Một số giải pháp giúp học sinh Trường THCS Long Khánh A-Hồng Ngự học tốt môn Địa
lí
MỤC LỤC
A - Phần mở đầu trang 4
I - Lý do chọn đề tài 4
II - Mục đích nghiên cứu 6
III - Giả thuyết khoa học 7
IV - Nhiệm vụ của đề tài 7
V - Đối tượng áp dụng và phạm vi thực hiện 8
VI – Phương pháp nghiên cứu 8
B - Nội dung 9
Chương I: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 9
I - Mục tiêu của bộ môn địa lý ở trường THCS 9
II - Tổ chức dạy học địa lí ở trường THCS 12
Chương II: Thực trạng việc tổ chức dạy học 16
I - Đặc điểm tình hình của trường THCS Long Khánh A 16
II - Thực trạng dạy học địa lý ở trường THCS LKA 18
III - Những nguyên nhân dẫn đến 20
Chương III: Các giải pháp thực hiện nhằm giúp cho học sinh học tốt môn
địa lý ở trường THCS Long Khánh A 22
I - Tổ chức thực hiện 22
II – Các giải pháp thực hiện 23
III - Kết quả đạt được 31
C - Kết luận và kiến nghị 31
I - Kết luận 31
II - Những đề xuất và kiến nghị 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO 34
Trần Kim Phụng – THCS Long Khánh A - Hồng Ngự
1
Một số giải pháp giúp học sinh Trường THCS Long Khánh A-Hồng Ngự học tốt môn Địa
lí
Một số giải pháp giúp học sinh Trường THCS Long Khánh A-Hồng Ngự học tốt môn Địa
lí
A – PHẦN MỞ ĐẦU
I – Lý do chọn đề tài:
1 - Về cơ sở lý luận:
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá với
mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam sẽ từ một nước nông nghiệp về cơ bản trở
thành nước công nghiệp, hội nhập với cộng đồng quốc tế. Nhân tố quyết định
thắng lợi của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế là con
người, là nguồn lực người Việt Nam được phát triển về số lượng và chất lượng
trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao. Việc này cần được bắt đầu từ giáo
dục phổ thông, mà trước hết phải bắt đầu từ việc xác định mục tiêu đào tạo như
là xác định những gì cần đạt được (đối với người học) sau một quá trình đào tạo.
Nói chung đó là một hệ thống phẩm chất và năng lực được hình thành trên một
nền tảng kiến thức, kỹ năng đủ và chắc chắn.
Luật giáo dục 2005 (Điều 5) quy định: “Phương pháp giáo dục phải phát
huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng
cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí
vươn lên”.
Với mục tiêu giáo dục phổ thông là “giúp học sinh phát triển toàn diện về
đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính
năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ
nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục
học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng bảo vệ tổ quốc”.
Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số
16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
cũng đã nêu: “Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học
sinh; phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của
từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn
luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại
− Nêu và phân tích các nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng học sinh
không thích học môn địa lí dẫn đến chất lượng không cao trong các kỳ thi và
không nắm vững kiến thức về địa lí sau khi học hết bậc THCS.
− Đưa ra một số biện pháp giúp các đồng nghiệp nghiên cứu để đổi mới
phương pháp dạy học địa lí theo hướng tích cực giúp học sinh thích học môn địa
lí. Giúp cho học sinh có được những kiến thức về địa lí, rèn luyện tương đối
thành thạo các kỹ năng địa lí, vận dụng một số kiến thức, kỹ năng địa lí vào cuộc
sống sản xuất ở địa phương. Hình thành và rèn luyện khả năng thu thập, xử lý
tổng hợp và trình bày lại thông tin địa lí
− Làm cơ sở để nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường, góp phần
nâng cao giáo dục tinh thần yêu thiên nhiên và con người, yêu quê hương đất
nước. Có niềm tin vào khoa học, có ý thức tìm hiểu cách giải thích khoa học về
các hiện tượng, sự vật địa lí
Trần Kim Phụng – THCS Long Khánh A - Hồng Ngự
5
Một số giải pháp giúp học sinh Trường THCS Long Khánh A-Hồng Ngự học tốt môn Địa
lí
− Tham gia tích cực vào các hoạt động sử dụng hợp lý, bảo vệ, cải tạo môi
trường; có tinh thần sẵn sàng tham gia xây dựng, bảo vệ quê hương, đất nước.
III - Giả thuyết khoa học:
Học sinh hứng thú trong học tập sẽ học tốt môn địa lí dẫn đến việc tích
cực tham gia hoạt động các phong trào góp phần cùng nhà trường nâng cao chất
lượng giáo dục và hiệu quả giảng dạy.
Học sinh có hứng thú học tập, có chí phấn đấu, có ý thức sẽ học tốt và trở
thành con ngoan trò giỏi là lực lượng bổ sung cho nguồn nhân lực của địa
phương và đất nước sau này.
Nếu có những biện pháp hữu hiệu về tổ chức dạy và học tích cực thì chất
lượng học tập môn địa lí của học sinh trường THCS Long Khánh A sẽ từng bước
được nâng lên đáp ứng các yêu cầu của giáo dục trung học sơ sở trong giai đoạn
mới, góp phần cùng với xã hội giải quyết tình hình học sinh hỏng về kiến thức
biện pháp đó.
3 – Cái mới của đề tài:
Các biện pháp nâng cao chất lượng học tập của học sinh và nhất là môn
địa lí đang được Bộ Giáo dục - Đào tạo, dư luận xã hội rất quan tâm. Là cơ sở
giáo dục, trường tôi cũng đang triển khai thực hiện. Nhưng vấn đề là làm thế nào
để tìm hiểu rõ nguyên nhân và các biện pháp để giải quyết vấn đề một cách có
hiệu quả. Điều đó các giáo viên dạy địa lí ở trường tôi chưa ai nghiên cứu. Do đó
là một giáo viên thâm niên, tôi nghiên cứu vấn đề này nhằm giúp giáo viên dạy
tốt môn địa lí, học sinh hứng thú học tập tốt môn địa lí góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục trong nhà trường, đưa trường tôi ngày một đi lên và khi học
xong cấp THCS các em có một kiến thức cơ bản về môn địa lí, có nền tảng vững
chắc bước vào các cấp học cao hơn.
B - NỘI DUNG
Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
I - Mục tiêu của bộ môn địa lí ở trường THCS.
1- Một số khái niệm có liên quan:
Học tốt môn địa lí: là những học sinh sau khi học xong một bài, một
chương, , một cấp học mà các em nhớ được những kiến thức cơ bản, những kỹ
năng thực hành của môn địa lí, và có khả năng vận dụng vào cuộc sống.
Các giải pháp: là đưa ra các biện pháp để giải quyết có hữu hiệu một vấn
đề nào đó nhằm đạt được những mục tiêu đã đề ra.
2 – Khung phân phối chương trình địa lí THCS:
Trần Kim Phụng – THCS Long Khánh A - Hồng Ngự
7
Một số giải pháp giúp học sinh Trường THCS Long Khánh A-Hồng Ngự học tốt môn Địa
lí
Khung phân phối chương trình quy định thời lượng dạy học cho từng phần
của chương trình (chương, phần, bài học, môđun, chủ đề, ), trong đó có thời
lượng dành cho luyện tập, bài tập, ôn tập, thí nghiệm, thực hành và thời lượng
Trần Kim Phụng – THCS Long Khánh A - Hồng Ngự
8
Một số giải pháp giúp học sinh Trường THCS Long Khánh A-Hồng Ngự học tốt môn Địa
lí
+ Kỹ năng quan sát, nhận xét, phân tích các hiện tượng tự nhiên, kinh tế,
xã hội
+ Kỹ năng sử dụng các nguồn tư liệu, các loại đồ dùng trực quan phổ
biến, như tài liệu thành văn, bản đồ, các bảng thống kê, biểu đồ, lập sơ đồ đơn
giản
+ Sử dụng kiến thức đã học để giải thich một số hiện tượng địa lí thường
xảy ra trong môi trường học sinh đang sống và vận dụng một số kiến thức, kỹ
năng địa lí vào cuộc sống xản xuất ở địa phương
− Hình thành và rèn luyện khả năng thu thập, xử lý, tổng hợp và trình
bày lại thông tin địa lí
3.3. Về tư tưởng, tình cảm, thái độ; giáo dục
− Có tình yêu thiên nhiên và con người trong lao động; tình cảm đó được
thể hiện qua việc tôn trọng tự nhiên và các thành quả kinh tế, văn hoá của Việt
Nam, của các nước trên thế giới
− Có niềm tin vào khoa học, có ý thức tìm hiểu cách giải thích khoa học
về các hiện tượng, sự vật địa lí
− Tham gia tích cực vào các hoạt động sử dụng hợp lý, bảo vệ, cải tạo
môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống gia đình, cộng đồng; có tinh thần sẵn
sàng tham gia xây dựng, bảo vệ quê hương, đất nước
II - Tổ chức dạy học Địa lí ở trường THCS:
1- Về tổ chức dạy học:
− Phải thực hiện đúng số tiết trong học kỳ được quy định trong khung
phân phối chương trình.
− Trong quá trình dạy học, cùng với việc giúp học sinh nắm vững chuẩn
kiến thức, kỹ năng được quy định trong Chương trình môn học, giáo viên cần
chú ý hướng dẫn học sinh nhận xét và phân tích biểu đồ; nhận xét bảng thống kê
Thứ ba, tổ chức các cuộc trao đổi thảo luận dưới nhiều hình thức
khác nhau
Tổ chức làm việc theo nhóm hoặc đàm thoại chung cả lớp, tạo điều kiện
để học sinh tự mình nêu lên các vấn đề để học tập, được độc lập giải quyết các
vấn đề đó hoặc những vấn đề khác do giáo viên đặt ra. Cần khuyến khích học
sinh phát biểu ý kiến riêng, độc đáo của mình, không e ngại khi nêu lên ý kiến
riêng với ý kiến của giáo viên, rèn luyện khả năng trình bày ý kiến cho học sinh.
Từ đó, học sinh lĩnh hội được nội dung học tập theo tinh thần mới của dạy học
hiện đại: dạy học tự khám phá, tự phát hiện.
Thứ tư, đa dạng hoá các hình thức tổ chức dạy học
Cần khuyến khích tiến hành dạy học địa lí ở các hình thức tổ chức phong
phú, đa dạng: học ở lớp, ở phòng bộ môn, đi thực địa, tham quan học hỏi kinh
nghiệm; học nghe báo cáo
Trần Kim Phụng – THCS Long Khánh A - Hồng Ngự
10
Một số giải pháp giúp học sinh Trường THCS Long Khánh A-Hồng Ngự học tốt môn Địa
lí
Thứ năm, dạy học phải bám sát chuẩn kiến thức và kỹ năng đã được
qui định trong phân phối chương trình giáo dục phổ thông
Thực tế dạy học hiện nay ở các trường trung học cơ sở rất nhiều giáo viên
không quan tâm đến chương trình, thậm chí nhiều giáo viên không biết đến
chương trình mà chỉ chú ý đến sách giáo khoa. Giáo viên chưa nhận thức hết tầm
quan trọng đó là chương trình mới là “pháp lệnh”, còn sách giáo khoa chỉ là cụ
thể hoá của chương trình và là tài liệu cơ bản cho học sinh học tập. Trong khi đó,
giáo viên chỉ theo sách giáo khoa và coi đó là “pháp lệnh”, cố dạy hết tất cả
những nội dung có trong sách giáo khoa dẫn đến tình trạng quá tải trong từng giờ
học. Trong thực tế giảng dạy hiện nay, nhiều giáo viên dạy hết giờ nhưng không
thể nào hết được bài bởi vì không xác định được đâu là kiến thức cơ bản, đâu là
kiến thức trọng tâm của bài học.
Một trong những yêu cầu của việc dạy học hiện nay là giáo viên phải bám
được hứng thú. từ đó chất lượng học tập sẽ dần được nâng lên.
Chương II
THỰC TRẠNG VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÍ
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ LONG KHÁNH A - HỒNG NGỰ
I - Đặc điểm tình hình của trường THCS Long Khánh A
1- Vài nét về đặc điểm kinh tế - xã hội của xã Long Khánh A:
Long Khánh A là một xã cù lao nằm giữa dòng sông Tiền, phía Bắc giáp
với sông Tiền qua các xã Thường Thới Tiền, Thường Lạc, phía Nam giáp với
sông Tiền qua các xã Long Thuận, phía đông giáp xã Long Khánh B, phía Tây
giáp sông Tiền nhìn qua thị trấn Tân Châu (An Giang). Diện tích tự nhiên 17,2
km
2
dân số khoảng 19.822 người. Mật độ dân cư phân bố không đồng đều, chủ
yếu tập trung ở các tuyến lộ lớn hoặc ven sông.
Nhân dân xã Long Khánh A chủ yếu sống bằng nghề nông, trồng hoa màu
và chăn nuôi; Số còn lại sống bằng nghề dịch vụ mua bán, tiểu thủ công. Một số
ít nghề nghiệp không ổn định, làm thuê theo mùa vụ.
Tình hình kinh tế tương đối ổn định đang có hướng phát triển, giao thông
thuận tiện. Chính quyền địa phương rất quan tâm đến công tác giáo dục của xã
nhà nên có sự hổ trợ tích cực cho nhà trường, nhưng vẫn chưa đáp ứng kịp thời
nhu cầu của sự phát triển giáo dục tại địa phương.
Hệ thống trường học phủ đều trên các tuyến dân cư. Toàn xã có 01 trường
mẫu giáo, 04 trường tiểu học, 01 trường THCS và 01 trường THPT (mới thành
lập trong năm học 2009 – 2010), chất lượng giáo dục thuộc dạng khá so với
trong huyện. Tuy nhiên có nhiều gia đình cha mẹ học sinh chưa thực sự quan
tâm đến việc học của con mình, chưa tích cực phối hợp cùng với nhà trường
trong công tác giáo dục học sinh. Mặt khác, do đời sống kinh tế khó khăn, không
ổn định nên một số gia đình thường cho con nghỉ học để lên thành phố Hồ Chí
Minh làm việc hoặc nghỉ học giúp việc nhà nhất là những khi vào mùa vụ. Nhiều
học sinh chưa xác định đúng động cơ học tập, thiếu chuyên cần dẫn đến mất căn
1- Về phía học sinh:
Mặt bằng học sinh ở đây còn yếu, trình độ phân hoá không đồng đều, có
nhiều học sinh yếu; đa số các em xem nhẹ môn địa lí, trong giờ học ít chú ý vào
sự giảng dạy của thầy, cô, không chịu khó suy nghĩ phát biểu ý kiến trong giờ
học, chỉ ghi chép qua loa, về nhà không học bài, không chịu khó đọc sách giáo
khoa, không nghiên cứu kênh hình trong SGK, gia đình ít quan tâm, không tạo
điều kiện thuận lợi để các em tham gia học tập nên các em không có thời gian
tìm hiểu, tự học ở nhà.
2 - Về phía giáo viên:
Trần Kim Phụng – THCS Long Khánh A - Hồng Ngự
13
Một số giải pháp giúp học sinh Trường THCS Long Khánh A-Hồng Ngự học tốt môn Địa
lí
Chính bản thân giáo viên cũng ít quan tâm đến việc dạy như thế nào để
học sinh hiểu và nhớ lâu mà chỉ dạy làm sao cho hết nội dung trong sách giáo
khoa, chưa khai thác hết kênh hình trong SGK, chưa tận dụng hết đồ dùng dạy
học có sẳn, thậm chí chưa hiểu hết nội dung của đồ dùng trực quan, nên lên lớp
dạy chỉ cần sách giáo khoa và giáo án là xong vì vậy chưa phát huy được hết tính
tích cực của học sinh, học sinh không hứng thú trong việc học môn địa lí.
3 - Kết quả thống kê số liệu môn địa lí KHI năm học 2010 – 2011:
Thống kê ĐTBm học kỳ I môn địa lí ở từng khối lớp, phân loại và tổng
hợp cụ thể như sau:
Toàn trường
Điểm từ
0 - 3.4
Điểm từ
3.5 - 4.9
Điểm
dưới
TB
800 110 13,7 202 25,3 312 39 260 32.5 131 16.4 97 12,1 488 61
Kết quả cho thấy số học sinh đạt khá giỏi chưa cao, còn nhiều học sinh đạt
điểm yếu, kém.
Qua kiểm tra bài thi, xem xét bài làm của những em học sinh đạt điểm
trung bình, yếu, thông qua thu thập từ phía giáo viên dạy môn địa lí chúng tôi
nhận thấy có một đặc điểm chung qua việc học tập môn địa lí của những học
sinh này là không chú ý nghe thầy cô giảng bài, thụ động trong học tập, không
chịu xem sách giáo khoa, về nhà không học bài, không nắm được những điểm cơ
bản của bài học, dẫn đến việc làm bài viết lung tung, nghĩ gì viết nấy, không
quan tâm đến môn địa lí, ỷ lại việc làm bài sẽ lật được tài liệu, thậm chí có em
nói chỉ cần 5, 6 điểm là được, từ đó dẫn đến việc mất kiến thức cơ bản về địa lí .
Điều gì đã dẫn đến những tư tưởng này của học sinh, là một giáo viên thâm niên,
tôi rất băn khoăn, làm cách nào để nâng cao sự nhận thức về môn địa lí đối với
các em, kích thích các em hứng thú học môn địa lí và tôi tìm hiểu nguyên nhân.
III - Những nguyên nhân dẫn đến việc học sinh học yếu môn địa lí:
1 – Nguyên nhân từ phía gia đình:
Nhiều gia đình học sinh không quan tâm đến việc học của con em mình
(do bận rộn công việc làm ăn, không có thời gian hoặc đi làm ăn xa), không nhắc
nhỡ, không tạo điều kiện để các em tự học, các em chưa có góc học tập ở nhà.
Học sinh chỉ tham gia học ở trường, về nhà không có thời gian tự học và xem
sách giáo khoa (có nhiều em phải làm việc nhà để phụ giúp gia đình lo kinh tế),
Trần Kim Phụng – THCS Long Khánh A - Hồng Ngự
14
Một số giải pháp giúp học sinh Trường THCS Long Khánh A-Hồng Ngự học tốt môn Địa
lí
cũng có gia đình quan niệm cho con học hết lớp 9 thì nghỉ để giúp gia đình, gia
đình nghèo đông con lo không nổi,
2 – Nguyên nhân từ xã hội:
Một số trường hợp học sinh có học lực trung bình khá, nay do tác động
của nhiều yếu tố khách quan, bạn bè rủ rê, lao vào các tụ điểm vui chơi không
15
Một số giải pháp giúp học sinh Trường THCS Long Khánh A-Hồng Ngự học tốt môn Địa
lí
quan tâm, học cho có học dẫn đến chất lượng học tập thấp. Một số em chưa có
biện pháp học tập đúng đắn nên kết quả tiếp thu không cao.
Học sinh không chịu trực tiếp làm việc với các tư liệu: như sách giáo
khoa, tranh ảnh, bản đồ, lược đồ , hoạt động nhận thức của học sinh chưa trở
thành trọng tâm, học sinh ít được giao nhiệm vụ và tạo điều kiện thuận lợi để tự
mình hình thành hiểu biết và vận dụng vào thực tiễn. Phương thức lĩnh hội bao
trùm là nghe là ghi nhớ, do đó những kiến thức cơ bản không được lĩnh hội vững
chắc, những kỹ năng học tập địa lí của học sinh không được hoàn thiện.
Từ những nguyên nhân trên, vấn đề đặt ra là làm thế nào để giúp các em
có động cơ ham thích và học tốt môn địa lí.
Chương III
CÁC GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT MÔN ĐỊA LÍ
Ở TRƯỜNG TRUNH HỌC CƠ SỞ LONG KHÁNH A - HỒNG NGỰ
I - Tổ chức thực hiện:
Ban giám hiệu: thường xuyên mở các chuyên đề về đổi mới phương pháp
dạy học, phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan, áp dụng công nghệ thông tin
vào giảng dạy địa lí (bài dạy điện tử, sử dụng các video về địa lý ), chỉ đạo cho
tổ chuyên môn thường xuyên kiểm tra giáo viên trong tổ, về đổi mới phương
pháp dạy học và phương pháp sử dụng đồ dùng dạy học, tạo điều kiện thuận lợi
cho giáo viên thực hiện đổi mới phương pháp dạy học. Động viên, khen thưởng
kịp thời những giáo viên thực hiện có hiệu quả đổi mới phương pháp dạy học
đồng thời phê bình, nhắc nhở những người chưa tích cực đổi mới phương pháp
dạy học.
Tổ chuyên môn: thường xuyên dự giờ giáo viên rút kinh nghiệm tiết dạy,
tổ chức thao giảng, hội giảng, rút kinh nghiệm về phương pháp dạy học, lên kế
hoạch cho giáo viên dự giờ lẫn nhau để học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, tổ chức
trao đổi phương pháp dạy học, phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan.
kiến thức; chú ý khai thác vốn kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng đã có của học
sinh; tạo niềm vui, hứng thú, nhu cầu hành động và thái độ tự tin trong học tập
cho học sinh; giúp các em phát triển tối đa năng lực, tìm năng của bản thân.
Thiết kế và hướng dẫn học sinh thực hiện các dạng câu hỏi, bài tập phát
triển tư duy và rèn luyện kĩ năng; hướng dẫn sử dụng các thiết bị, đồ dùng học
tập; tổ chức có hiệu quả các giờ thực hành; hướng dẫn học sinh có thói quen vận
dụng kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn.
Sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học một cách hợp lý,
hiệu quả, linh hoạt, phù hợp với đặc trưng môn địa lí; nội dung, tính chất của bài
học; đặc điểm trình độ của học sinh; thời lượng dạy học và các điều kiện dạy học
cụ thể của trường, địa phương.
Về phương pháp dạy học môn địa lí, hầu hết giáo viên dạy địa lí đều đã
nắm được. Xong việc áp dụng nó một cách linh hoạt và phù hợp thì còn nhiều
Trần Kim Phụng – THCS Long Khánh A - Hồng Ngự
17
Một số giải pháp giúp học sinh Trường THCS Long Khánh A-Hồng Ngự học tốt môn Địa
lí
điều phải bàn trong tất cả các phương pháp dạy học địa lí ấy có các phương
pháp dạy học tích cực sau đây giúp học sinh hứng thú học tập mà mỗi giáo viên
cần phải áp dụng và phát triển:
3.1. Phương pháp đàm thoại gợi mở:
Đàm thoại gợi mở là phương pháp trong đó giáo viên soạn ra câu hỏi lớn,
thông báo cho học sinh. Sau đó, chia câu hỏi lớn ra thành một số câu hỏi nhỏ
hơn, có quan hệ lôgic với nhau, tạo ra những cái mốc trên con đường thực hiện
câu hỏi lớn .
Mục đích của phương pháp này là nâng cao chất lượng của giờ học bằng
cách tăng cường hình thức hỏi – đáp, đàm thoại giữa giáo viên và học sinh, rèn
luyện cho học sinh bản lĩnh tự tin, khả năng diễn đạt một vấn đề trước tập thể.
Muốn thực hiện điều đó, đòi hỏi giáo viên phải xây dựng được hệ thống câu hỏi
phù hợp với yêu cầu bài học, hấp dẫn, sát đối tượng, xác định được vai trò chức
3.3. Phương pháp dạy - học hợp tác trong nhóm nhỏ:
Phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ là mới với đa số giáo viên.
Phương pháp này giúp các thành viên trong nhóm chia sẽ các băn khoăn, kinh
nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới. Bằng cách nói ra
những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về
chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì. Bài học trở thành quá trình
học hỏi lẫn nhau chứ không phải chỉ là sự tiếp nhận thụ động từ giáo viên.
Thành công của bài học phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham gia của mọi
thành viên, vì vậy phương pháp này còn được gọi là “ phương pháp huy động
mọi người cùng tham gia”, nó như một phương pháp trung gian giữa sự làm việc
độc lập của từng học sinh với sự việc chung của cả lớp. Trong hoạt động nhóm,
tư duy tích cực của học sinh phải được phát huy và ý quan trọng của phương
pháp này là rèn luyện năng lực hợp tác giữa các thành viên trong tổ chức lao
động. Cần tránh khuynh hướng hình thức và đề phòng lạm dụng, cho rằng tổ
chức hoạt động nhóm là dấu hiệu tiêu biểu nhất của đổi mới phương pháp dạy
học, hoạt động nhóm càng nhiều thì càng chứng tỏ phương pháp dạy học càng
đổi mới
3.4. Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan:
a/ Phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác tri thức từ bản đồ
Bản đồ là một phương tiện trực quan, một nguồn tri thức địa lí quan trọng.
Qua bản đồ, học sinh có thể nhìn một cách bao quát những khu vực lãnh
thổ rộng lớn, những vùng lãnh thổ xa xôi trên bề mặt trái đất mà họ chưa bao giờ
có điều kiện đi đến tận nơi để quan sát
Để khai thác được những tri thức trên bản đồ, học sinh phải hiểu đọc được
bản đồ, phải nắm được những kiến thức lý thuyết về bản đồ, trên cơ sở đó có
được những kỹ năng làm việc với bản đồ. Vì vậy, việc hình thành kỹ năng sử
dụng bản đồ trong học tập địa lí cho học sinh là nhiệm vụ quan trọng đối với
giáo viên địa lí
* Các biện pháp hình thành kỹ năng sử dụng bản đồ cho học sinh
- Dạy học sinh hiểu bản đồ
các em về nhà tìm hiểu trước nội dung thể hiện trong kênh hình. Trong khi dạy
giáo viên hướng dẫn cho học sinh cách quan sát: đầu tiên là quan sát tổng thể rồi
mới quan sát chi tiết kết hợp với miêu tả, phân tích, đàm thoại thông qua hệ
thống câu hỏi gợi mở của giáo viên để học sinh rút ra được kết luận.
c/ Sử dụng các thiết bị kĩ thuật hiện đại và máy vi tính
- Phim video giáo khoa
- Máy chiếu Overhead
Trần Kim Phụng – THCS Long Khánh A - Hồng Ngự
20
Một số giải pháp giúp học sinh Trường THCS Long Khánh A-Hồng Ngự học tốt môn Địa
lí
- CD – ROM du lịch Việt Nam: Có nhiều thông tin về vị trí địa lí, tài
nguyên du lịch và tình hình hoạt động du lịch Việt Nam, sử dụng trong dạy học
địa lý Việt Nam ở lớp 8 và lớp 9
- CD – ROM Atlat tài nguyên – môi trường Việt Nam: gồm các bản đồ
Việt Nam, các bảng thống kê, các biểu đồ, các ảnh, video. Nội dung đề cập đến
các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, dân cư, kinh tế Ngoài phần
thông tin, còn có phần dành cho người đọc tự kiểm tra lại hiểu biết của bản thân.
Ngoài các phương pháp, biện pháp vừa nêu trên còn một biện pháp không
kém phần hấp dẫn kích tích, lôi cuốn sự đam mê, ham học địa lí của học sinh là.
3.5. Dạy học địa lí ngoài lớp
Trong năm học cần tổ chức ít nhất một lần tham quan địa lí hoặc tổ chức
trò chơi địa lí.
Tham quan làng nghề truyền thống, đồng ruộng, khu chăn nuôi, di tích
lịch sử Qua tham quan các em có điều kiện tiếp xúc trực tiếp trong thực tế với
các nội dung đã được học ở trên lớp nên nắm bài cụ thể hơn, liên hệ thực tế với
bài học, phát triển kỹ năng quan sát, so sánh, trí tưởng tượng, bồi dưỡng hứng
thú học tập, tăng cường các hiểu biết.
Trò chơi địa lí là trò chơi học tập có tác dụng mở rộng, nâng cao hiểu biết
6.5 - 7.9
Điểm từ
8.0 - 10.0
Điểm
trên
TB
SL
TL
%
SL
TL
%
SL
TL
%
SL
TL
%
SL
TL
%
SL
TL
%
SL
TL
%
800 12 1,5 61 7,6 73 9,1 221 27.6 315 39.4 191 23.9 727 90,9
C - KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I - Kết luận
hình, kênh chữ trong SGK. Lời nói phải sinh động, chú ý sử dụng ngôn ngữ giàu
hình ảnh, gợi mở, có liên hệ thực tế.
Sưu tầm tư liệu, sử dụng các đoạn trích dẫn thực sự sinh động, tiêu biểu
minh hoạ cho nội dung bài học, khai thác triệt để chức năng tác dụng của đồ
dùng dạy học trực quan. Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học địa lí.
II - Những đề xuất và kiến nghị
Qua quá trình thực hiện suốt một học kỳ, đề tài đã mang lại hiệu quả thiết
thực. Tuy chưa hoàn chỉnh về nội dung và các biện pháp thực hiện chưa phải là
tối ưu, nhưng tôi mong rằng đề tài này là một kinh nghiệm giúp các bạn đồng
nghiệp vận dụng vào thực tiễn trường mình mang lại nhiều kết quả khả quan và
tôi sẽ còn tiếp tục áp dụng nghiên cứu mở rộng các khía cạnh của đề tài trong
năm học tới nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập môn địa lí ở trường
THCS Long Khánh A, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục mà nghị quyết đại
hội Đảng đề ra.
XÁC NHẬN CỦA BGH Tác giả
Trần Kim Phụng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1) Công văn số 1381/BGDĐT-GDTrH ngày 12/02/2007 của Bộ Giáo dục và
Đào tạo và công văn số 247/SGD&ĐT-GDTrH ngày 15/03/2007 của Sở Giáo
dục và Đào tạo Đồng Tháp về chỉ đạo việc rà soát giúp đỡ học sinh học lực yếu
kém.
Trần Kim Phụng – THCS Long Khánh A - Hồng Ngự
23
Một số giải pháp giúp học sinh Trường THCS Long Khánh A-Hồng Ngự học tốt môn Địa
lí
2) Công văn số 12066/BGD ĐT-GDTrH ngày 14/11/2007 của Bộ Giáo dục và
Đào tạo.
3) Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo
dục và Đào tạo
4) Luật giáo dục 2005