Theo dõi các tác dụng không mong muốn của bài thuốc Hương sa lục quân - Pdf 27

ĐẶT VẤN ĐỀ
Hội chứng ruột kích thích (HCRKT) là một rối loạn chức năng đường
tiêu hóa, không kèm theo rối loạn về cấu trúc và sinh hóa, bao gồm các triệu
chứng như: đau bụng, chướng bụng, rối loạn tiêu hóa [2] [10]. Các rối loạn
tiêu hóa thường xuyên, tái phát, không nguy hiểm đến tính mạng của người
bệnh nhưng ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh, bệnh kéo
dài làm người bệnh luôn lo lắng, căng thẳng, mất ngủ, luôn luôn lo sợ các
bệnh hiểm nghèo khác của đường tiêu hóa [2] [10] [14].
HCRKT đã được mô tả lần đầu năm 1673, Guyon.L. đã nói tới chứng
đau bụng sình hơi (Colique Venteuse). Năm 1830 Howslip J. đã viết về những
nhận xét thực tế để phân biệt và điều trị có kết quả chứng co thắt đại tràng.
Sau đó tùy triệu chứng nổi bật mà người ta gọi hội chứng này bằng nhiều tên
khác nhau, như: Viêm đại tràng co thắt, Viêm đại tràng tiết nhầy, Chứng đi
lỏng xúc động, Chứng đại tràng không ổn định, Đại tràng kích thích (hoặc rối
loạn thần kinh đại tràng)… Năm 1962, Chaudray và Truelove đầu tiên đi sâu
vào nghiên cứu lâm sàng của HCRKT, cùng nhiều nghiên cứu sau đó cho
thấy không phải chỉ có đại tràng bị kích thích mà cả ruột non cũng có vai trò
quan trọng trong việc làm phát sinh các rối loạn, vì vậy gọi là hội chứng ruột
kích thích. Như vậy bản chất của HCRKT chính là rối loạn thần kinh đại tràng
và ruột kích thích.
Tần suất của HCRKT thay đổi tùy theo từng quốc gia, trung bình bệnh
gặp ở 15 – 20% dân số. Tuy nhiên số bệnh nhân thật sự còn lớn hơn nhiều vì
chỉ có khoảng 30% trường hợp bệnh nhân đi khám. Ở Việt nam, theo Hà Văn
Ngạc thống kê tại bệnh viện 108, tỷ lệ bệnh nhân bị HCRKT là 24,1%, theo
1
Lại Ngọc Thi tỷ lệ này là 17,3% [11]. Tỷ lệ mắc HCRKT ở nữ nhiều hơn nam
giới, độ tuổi trung bình là 40.
Hiện nay, YHHĐ đã có nhiều phương pháp điều trị HCRKT nhưng chủ
yếu là điều trị triệu chứng. Tuy nhiên việc điều trị cũng còn gặp nhiều khó
khăn và đòi hỏi chi phí khá lớn [23].
Theo YHCT, HCRKT thuộc phạm vi của chứng “Tiết tả”,”Cửu tiết”,

đại tràng. Thomson W.D. (1997) đã định nghĩa: Các rối loạn chức năng của
ruột tái đi tái lại nhiều lần mà không tìm thấy các tổn thương về giải phẫu, tổ
chức học, sinh hóa ở ruột gọi là HCRKT (irritable bowel sydrome - IBS) [20].
Hiện nay, nhờ các thăm dò hiện đại về hình thái và chức năng của ruột
trên thực nghiệm và lâm sàng đã dần làm sáng tỏ cơ chế điều chỉnh ống tiêu
hóa chủ yếu là sự tác động qua lại giữa hệ thống thần kinh trung ương với hệ
thống thần kinh ruột ( trục nóo-ruột) - hệ thống mạng lưới thần kinh
(plexuces) hoạt động cùng với nhau để thực hiện nhịp nhàng chức năng bình
thường của ruột [1].
3
1.1.2. Dịch tễ học
Các rối loạn chức năng ruột hay gặp trong các bệnh đường tiêu hóa,
chiếm 30-70% số bệnh nhân khám tiêu hóa (Thompson W.G.1986; Naveau
S.1986). Các tác giả Anh (Thompson W.G 1980) Mỹ (Drossman D A 1982),
Pháp (Bommelaer G. 1986) Trung Quốc (Wen B.Z 1988) cho biết tỷ lệ rối
loạn chức năng ruột trong dân chúng vào khoảng 20%, trong đó có 14-18%
mắc HCRKT. Tuy nhiên chỉ có 62-67% số bệnh nhân bị HCRKT chịu đến
thầy thuốc vỡ cỏc triệu chứng tăng lên hoặc là sợ bị ung thư.
Ở Việt nam, theo Hà Văn Ngạc (2000) khám 730 bệnh nhân tiêu hóa tại viện
108 gặp 176 bệnh nhân bị HCRKT: tỉ lệ 24,1% [10]. Theo Lại Ngọc Thi (1996)
khám 1979 bệnh nhân tiêu hóa thì tỷ lệ này là 17,3%. nữ bị bệnh nhiều hơn nam, tỉ
lệ nam/nữ la 1/1,6. Tuổi thường gặp là 30-60 (75,2%). Thời gian mắc bệnh từ 2 đến
dưới 5 năm chiếm 40,3%; từ 5 năm đến dưới 10 năm gặp 47,8%.
1.1.3. Tiờu chuẩn chẩn đoán.
HCRKT thường được nhận biết bằng tam chứng: đau bụng, chướng
bụng và rối loạn tính chất phân (táo bón hoặc ỉa lỏng). Dựa trên tính chất của
phân người ta chia HCRKT thành bốn hình thái lâm sàng khác nhau: 21% có
triệu chứng táo bón là chính, 31% tiêu chảy là chính, 27% xen kẽ giữa táo bón
và tiêu chảy, còn lại là không có rối loạn tính chất phân. Ngoài ra, bệnh nhân
còn có thể có các triệu chứng không đặc hiệu kèm theo về tiết niệu, phụ khoa,

loột đại trực tràng chảy mỏu,…
- X quang khung đại tràng với thuốc cản quang: có thể loại trừ những
bệnh thực tổn như: u, polyp, viờm, loột đại tràng,…
- Sinh thiết niêm mạc để xét nghiệm mô bệnh học: để loại trừ viêm đại
tràng collagen (viêm đại tràng vi thể, viêm đại tràng lympho).
- Thử nghiệm dung nạp lactose: để loại trừ những trường hợp không
dung nạp lactose do thiếu có chọn lọc enzyme lactase.
5
1.1.4. Sơ lược phương pháp điều trị hiện nay.
_ Chế độ ăn: Ăn kiêng những thức ăn không thích hợp như sữa, tôm, cua,
cá. Bệnh nhân phải tự tìm những thức ăn thích hợp, trỏnh cỏc thức ăn sau:
những thức ăn sinh hơi nhiều và khó tiêu, những chất kích thích, thức ăn
nhiều sợi xơ, thức ăn nhiều đưũng, đồ uống có gas, thức ăn để lâu bảo quản
không tốt, các thức ăn sống.
_Chế độ luyện tập rất cần thiết và phải rất kiên trì: mỗi ngày cố định vào
một giờ đi ngoài, xoa bụng trước khi đi ngoài. Ngoài ra có thể luyện tập các
biện pháp như khí công, đi bộ…
_ Tâm lý liệu pháp.
_ Các thuốc điều trị triệu chứng:
+ Chống đau, giảm co thắt: Duspataline, Nospa, Spasfon…
+ Chống ỉa chảy: Smecta,
+ Chống táo bón: uống nhiều nước, ăn nhiều chất xơ, thuục nhuận tràng:
tegaserod, duphalac, forlax…
+ Chống sinh hơi: Meteospasmyl, pepsan, than hoạt…
1.2. Hội chứng ruột kích thích theo y học cổ truyền.
1.2.1. Khái niệm, cơ chế bệnh sinh [4], [6], [7].
Trong Y văn của YHCT không có bệnh danh “Hội chứng ruột kớch
thớch”, nhưng căn cứ trờn cỏc biểu hiện lâm sàng cụ thể, đại đa số các nhà
Đông y đều cho rằng: đây là căn bệnh thuộc phạm vi chứng Tiết tả, Táo kết.
Tiết tả được phân làm “cửu tiết” và “bạo tiết”, “cửu tiết” tức đi ỉa nhiều

Do tỳ khí hư xuất hiện phúc thống:
7
Nguyên nhân do thể chất vốn tỳ vị hư yếu, hoặc ốm lâu ngày làm tổn
thương tỳ vị, do lao động quá mệt nhọc làm cho tỳ khí bị tổn thương, không
vận hoá được mà sinh bệnh. Biểu hiện đau liên miên ở vùng bụng, lúc nặng
lúc nhẹ, gặp ấm thì đỡ, thích xoa bóp.
1.2.2.Các thể lâm sàng của HCRKT theo YHCT [3], [7].
Căn cứ vào bệnh chứng và nguyên nhân HCRKT theo YHCT gồm có các thể:
tỳ vị khí hư, thận dương hư hay mệnh môn hoả suy, can tỳ bất hoà và khí trệ.
1.2.2.1. Thể tỳ vị khí hư:
- Triệu chứng: bụng lạnh đau, nôn ra nước trong, ăn kém, đầy bụng, sôi
bụng, phõn nỏt, sống phân, người mệt mỏi, chân tay lạnh, sắc mặt vàng nhợt,
chóng mặt, môi nhợt, chất lưỡi non bệu, rêu lưỡi trắng hoặc trơn, mạch tế nhược.
- Pháp điều trị: bổ tỳ vị (kiện tỳ, dưỡng vị, hoá thấp).
- Phương dược: Sâm linh bạch truật tán (theo Thái bình huệ dõn hũa tễ
cục phương), Hương sa lục quân ( Nội khoa trích dụng)
1.2.2.2. Thể thận dương hư hay mệnh môn hoả suy:
- Triệu chứng: cơ thể lạnh, chân tay lạnh, thể trạng gầy, mệt mỏi, ăn kém,
bụng lạnh trướng đầy, bụng dưới lạnh đau, ỉa lỏng phân sống, ngũ canh tiết tả,
lưng mỏi gối lạnh, tiểu tiện vặt, tiểu đêm, chất lưỡi nhạt bệu có vết hằn răng,
mạch trầm trì tế nhược.
Thể này còn được gọi là tỳ thận dương hư.
Pháp điều trị: ôn bổ tỳ thận dương, cố sáp.
- Phương dược: Tứ thần hoàn. (theo Nội khoa trích yếu).
1.2.2.3. Thể can tỳ bất hoà:
- Triệu chứng: ngực sườn trướng đầy đau, hay thở dài, tinh thần ức uất dễ
cáu giận, miệng đắng họng khô, ăn uống sút kém, bụng trướng, đại tiện lỳc
8
tỏo, lỳc lỏng, sôi bụng, đôi khi phân lẫn nhầy, mỗi khi buồn bực căng thẳng
thì phát sinh đau bụng ỉa chảy ngay. Chất lưỡi đỏ nhợt, rêu lưỡi trắng nhớt

Năm 2009, Trịnh Thị Lụa nghiên cứu tác dụng của Tràng vị khang trong
điều trị hội chứng ruột kích thích thể lỏng thấy đạt hiệu quả tốt 89,09% [8].
1.3. Bài thuốc “Hương sa lục quõn”
1.3.1. Xuất xứ của bài thuốc.
“Hương sa lục quân tử thang” là bài thuốc cổ được ghi trong trong
nhiều sách cổ như: Y phương tập giải, Thời ca phương quát, Nội khoa trớch
dụng…Đõy là bài thuốc chủ yếu dùng cho những người có các triệu chứng
chân tay lạnh, vị tràng yếu, nước đọng lại trong dạ dày, nhất là vùng bụng trên
đầy tức, người cảm thấy bức bối khó chịu, ǎn không tiêu, đầy bụng, đi ngoài
phõn lỳc lỏng lỳc tỏo[3], [4].
Nguyên phương Bài thuốc gồm:
Đẳng sâm 09gr.
Trần bì 06gr.
Bán hạ chế 09gr.
Bạch truật 09gr.
Phục linh 12gr.
Mộc hương 06gr.
Sa nhân 03gr.
Cam thảo 06gr.
10
1.3.2. Sơ bộ về các vị thuốc trong bài thuốc.
• Đẳng sâm:
- Là rễ củ của cây đẳng sâm (codonopsis pilosula), họ hoa chuông
(Campanelacecie).
- Thành phần hóa học:
Đẳng sâm ở Trung Quốc có saponin và đường.
Đẳng sâm ở Việt nam có đường, chất béo, chưa thấy có saponin.
- Tác dụng dược lý:
Tăng đường huyết do thành phần hydratcacbon.
Làm tăng hồng cầu, giảm bạch cầu, tăng hemoglobin.

Hesperidin còn có khả năng kéo dài tác dụng của corticoid, duy trì tính
thẩm thấu của mạch máu bình thường, giảm tính xơ cứng của mạch máu.
11
- (glycyrrhizic acid, glycyrrhytinic acid) muối của kali và canxi, các chất
thuộc nhóm flavonoid: liquiritigentin, isoliquiritigenin.
- Tác dụng dược lý: chống loét, làm tăng tiết nhầy ở niêm mạc dạ dày,
chống co thắt, chống oxi hóa, bảo vệ gan, chống viêm, chống dị ứng giống tác
dụng của hormon vỏ thượng thận, trừ ho, trừ đờm, giảm mỡ máu, ổn định
thần kinh tiền đình, lợi tiểu, tác dụng của nội tiết tố dục tính đối với âm đạo.
- Tính vị qui kinh: ngọt bình vào can tỳ, thông 12 kinh.
- Tác dung: bổ trung ớch khớ, hòa hoãn cơn đau, giải độc tiờu khỏt,
dưỡng huyết nhuận phế chỉ ho, tả hỏa giải độc.
• Phục linh:
- Còn có tên là Bạch phục linh, là nấm mọc kí sinh trên rễ cây thông
(Poriacocos) thuộc họ nấm lỗ (Poliporaceae).
- Thành phần hóa học:
Đường pachymose, glucose, fructose và chất khoáng.
Gần đây thấy thành phần của phục linh gồm 3 loại: các acid có thành
phần hợp chất tripecpen, đường lachyman, ngoài ra cũn cú estrogen, cholin,
histidin và rất ít enzyme protease.
- Tác dụng dược lý: lợi tiểu, hạ đường huyết, cường tim ếch cô lập,
chống nôn, trấn tĩnh, kháng khuẩn.
- Tính vị qui kinh: ngọt bình vào kinh tâm, tỳ, phê, thận.
- Tác dụng: lợi thủy, trừ thấp, kiện tỳ, an thần.
• Sa nhân:
- Là quả và hạt gần chin phơi khô của cây sa nhân (Amomum
xanthioides) họ gừng (zingiberaceae).
- Thành phần hóa học: trong sa nhân có 2% - 3% tinh dầu. Thành phần
chính của tinh dầu là d.bocneola (19%), d.campho (33%), axetat bocnyla
(26,5%), d.limonen (7%), phelandren (2,3%), pinen (1,8%),

quân tử thang”, với thành phần và liều lượng của mỗi thang thuốc như sau:
Đẳng sâm 09gr.
Trần bì 06gr.
Bán hạ chế 09gr.
Bạch truật 09gr.
Phục linh 12gr.
Mộc hương 06gr.
Sa nhân 03gr.
Cam thảo 06gr.
Mỗi ngày uống một thang.
Dạng sử dụng:
- Thuốc được sử dụng dưới dạng thang sắc uống.
- Sắc bằng máy Extractor do hang Kyungseo của Hàn Quốc sản xuất năm
2003, đảm bảo chất lượng ISO 9001.
- Thời gian sắc thuốc 3 giờ.
- Nước thuốc sắc được đóng vào túi nilon bằng dây chuyền tự động. Mỗi
thang đóng được 2 túi, mỗi túi 120ml, thời gian bảo quản 30 ngày.
- Thuốc được bào chế tại Trung tâm dược, sắc tại khoa đông dược –
Bệnh viện YHCT – Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật – Bộ công an.
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu:
14
Đối tượng nghiên cứu gồm 30 bệnh nhân được chẩn đoán xác định là
mắc Hội chứng ruột kích thích, vào điều trị tại Bệnh viện Y học cổ truyền Bộ
công an từ tháng 11 năm 2011 đến tháng 08 năm 2012.
2.1.3 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhõn.
Bệnh nhân được chọn vào nghiên cứu đạt các tiêu chuẩn sau:
- Bệnh nhõn trên 18 tuổi, được chẩn đoán xác định là Hội chứng ruột
kích thích theo tiêu chuẩn Rome II và thuộc thể Tỳ vị khí hư theo YHCT.
Thể tỳ vị khí hư theo YHCT:
Vọng Văn Vấn Thiết

- Các bệnh nhân không hợp tác trong quá trình nghiên cứu.
2.2. Phương pháp nghiên cứu:
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu.
Sử dụng phương pháp nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, so
sánh trước – sau điều trị.
2.2.2.Cỡ mẫu
n=30 bệnh nhân.
2.2.3. Các bước tiến hành nghiên cứu.
- Trước khi điều trị: khám lâm sàng, các xét nghiệm loại trừ để chẩn
đoán xác định: xét nghiệm công thức máu, sinh húa mỏu, Xquang, TPT nước
tiểu, soi phân, nội soi đại trực tràng.
- Tất cả 30 bệnh nhân trong nghiên cứu đều được uống mỗi ngày 1 thang
thuốc “Hương sa lục quân tử thang”, dưới dạng sắc (tương đương 2 lần, 2 túi,
mỗi túi 120ml). Tổng thời gian uống thuốc là 30 ngày liên tiếp.
2.2.4.Tiêu chuẩn đánh giá.
2.2.4.1. Theo dõi sự thay đổi của các triệu chứng:
- Đau bụng
- Rối loạn tính chất phân
- Rối loạn số lần đại tiện
- Sự căng chướng bụng
- Cảm giác thoải mái sau khi đại tiện
- Sự xuất hiện chất nhầy trong phân
- Mức độ ảnh hưởng của bệnh đến chất lượng cuộc sống.
2.2.4.2. Theo dõi các tác dụng không mong muốn của thuốc sau khi dùng thuốc:
16
- Bệnh nhân có tăng các triệu chứng đau bụng, rối loạn đại tiện, chướng bụng.
- Đại tiện phõn tỏo.
- Bệnh nhân có xuất hiện các triệu chứng:nổi mẩn, ngứa, hoa mắt chóng
mặt, buồn nôn, mất ngủ…
2.2.4.3. Đánh giá kết quả bằng bảng điểm IBS [17], [20].

điểm/ngày 100
Căng chướng
bụng
Không 0
Căng chướng nhẹ 25
Cằng chướng vừa 50
Căng chướng nhiều 75
Căng chướng rất nhiều 100
Mức độ thoải mái
khi đi đại tiện
Rất thoải mái 0
Hơi thoải mái 35
Không thoải mái 70
Rất không thoải mái 100
Chất lượng cuộc
sống bị ảnh hưởng
Không ảnh hưởng 0
Ảnh hưởng ít 35
Ảnh hưởng nhiều 70
Ảnh hưởng rất nhiều 100
Tổng số điểm 500
Như vậy, số điểm thấp nhất là 0, cao nhất là 500 và được chia ra làm 4
mức độ: + 0 – < 75 điểm là không có rối loạn.
+ 75 - <175 là mức độ nhẹ.
+ 175 - < 300 là mức độ trung bình.
+ 300 – 500 là mức độ nặng.
Đánh giá kết quả vào các thời điểm D
0,
D
15,

Khám lâm
sàng
Soi phân,
cấy phân
Nội soi trực tràng, đại
tràng.
SƠ ĐỒ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
n = 30
Đánh giá kết quả điều trị sau 15 và 30 ngày điều trị
Kết luận
20
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
[[[[[[[[[[[[[[[[[[
3.1. Đặc điểm của các bệnh nhân nghiên cứu.
Bảng 3.1 Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi, giới
Giới
Nhóm tuổi
Nam
N=22
Nữ
N=8
Tổng
n % n % n %
18-29 1 50,0 1 50,0 2 100,0
30-39 0 0,0 1 100,0 1 100,0
40-49 4 66,7 2 33,3 6 100,0
50-59 15 78,9 4 21,1 19 100,0
≥ 60 2 100,0 0 0,0 2 100,0
Tổng 22 73,3 8 26,7 30 100,0

Nhận xét: Bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu là các bệnh
nhân có thời gian mắc bệnh dưới 2 năm và trên 10 năm (chiếm tới 80%), số bệnh
nhân có thời gian mắc bệnh từ 2 – 10 năm chiếm một tỉ lệ nhỏ là 20%.
Bảng 3.4. Điều trị của bệnh nhân bị HCRKT trước khi vào viện
Tình hình điều trị Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Không điều trị 13 43,3

Điều trị bằng thuốc YHHĐ 14 46,7
Điều trị bằng thuốc YHCT 3 10,0
Tổng 30 100%

Nhận xét: Bệnh nhân mắc HCRKT khi đến điều trị tại chỗ chúng tôi có
43,3% bệnh nhân chưa từng được điều trị thuốc và 56,7% đã từng điều trị
bằng thuốc YHHĐ hoặc/ và thuốc YHCT. Trong đó, số bệnh nhân đó dựng
thuốc YHHĐ chiếm tỷ lệ 46,7%%, và chỉ có 10% bệnh nhân chỉ dùng thuốc
YHCT .
Bảng 3.5. Mức độ bệnh của bệnh nhân theo thang điểm IBS trước điều trị
Mức độ bệnh Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Nhẹ 10 33,3
Trung bình 15 50,0
Nặng 5 16,7
23
Tổng 30 100,0
Nhận xét: Bệnh nhân mắc HCRKT gặp chủ yếu thuộc mức độ trung
bình 50% và mức độ nhẹ 33,3%, bệnh nhân nào ở mức độ nặng chỉ gặp có
16,7%.
Bảng 3.6. Các triệu chứng chớnh trờn lâm sàng
Triệu chứng
Số lượng (n) Tỷ lệ %
Đau bụng

Số ngày đau trong 10 ngày gần đây 29 96,7 7 23,3
Căng chướng bụng 25 83,3 3 10,0
Thay đổi khi tống phân 18 60,0 5 16,7
Ảnh hưởng đến CLCS 30 100,0 9 30,0
Nhận xét: Sau 30 ngày điều trị, tất cả các triệu chứng của bệnh đều
thuyên giảm: bệnh nhân đỡ đau bụng, số ngày đau bụng giảm, mức độ căng
chướng bụng giảm và đỡ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status