo dục trẻ phù hợp từng độ tuổi. Và có hướng mở cho cô giáo tự
lựa chọn những tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị đáp ứng nhiệm vụ giáo dục.
Qua những đặc điểm thơ, truyện dành cho trẻ 3 – 4 tuổi đã nêu trên thì sự lựa chọn
đúng đắn những tác phẩm thơ, truyện có giá trị và việc sử dụng chúng nhằm mục
đích giáo dục là vấn đề đặt ra đối với các giáo viên ở trường Mầm non. Thường
những tác phẩm được lựa chọn cần có nội dung gần gũi với trẻ: gia đình, bạn bè,
nhà trường, quê hương.
Khi sử dụng những tài liệu văn học nghệ thuật để dùng trên lớp, giáo viên
không thể làm máy móc hoặc tuỳ tiện mà cần suy nghĩ cẩn thận và có kế hoạch tiến
hành cụ thể. Khi lựa chọn và sử dụng tác phẩm cần thống nhất chủ đề và hình
tượng, tránh hiện tượng chồng chéo các chủ đề và hình tượng gây ra những biểu
tượng không rõ ràng ở các em về những bài thơ, câu truyện được nghe. Ví dụ về
chủ đề quê hương, đất nước cô giáo có thể giành một tuần cho việc đọc và kể tác
phẩm thể hiện vẻ đẹp của quê hương nông thôn đồng bằng Bắc bộ, tuần sau có thể
cho các em cảm nhận vẻ đẹp của tổ quốc với những núi cao, biển rộng, sông dài…
Những tác phẩm dài không nên đọc tất cả trong một buổi học mà nên chia thành
những đoạn đủ ý để đọc.
Trong chương trình chăm sóc giáo dục trẻ em, người ta đã lựa chọn và đưa
vào những tác phẩm phù hợp với từng độ tuổi. Song song với việc đọc, kể những
tác phẩm mới, chúng ta phải cho các em ôn lại những tác phẩm cũ. Trẻ em thích
được ôn lại bài cũ, đặc biệt là trẻ 3 – 4 tuổi vì mỗi lần ôn lại, các em lại tìm thấy
một điều mới lạ trong bài văn đã quen, hoặc cũng cố hiểu sâu một bài đã được nghe.
Kinh nghiệm nhiều người cho thấy, lần đầu tiên đọc một cuốn sách hay chúng ta có
cảm tưởng như tìm được một người bạn mới. Đọc lại một cuốn sách đã xem như là
gặp lại một người bạn cũ. Sự luân chuyển hợp lí giữa tài liệu mới và cũ làm cho giờ
học thêm hứng thú. Ở độ tuổi Mẫu giáo bé việc củng cố chiếm nhiều thời gian hơn
Ở lứa tuổi này đặc điểm tâm sinh lý ảnh hưởng rất lớn đến cảm thụ tác phẩm
thơ, truyện.
20
Khả năng chú ý: Ở trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi chú ý chủ định chưa phát triển.
Theo số liệu nghiên cứu trẻ ở lứa tuổi này chú ý được 27 phút so với trẻ 1 tuổi là
14,5 phút. Nhưng trẻ thường chú ý những gì trẻ thích, trẻ được nhìn thấy hơn là
nghe thấy. Trong cùng một lúc trẻ không chú ý được nhiều đối tượng.
Vì vậy, để tổ chức cho trẻ LQTPVH phải căn cứ vào đặc điểm này. Trước hết
cô phải có phương pháp, thủ thuật thế nào để lôi cuốn sự chú ý của trẻ. Đặc biệt ở
lứa tuổi này phải có đồ dùng trực quan sinh động. Vừa nghe cô giáo kể, đọc tác
phẩm, vừa được tiếp xúc với biểu tượng trực quan giúp trẻ chú ý hơn vào bài thơ,
câu truyện, trẻ sẽ tiếp nhận thế giới hiện thực trong tác phẩm bằng cả tai và mắt.
Thế giới đó sẽ hiện lên trong mắt trẻ sinh động hơn và cũng cụ thể, đầy đủ, chi tiết
hơn. Bên cạnh đó một tác phẩm cần được cô giáo dạy nhiều lần, thời gian dạy
không kéo dài để giúp trẻ ghi nhớ tác phẩm tốt. Kết hợp với ngôn ngữ đọc, kể chậm
rãi, gợi cảm, phong cách sinh động thu hút sự chú ý của trẻ.
Khả năng tri giác: Trẻ từ 3 – 4 tuổi, tri giác trẻ đã phát triển. Tri giác của trẻ
không mang tính kế hoạch, không hệ thống, hạn chế về mặt thời gian, ngôn ngữ.
Trẻ thường có ấn tượng mạnh trước những sự vật mới lạ, có màu sắc, có sự chuyển
động hấp dẫn. Trong quan sát trẻ rất tò mò, ham hiểu biết, hay đặt câu hỏi…
Giáo viên khi dạy cần phải tổ chức, hướng dẫn sự chú ý của trẻ, tạo điều kiện
cho trẻ tri giác bằng các giác quan. Ngôn ngữ nói của giáo viên cần chậm hơn mức
bình thường, rõ ràng, có hình ảnh ngắn gọn.
Trí tưởng tượng của trẻ: Tưởng tượng là quá trình nhận thức, phản ánh những
cái chưa có trong kinh nghiệm bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở
những hình ảnh đã có. Trí tưởng tượng của trẻ em không phong phú như người lớn
vì ít kinh nghiệm sống. Khác với người lớn, trí tưởng tượng của trẻ gắn liền với
niềm tin ngây thơ và cảm xúc mãnh liệt.
Ở tuổi nhà trẻ, trí tưởng tượng của các em còn nghèo nàn, chủ yếu tái tạo và
em, những gì làm xúc động mạnh mẽ là phương tiện duy nhất để làm cho trí tưởng
tượng và tính nhạy cảm của hoạt động”.[26]
Các nhà sáng tác văn học phải đặc biệt quan tâm đến đặc điểm tâm lí này ở trẻ
để tìm hiểu đặc điểm tiếp nhận văn học và cảm thụ văn học diễn ra ở trẻ khi tiếp cận
các tác phẩm. Nếu như người lớn hiểu tác phẩm văn học bằng kinh nghiệm và sự
suy ngẫm từ cuộc đời từng trải của mình thì trẻ em cảm nhận tác phẩm bằng chính
trực giác và tưởng tượng thiên bẩm của tuổi thơ. Có thể nói, tưởng tượng là một
năng lực không thể thiếu để cảm thụ và sống với các tác phẩm văn học. Trí tưởng
tượng phong phú chính là tiền đề để chúng ta thực hiện việc giúp trẻ cảm thụ tốt các
tác phẩm thơ, truyện. Các cô giáo mầm non cần có sự hiểu biết và kĩ năng trong
22
LQTPVH để tìm ra con đường tốt nhất giúp trẻ cảm thụ tốt các tác phẩm thơ,
truyện.
Tư duy: Tư duy là quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất,
những mối quan hệ có tính quy luật của sự vật và hiện tượng trong hiện thực khách
quan mà ta chưa biết.
Ở tuổi ấu nhi, thì tư duy bằng tay hay tư duy trực quan - hành động. Nhưng
bước sang mẫu giáo 3 – 4 tuổi, tư duy của trẻ có một bước ngoặt rất cơ bản. Đó là
sự chuyển tư duy từ bình diện bên ngoài vào bình diện bên trong mà thực chất đó là
việc chuyển từ những hành động định hướng bên ngoài thành những hành động
định hướng bên trong theo cơ chế nhập tâm. Quá trình tư duy của trẻ đã bắt đầu dựa
vào những hình ảnh của sự vật và hiện tượng đã có trong đầu, cũng có nghĩa là
chuyển từ kiểu tư duy trực quan – hành động sang tư duy trực quan – hình tượng.
Qua đó ta thấy, tư duy là một trong những đặc điểm tâm lý quan trọng, có ảnh
hưởng trực tiếp đến sự cảm thụ văn học của trẻ. Với sự tung hoành của trí tưởng
tượng cùng với tính “duy kỉ” rất cao, trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi luôn lấy mình làm
trung tâm để nhìn nhận thế giới xung quanh. Với cách nhìn “vật ngã đồng nhất” và
trí tưởng tượng phong phú, vạn vật trong thế giới qua con mắt trẻ thơ đều trở nên
sinh động và có hồn. Các em tìm thấy trong thiên nhiên đời sống của chính mình và