Tuyển tập những bài văn hay lớp 9 - Pdf 27

Phân Tích bài thơ “ SÓNG” của Xuân Quỳnh (bài viết 1)
Một nhà thơ cổ điển Pháp từng nói: “Tình yêu là điều mà con người
không thể hiểu nổi.” Thật vậy, từ ngàn đời nay tình yêu luôn là điều bí ẩn, là
đề tài vô tận của văn chương.Nhiều văn nhân thi sĩ đã mượn văn chương để
lí giải tình yêu nhưng chẳng ai cắt nghĩa trọn vẹn hai mĩ từ ấy. Nhà thơ
Xuân Diệu đã từng ví von “Yêu là chết trong lòng một tí”, Đỗ Trung Quân
cũng từng thốt lên rằng “Anh đã thấy một điều mong manh nhất – Làtình
yêu, là tình yêu ngát hương” và cũng không quên nhắc đến “Sóng” của nữ
thi sĩXuân Quỳnh. “Sóng” là nơi gửi gắm những tâm tư sâu kín, những trạng
thái phức tạp tinhvi của tâm hồn người thiếu nữ khi nói về tình yêu trẻ trung,
nồng nhiệt gắn với khát vọng hạnh phúc muôn thuở của con người.
Xuyên suốt bài thơ là hình ảnh sóng. Đó là một hình ảnh ẩn dụ của tâm trạng
người con gái đang yêu, là sự phân thân của cái tôi trữ tình Xuân Quỳnh.
Cùng với hình tượng sóng, bài thơ còn có hình tượng Em. Hai nhân vật trữ
tình này có lúc phân đôi ra để soi chiếu vào nhau làm nổi bật sự tương đồng,
có lúc lại hòa nhập vào nhau tạo nên một âm vang. Xuân Quỳnh thật tài tình
khi sáng tạo hình tượng sóng giàu giá trị thẩm mĩ để diễn tả tâm trạng, tình
cảm với nhiều cung bậc sắc thái của một trái tim phụ nữ khao khát tình yêu
và hạnh phúc.
Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sóng không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể
1
Bắt đầu bài thơ là hình ảnh sóng nước. Đó là con sóng lúc thì dữ dội, ồn ào
có thể phá tan tất cả trong những trận cuồng phong, nhưng lúc trời yên gió
lặn thì sóng lại dịu êm, lặng lẽ. Sóng là vậy đấy, dữ đấy rồi êm đấy, chợt ồn
rồi chợt lặng, sóng luôn biến đổi muôn hình vạn trạng. Nhưng có ai đã từng
hỏi vì sao sóng lại thế? Vô ích thôi, đến ngay sóng cũng chẳng hiểu nổi
mình, chỉ biết đó là những tâm trạng thường có. Sóng bối rối, trăntrở, sóng
muốn hiểu được mình nên đã tìm ra tận bể, tìm ra tận nơi mênh mông rộng

hiểu sâu hơn về con người của em. Trước không gian bao la là biển cả, làm
sao em không trăn trở vớinhững câu hỏi có từ ngàn xưa, những câu hỏi vượt
qua bao không gian thời gian, những câu hỏi giản dị, tự nhiên nhưng khó lí
giải. Tất cả chúng như quấn lấy tâm hồn em làm cho em thao thức khôn
nguôi. Em tự hỏi, giữa đại dương mênh mông ấy nơi nào là nơibắt đầu của
sóng? Khó mà trả lời cho chính xác nhưng vẫn có thể trả lời rằng “Sóng bắt
đầu từ gió”. Vâng, không thể phủ định được điều đó, có gió mới có sóng thế
nhưng “Gióbắt đầu từ đâu?” Lúc này thì khó mà trả lời được. Thế là ra tới
tận bể rồi ấy vậy mà sóng cũng vẫn chưa hiểu nổi mình. Cũng như sóng, em
đã hòa nhập vào biển lớn của tình yêuanh mà em nào đã hiểu được em. Em
yêu anh từ đâu? Khi nào? Từ cái gì? Ánh mắt, nụcười hay giọng nói? “Em
cũng không biết nữa”. Mà biết để làm gì bởi anh và em chỉ cầnhiểu rằng ta
yêu nhau là đủ. Trong tình yêu, ta vẫn thường thấy hai mặt yêu và nhớ, yêu
3
say đắm thì nhớ thiết tha.“Con sóng dưới lòng sâu – Con sóng trên mặt
nước” là những cung bậc khác nhau củanỗi nhớ anh. Dù trên mặt nước hay
dưới lòng sâu thì con sóng vẫn đều có bờ. Bờ là nơi đến của sóng, là đối
tượng để sóng vuốt ve, vỗ về, là cái đích để đi đâu về đâu sóng lúcnào cũng
nhớ đến, cũng không quên, ngay cả đó là ngày hay đêm: “Ôi con sóng nhớ
bờ – Ngày đêm không ngủ được”. Nỗi nhớ có cái biểu hiện ra bên ngoài có
cái ẩn chứa tự sâu trong đáy lòng. Vắng anh, em nhớ, khi thức, em nhớ đến
anh. Đó là biểu hiện bìnhthường. Nhưng ở đây, trong mơ em vẫn nhớ. Đó là
nỗi nhớ mới da diết, khắc khoải, thổnthức cứ trằn trọc không yên: “Lòng em
nhớ đến anh – Cả trong mơ còn thức”. Tình yêu là vậy đấy!
Xưa nay, nỗi nhớ luôn gắn liền với khái niệm thời gian vô tận và không gian
vô cùng. Với thời gian, nó không có ngày đêm; với không gian, nó không có
phương hướng. Không gian có bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc nhưng
tình yêu thì chỉ có một phương và đó chính là anh. Trong đời, em quen biết
nhiều người, họ có thể hơn hẳn anh thếnhưng em lại chọn anh, yêu anh và
chỉ biết có anh. Chỉ riêng anh là khiến em luôn nghĩtới và hướng về: “Nơi

bùng lên thành khát vọng. Khát vọng sôi sục mà vẫn khiêm nhường, đầy nữ
tính.
Thơ Xuân Quỳnh là tiếng thơ vừa dịu dàng vừa sâu lắng vừa dữ dội lại vừa
5
thiết tha. Nhớ tới chị chúng ta càng thêm trân trọng những thi phẩm đặc sắc
của chị. Cùng với “Thuyền và biến”, “Sóng” là những bài ca không thể nào
quên của tuổi trẻ và tình yêu. Xin cảm ơn nữ thi sĩ đã hiến dâng cho đời
những vần thơ đẹp về tình yêu con người và cuộc sống.
6
Hãy phân tích bài Ngắm trăng.
Nói về con người và tâm hồn Bác, chúng ta biết Bác là nơi hội tụ những gì
tốt đẹp nhất lưu lại từ quá khứ và những mơ ước tương lai, là kết tinh những
phẩm chất quí giá của lịch sử và thời đại. Cho nên ở “Nhật kí trong tù” có
bài hồn hậu, trong trẻo như thơ dân gian, nhưng cũng có bài trang trọng, bát
ngát như thơ Đường, thơ Tống, cốt cách á đông mà vẫn hiện đại : Bài
“Ngắm trăng” tiêu biểu về đặc sắc nghệ thuật này của thơ “Nhật kí trong tù”:
Trong tù không rượu cũng không hoa
Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ
Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.
Không biết tự bao giờ, ánh trăng đã toả sáng bàng bạc trong hầu hết những
bài thơ phương Đông. Vẻ đẹp dịu dàng, đằm thắm, sâu xa của vầng trăng trở
thành một “mô típ trữ tình”, bởi sự gần gũi với tâm hồn con người á đông -
một sự hoà quện, đồng cảm tự bên trong giữa con người và thiên nhiên.
Trong cái bát ngát lung linh của vầng trăng - khoảng trời, phải chăng con
người lắng nghe và phát hiện ra cái chất người vĩnh cửu trong chính bản
thân mình, trong sự im lặng mênh mang và huyền diệu của ánh trăng ?
Bác Hồ của chúng ta rất yêu thiên nhiên, tâm hồn và thơ của Người tràn đầy
ánh trăng, ánh trăng rất sáng, rất trong, rất đẹp.
Trong tù không rượu cũng không hoa

của vầng trăng thơ Bác, chúng ta lắng nghe và phát hiện ra cái chất người
vĩnh cửu : một tình yêu phóng khoáng, nồng nàn, say đắm thiên nhiên, cuộc
sống ; một ý chí, một tinh thần cách mạng kiên cường luôn luôn hướng ra
ánh sáng cuộc đời. ánh trăng của Người không chỉ bàng bạc những nỗi niềm,
tấc lòng con người như thơ xưa, ánh trăng của Người gắn bó thiết tha với
con người và toảánh sáng ra cuộc đời, trong sự hoà nhập vẻ đẹp của con
người và thiên nhiên. Con người yêu thiên nhiên, đón nhận thiên nhiên và
mang vẻ đẹp thiên nhiên tô điểm cho cuộc sống của mình, từ tình yêu thiên
nhiên thêm nguồn sức sống đểchiến đấu cho hạnh phúc, vẻ đẹp của con
người. Bài thơ ngân lên một chất thơ mới, rất hiện đại, chỉ có thể có được từ
tâm hồn, từnhân sinh quan cộng sản. Bài thơ là một sự vang hưởng giữa tâm
hồn con người với thiên nhiên, sự vang hưởng làm tươi thắm và nảy nở
những điều cao đẹp hơn, những hạt giống của hạnh phúc trong cuộc sống
con người. Nói một cách khác, tình yêu này, sự rung cảm này, chất thơ này
trở thành một nguồn năng lượng vô tận cho hành động, sức sống.Bình luận
9
câu tục ngữ “có chí thì nên”
Ngày nay, có biết bao nhiêu người vừa mới gặp khó khăn là đã từ bỏ, nản
chí. Thế nhưng bên cạnh đó còn có những con người có ý chí, quyết tâm để
đạt mục đích chính đáng của mình. Chính họ đã nhận ra rằng: “Có chí thì
nên”. “Có chí thì nên”: một bài học giáo dục cho con trẻ rất hay của người
xưa, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ hiện nay. Đôi khi chính chúng ta phải nhìn
nhận rằng số người thiếu sự quyết tâm, ý chí phấn đấu cầu tiến ngày càng
nhiều trong xã hội. Dường như chính bản thân họ, đúng hơn là sự tự giác, tự
thân vận động đã bị mất đi trong cái tiện nghi đầy đủ. Vì lẽ đó mà học lại
sống một cách an nhàn, thiếu sự nỗ lực, ý chí cầu tiến. Và sẽ tai hại hơn khi
chính họ chưa được rèn luyện, được dạy cách thích ứng với mọi tình huống
bất ngờ xảy đến.Mặc khác còn có những người lại bi quan, không có sự kiên
trì, quyết tâm, thấy việc nặng nhọc trước mắt là đùn đẩy, có suy nghĩ là sẽ
không làm được, từ bỏ tất cả mọi thứ. Những con người ấy chỉ nhìn sự việc

có vẻ được đóng khuôn sẵn trong tâm trí, tư duy con người. Theo đó, chính
những con người có khả năng lí luận sâu sắc lại là những người ít sẵn sang
tự chuyển đổi cách nhìn. Trái lại, họ là thành phần bám víu mạnh mẽ nhất
vào đường hướng đã từng lựa chọn. Lẽ nào, con người ta lại tâm niệm cuộc
sống chỉ là những quảng đường việt dã nối tiếp và đã lên thì không thể dừng
hay quay lại. Nói thẳng ra là chính chúng ta cần phải biết lượng sức mình,
đừng lấy cái tính bền chí của mình mà lại làm dụng nó vì mục đích thiếu
thiết thực.
11
Nếu nói một vận động viên chỉ cần tính bền bỉ, kiên cường là có thể chinh
phục đường đua 42km thì quả là một sai lầm. Họ hiểu rằng chỉ một yếu tố “ý
chí” thì không thể giúp họ hoàn thành chặng đường nếu thiếu “sức lực”.
Chúng ta cũng như học nhưng thay vào đó là “cơ hội”. Chính chúng ta tạo
nên cơ hội và cần phải khôn ngoan trong việc tận dụng nó. Đừng ngồi đó mà
há miệng chờ sung, một việc ngu xuẩn, phung phí thời giờ. Và khi biết cách
tạo ra cơ hội chobản thân mình thì ắc hẳn người ấy sẽ có được lợi thế. Việc
để có được ý chí bền bỉ cần phải dựa vào chính chúng ta. Nó dễ có, nhưng
cũng dễ mất nếu như không biết gìn giữ và di dưỡng nó hằng ngày. Đừng
cố tạo ra áp lực cho ta, điều đó sẽ gây ra việc phản tác dụng trong việc hình
thành tính “kiên trì”. Mối quan hệ giữa “chí” và “cơ hội” là sự liên kết chặt
chẽ mà một người muốn thành công có.
Xét cho cùng, mọi người trong chúng ta cần tu dưỡng đức tính của mình,
đặc biệt là ý chí cầu tiến. Có như vậy, nó mới trở thành một nếp sống đẹp
trong mỗi con người.
12
Thuyết minh về tác giả Nguyễn Du và "Truyện Kiều"
Nguyễn Du-thiên tài văn học Dân tộc,là nhà văn tài hoa nhất trong nền văn
học trung đạiViệt Nam.Nhắc đến ông ta không thể không nhắc đến "Truyện
Kiều "-một kiệt tác nghệ thuật của nền văn học nuóc nhà. Nguyễn Du sống ỏ
cuối thế kỉ 18 nủa đầu thế kỉ 19.Đây là giai đoạn lịch sủ đầy bão tápvà sôi

giữa quan trường. Ông dốc cả máu xương mình vào văn chương, thi ca. Thơ
ông là tiếng nóitrong trái tim mình. Đấy là tình cảm sâu sắc của ông đối với
một kiếp người lầm lũi cơ hàn, là thái độ bất bình rõ ràng của ông đối với
các số phận con người. Xuất thân trong gia đình quý tộc, sống trong không
khí văn chương bác học, nhưng ông có cách nói riêng, bình dân, giản dị, dễ
hiểu, thấm đượm chất dân ca xứ Nghệ.
Về văn thơ nôm, các sáng tác của ông có thể chia thành 3 giai đoạn. Thời
gian sống ởTiên Điền – Nghi Xuân đến 1802, ông viết “Thác lời trai phường
nón Văn tế sống 2 côgái Trường Lưu”. Đây là 2 bản tình ca thể hiện rất rõ
tâm tính của ông, sự hoà biểu tâm hồn tác giả với thiên nhiên, với con người.
Ba tập thơ chữ Hán thì "Thanh hiên thi tập" gồm 78 bài, viết lúc ở Quỳnh
Côi và những năm mới về Tiên Điền, là lời trăn trở chốnlong đong, là tâm
sự, là thái độ của nhà thơ trước cảnh đời loạn lạc. Sau 1809, nhữngsáng tác
thơ của ông tập hợp trong tập “Nam Trung Tạp Ngâm” gồm 40 bài đầy cảm
hứng, của tâm sự, nỗi niềm u uất.
Truyện Kiều được Nguyễn Du chuyển dịch, sáng tạo từ cuốn tiểu thuyết
“Truyện Kim Vân Kiều" của Thanh Tâm Tài Nhân, tên thật là Tử Văn
Trường, quê ở huyện Sơn Am, tỉnh Triết Giang, Trung Quốc. Truyện Kiều
14
đã được nhân dân ta đón nhận một cách say sưa, có nhiều lúc đã trở thành
vấn đề xã hội, tiêu biểu là cuộc tranh luận xung quanh luậnđề "Chánh học và
tà thuyết" giữa cụ Nghè Ngô Đức Kế và ông Phạm Quỳnh thu hút rấtnhiều
người của 2 phía cùng luận chiến. Không chỉ ảnh hưởng sâu sắc trong tầng
lớp thịdân, Truyện Kiều còn được tầng lớp trên say mê đọc, luận. Vua Minh
Mạng là người đầutiên đứng ra chủ trì mở văn đàn ngâm vịnh truyện Kiều
và sai các quan ở Hàn Lâm Việnchép lại cho đời sau. Đến đời Tự Đức, nhà
vua thường triệu tập các vị khoa bảng trong triều đến viết và vịnh Truyện
Kiều ở văn đàn, ở Khu Văn Lâu.Ngày nay, Truyện Kiều vẫn đang được các
nhà xuất bản in với số lượng lớn, được dịch ra rất nhiều thứ tiếng. Các nhà
nghiên cứu trên thế giới đánh giá cao Truyện Kiều. Dịch giảngười Pháp Rơ-

lạc, gần gũi với tầng lớp dân đen và ngay cả khi sống giữa quan trường. Ông
dốc cả máu xương mình vào văn chương, thi ca. Thơ ông là tiếng nóitrong
trái tim mình. Đấy là tình cảm sâu sắc của ông đối với một kiếp người lầm
lũi cơ hàn, là thái độ bất bình rõ ràng của ông đối với các số phận con người.
Xuất thân trong gia đình quý tộc, sống trong không khí văn chương bác học,
nhưng ông có cách nói riêng, bình dân, giản dị, dễ hiểu, thấm đượm chất dân
ca xứ Nghệ. Về văn thơ nôm, các sáng tác của ông có thể chia thành 3 giai
đoạn. Thời gian sống ở Tiên Điền – Nghi Xuân đến 1802, ông viết “Thác lời
trai phường nón Văn tế sống 2 côgái Trường Lưu”. Đây là 2 bản tình ca thể
hiện rất rõ tâm tính của ông, sự hoà biểu tâm hồn tác giả với thiên nhiên, với
con người. Ba tập thơ chữ Hán thì "Thanh hiên thi tập"gồm 78 bài, viết lúc ở
16
Quỳnh Côi và những năm mới về Tiên Điền, là lời trăn trở chốnlong đong,
là tâm sự, là thái độ của nhà thơ trước cảnh đời loạn lạc. Sau 1809, những
sáng tác thơ của ông tập hợp trong tập “Nam Trung Tạp Ngâm” gồm 40 bài
đầy cảm hứng, của tâm sự, nỗi niềm u uất. Truyện Kiều được Nguyễn Du
chuyển dịch, sáng tạo từ cuốn tiểu thuyết “Truyện Kim ân Kiều" của Thanh
Tâm Tài Nhân, tên thật là Tử Văn Trường, quê ở huyện Sơn Am, tỉnh Triết
Giang, Trung Quốc. Truyện Kiều đã được nhân dân ta đón nhận một cách
saysưa, có nhiều lúc đã trở thành vấn đề xã hội, tiêu biểu là cuộc tranh luận
xung quanh luậnđề "Chánh học và tà thuyết" giữa cụ Nghè Ngô Đức Kế và
ông Phạm Quỳnh thu hút rất nhiều người của 2 phía cùng luận chiến. Không
chỉ ảnh hưởng sâu sắc trong tầng lớp thịdân, Truyện Kiều còn được tầng lớp
trên say mê đọc, luận. Vua Minh Mạng là người đầutiên đứng ra chủ trì mở
văn đàn ngâm vịnh truyện Kiều và sai các quan ở Hàn Lâm Việnchép lại cho
đời sau. Đến đời Tự Đức, nhà vua thường triệu tập các vị khoa bảng trong
triều đến viết và vịnh Truyện Kiều ở văn đàn, ở Khu Văn Lâu.Ngày nay,
Truyện Kiều vẫn đang được các nhà xuất bản in với số lượng lớn, được dịch
ra rất nhiều thứ tiếng. Các nhà nghiên cứu trên thế giới đánh giá cao Truyện
Kiều. Dịch giảngười Pháp Rơ-Ne-Crir-Sắc khi dịch Truyện Kiều đã viết bài

Trị Thiên Huế gây dựng phong trào, tổ chức đấu tranh đòi thống nhất đất
nước.
19
Nhà thơ đã tận mắt chứng kiến những cuộc đàn áp vô cùng dã man của
chính quyền Ngô
Đình Diệm đối với những người bị chúng tình nghi là “Cộng sản”: Hôm qua
chúng giết
anh/ Xác phơi đầu ngõ xóm.
20
Bọn chúng “trừng mắt” ra lệnh:Thằng này là Cộng sản/ Không được đứa
nào
chôn! Nhưng bất chấp lời đe doạ của chúng, nhân dân vẫn chôn cất những
chiến sĩ Cộng
sản hết sức chu đáo: Lũ chúng vừa quay lưng/ Chiếc quan tài sơn son/ Đã
đưa anh về
mộ/ Đi theo sau hồn anh/ Cả làng quê, đường phố/ Cả lớn nhỏ gái trai/
Đám càng đi
càng dài/ Càng dài càng đông mãi…
21
Đó là những câu thơ trong bài Mồ anh hoa nở mà tôi đã học thuộc lòng khi
còn là một
cậu học trò lớp sáu trường làng. Những câu thơ dung dị ấy cứ đi thẳng vào
lòng người,
chẳng cần hoa hoè, hoa sói.
Trải qua mưa nắng thời gian những bông hồng trên mộ người Cộng sản vẫn
toả hương
ngào ngạt. Bởi đó là những bông hồng nở từ máu của các chiến sĩ cách
mạng đã hy sinh
22
vì sự nghiệp thống nhất đất nước.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status