1
MỤC LỤC
A.NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN
HÀNG 1
PHÁT TRIỂN 1
1.Khái niệm: 1
2.Phân loại: 2
3.Tính chất sở hữu: 2
4.Mục tiêu hoạt động: 2
1.Sử dụng vốn: 2
B. NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 3
I.KHÁI QUÁT CHUNG 3
1.Quá trình thành lập: 3
2.Mô hình tổ chức 4
3.Mục tiêu hoạt động, chức năng, nhiệm vụ 5
4.Nguồn vốn 6
5.Sử dụng vốn 7
II.THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 10
1.Huy động vốn 10
2.Sử dụng vốn 11
3.Nghiệp vụ thanh toán 13
A. NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN HÀNG
PHÁT TRIỂN
1. Khái niệm:
Ngân hàng phát triển là ngân hàng có chức năng chủ yếu là
huy động các nguồn vốn trung và dài hạn dưới hình thức nhận tiền
1
gửi, phát hành chứng từ có giá và vay vốn để đầu tư trung và dài
hạn dưới hình thức cấp tín dụng, góp vốn mua cổ phần.
2. Phân loại:
Căn cứ vào mục tiêu đầu tư, có hai hình thức ngân hàng phát
thầu và các hoạt động bảo lãnh khác cho cá nhân và các tổ chức
kinh tế.
1
- Cung ứng các dịch vụ thanh toán và các dịch vụ đại lí, ủy thác
cho khách hàng.
B. NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
I. KHÁI QUÁT CHUNG
1. Quá trình thành lập:
Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) được thành lập trên cơ sở
Quỹ Hỗ trợ Phát triển theo quyết định 108/2006/QĐ-TTG của Thủ tướng
Chính phủ ban hành ngày 19/05/2006 để thực hiện chính sách tín dụng
đầu tư phát triển và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước theo quy định của
Chính phủ.
Tên giao dịch quốc tế: The Vietnam Development Bank
Tên viết tắt: VDB
Ngân hàng Phát triển có tư cách pháp nhân, có vốn điều lệ, có con
dấu, được mở tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước, Kho bạc Nhà nước, các
ngân hàng thương mại trong nước và nước ngoài, được tham gia hệ thống
thanh toán với các ngân hàng và cung cấp dịch vụ thanh toán theo quy
định của pháp luật. Ngân hàng Phát triển kế thừa mọi quyền lợi, trách
nhiệm từ Quỹ Hỗ trợ phát triển.
Ngân hàng Phát triển Việt Nam có các đặc thù sau:
Hoạt động của Ngân hàng Phát triển không vì mục đích lợi nhuận;
tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0% (không phần trăm); không phải tham gia
bảo hiểm tiền gửi; được Chính phủ đảm bảo khả năng thanh toán, được
miễn nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước theo quy định của
pháp luật.
Vốn điều lệ của Ngân hàng Phát triển là 5.000 tỷ đồng (năm nghìn
tỷ đồng) từ nguồn vốn điều lệ hiện có của Quỹ Hỗ trợ phát triển.
Việc điều chỉnh, bổ sung vốn điều lệ tuỳ thuộc yêu cầu và nhiệm vụ
NGOÀI
(ABROAD
REPRESENTATIVE)
VĂN PHÒNG ĐẠI
DIỆN TRONG NƯỚC
(DOMESTIC
REPRESENTATIVE
OFFICE)
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
(PRIME MINISTER)
1
- Sở Giao dịch, Chi nhánh, Văn phòng đại diện trong nước và nước
ngoài.
3. Mục tiêu hoạt động, chức năng, nhiệm vụ
a. Mục tiêu hoạt động:
VDB là một đơn vị cho vay chính sách phi lợi nhuận, với số vốn
điều lệ lên tới 5 nghìn tỷ đồng. Cùng với Ngân hàng Chính sách Xã hội
Việt Nam, VDB có mục tiêu đóng góp vào quá trình xoá đói giảm nghèo
thông qua các khoản vay cho các công trình xây dựng thuỷ lợi và giao
thông nông thôn, xây dựng cơ sở hạ tầng cho các làng nghề, xây dựng cơ
sở hạ tầng kinh tế xã hội cho các vùng sâu, vùng xa và hỗ trợ xuất khẩu.
b. Chức năng, nhiệm vụ:
1) Huy động, tiếp nhận vốn của các tổ chức trong và ngoài nước để
thực hiện tín dụng đầu tư phát triển và tín dụng xuất khẩu của
Nhà nước theo quy định của Chính phủ.
2) Thực hiện chính sách tín dụng đầu tư phát triển:
Cho vay đầu tư phát triển;
Hỗ trợ sau đầu tư;
Bảo lãnh tín dụng đầu tư.
3) Thực hiện chính sách tín dụng xuất khẩu:
3) Nhận tiền gửi ủy thác của các tổ chức trong và ngoài nước.
4) Vốn đóng góp tự nguyện không hoàn trả của các cá nhân, các tổ
chức kinh tế, tổ chức tài chính, tín dụng và các tổ chức chính trị -
xã hội, các hiệp hội, các hội, các tổ chức trong và ngoài nước.
5) Vốn nhận ủy thác cấp phát, cho vay của chính quyền địa
phương, các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị - xã hội, các hiệp
hội, các hội, các tổ chức, các cá nhân trong và ngoài nước.
6) Các nguồn vốn khác theo quy định của pháp luật.
5. Sử dụng vốn
Ngân hàng Phát triển được sử dụng vốn để:
1) Thực hiện chính sách tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước:
• Cho vay đầu tư phát triển;
• Hỗ trợ sau đầu tư;
• Bảo lãnh tín dụng đầu tư;
• Cho vay các dự án đầu tư ra nước ngoài theo quyết định của
Thủ tướng Chính phủ.
2) Thực hiện chính sách tín dụng xuất khẩu:
• Cho vay bên bán;
• Cho vay bên mua;
• Bảo lãnh tín dụng xuất khẩu;
• Bảo lãnh dự thầu và bảo lãnh thực hiện hợp đồng.
3) Đầu tư xây dựng cơ bản và mua sắm tài sản của Ngân hàng Phát
triển theo quy định của pháp luật.
4) Cấp phát ủy thác, cho vay ủy thác theo yêu cầu của bên ủy thác.
DANH MỤC
Các dự án vay vốn tín dụng đầu tư
1
(Ban hành kèm theo Nghị định số 151/2006/NĐ-CP
ngày 20 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ)
- Sản xuất kim loại màu có công suất tối thiểu 5 nghìn tấn/năm;
- Sản xuất bột màu đioxit titan có công suất tối thiểu 20 nghìn
tấn/năm.
1
2 Dự án sản xuất động cơ Diezel từ 300CV trở lên
3 Dự án đầu tư đóng mới toa xe đường sắt và lắp ráp đầu máy xe lửa
4 Dự án đầu tư bào chế, sản xuất thuốc kháng sinh, thuốc cai nghiện,
vắc xin thương phẩm và thuốc chữa bệnh HIV/AIDS
5 Dự án đầu tư xây dựng thủy điện nhỏ công suất nhỏ hơn hoặc bằng
100MW; xây dựng nhà máy điện từ gió
6 Dự án đầu tư sản xuất DAP và phân đạm
IV Các dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó
khăn, đặc biệt khó khăn; dự án tại vùng đồng bào dân tộc Khơ
me sinh sống tập trung, các xã thuộc chương trình 135 và các xã
biên giới thuộc chương trình 120, các xã vùng bãi ngang
V
Các dự án cho vay theo Hiệp định Chính phủ; các dự án đầu tư
ra nước ngoài theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ
DANH MỤC
Mặt hàng vay vốn tín dụng xuất khẩu
(Ban hành kèm theo Nghị định số 151/2006/NĐ-CP
ngày 20 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ)
______
STT DANH MỤC MẶT HÀNG
I Nhóm hàng nông, lâm, thuỷ sản
1. Lạc nhân
2 Cà phê
3 Chè
4 Hạt tiêu
huy động trái phiếu Chính phủ là 24.295 tỷ đồng chiếm gần 70% tổng số
vốn huy động trong năm.
Nhìn chung, công tác huy động vốn đã đạt được kết quả tốt, cải
thiện đáng kể cơ cấu nguồn vốn về kỳ hạn theo hướng tăng nguồn dài
hạn, từng bước phù hợp với cơ cấu cho vay của NHPT; đáp ứng đầy đủ,
kịp thời nhu cầu vốn để giải ngân cho các dự án đầu tư, các hợp đồng
xuất khẩu, đảm bảo không xảy ra trường hợp chậm tiến độ thi công và
tiến độ xuất khẩu hàng hóa do thiếu vốn.
Trong năm 2008 để thực hiện được nhiệm vụ Thủ tướng Chính phủ
giao theo Quyết định số 1590/QĐ-TTg ngày 23/11/2007 về việc giao chỉ
tiêu kế hoạch phát triển KT-XH năm 2008, yêu cầu toàn hệ thống NHPT
phải đảm bảo huy động được tối thiểu 40.000 tỷ đồng(chưa kể vốn ODA
và vốn cho vay đầu tư dự án nhà máy lọc dầu Dung Quất thực hiện theo
ủy nhiệm của Bộ tài chính).
NHPT đã không ngừng nỗ lực tổ chức các kênh huy động vốn đặc
biệt là huy động vốn thông qua việc phát hành trái phiếu Chính phủ. Tuy
nhiên, với sự ảm đạm của thị trường tài chính, đặc biệt là thị trường trái
phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ thì trong phần lớn các phiên đấu thầu
trái phiếu chính phủ của NHPT tỷ lệ trái phiếu trúng thầu và tổng số trái
phiếu phát hành là không lớn. Điển hình như trong phiên đấu thầu ngày
1
18/8/2008, Trung tâm Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HaSTC) thông báo
đã đấu thầu thành công 217 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ trong tổng số
600 tỷ đồng trái phiếu do Ngân hàng Phát triển Việt Nam phát hành đợt
5/2008(tỷ lệ chỉ đạt 36%).
Không chỉ phát hành trái phiếu chính phủ ở thị trường trong nước,
NHPT đang nghiên cứu và chuẩn bị phát hành trái phiếu chính phủ ra
nước ngoài. Đây là kênh huy động vốn hứa hẹn nhiều thành công trong
tương lai.
2. Sử dụng vốn
Tín dụng đầu tư(TDĐT)
Về thu hồi nợ ODA đạt cao so với kế hoạch giao, tính đến
20/12/2007 tổng số thu nợ đạt được 3.732 tỷ đồng, trong đó thu gốc 2.337
tỷ đồng đạt 111,2% kế hoạch năm 2007, thu lãi, phí: 1.395 tỷ đồng, đạt
116% kế hoạch năm 2007. Dư nợ vay là 47.840 tỷ đồng, nợ gốc quá hạn
268 tỷ đồng, chiếm 0.56% dư nợ.
Cấp hỗ trợ sau đầu tư đến 20/12/2007 là 128 tỷ đồng, dự kiến cấp cả năm
2007 khoảng 260 tỷ đồng.
Trong năm 2008, NHPT dự kiến tập trung ưu tiên bố trí vốn cho
các dự án chuyển tiếp, đặc biệt các dự án trọng điểm(62 dự án nhóm A
với số vốn cả năm hơn 10.600 tỷ đồng). Tính đến tháng 2 năm 2008, đã
có gần 800 dự án đăng kí vay vốn trong năm 2008 với tổng số vốn trên
7.000 tỷ đồng(chưa kể dự án nhà máy lọc dầu Dung Quất).
Trong năm 2008 NHPT tiếp tục nỗ lực thực hiện các hoạt động đầu
tư như:
- Cho vay 400 triệu USD nhập khẩu thiết bị Nhà máy Thủy điện
Sơn La.
- Đầu tư 1 tỷ USD dự án nhà máy lọc dầu Dung Quất. Thủ tướng
chính phủ giao nhiệm vụ cho NHPT tiếp nhận nguồn vốn huy động ngoại
tệ của bộ tài chính và trực tiếp theo dõi quản lí cho vay đầu tư dự án.
- Làm chủ đầu tư dự án đường cao tốc Hà Nội- Hải Phòng, cùng
với Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Tập đoàn Đầu tư Sài Gòn, Tổng
công ty cổ phần Xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam( VINACONEX)
thành lập Tổng công ty Phát triển hạ tầng va Đầu tư tài chính Việt
Nam(VIDIFI), trong đó NHPT góp 2.350 tỷ đồng tương đương 47% vốn
điều lệ của tổng công ty.
Cấp phát vốn ủy thác
Công tác cấp phát dự án thủy điện Sơn La(bao gồm dự án nhà máy,
dự án di dân tái định cư, dự án đường giao thông tránh ngập) đã được
đảm bảo, kịp thời đáp ứng nhu cầu vốn theo đề nghị thanh toán của các
công suất thiết kế, ảnh hưởng đến việc hoàn trả vốn vay. Theo báo cáo
tổng hợp giám sát, đánh giá đầu tư năm 2007 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư,
số dự án sử dụng vốn nhà nước đã triển khai vi phạm các quy định về
quản lý đầu tư chiếm khoảng 17,6% tổng số dự án đầu tư thực hiện trong
năm 2007 (trên 26.030 dự án); số dự án đang thực hiện phải điều chỉnh
chiếm 22,2%. Tình trạng dự án thực hiện chậm tiến độ vẫn chưa được
khắc phục do các nguyên nhân chính như đền bù giải toả khó khăn, chất
lượng tư vấn yếu kém hoặc quá tải, nhiều đơn vị thi công năng lực tài
chính hạn chế, tổ chức thi công chất lượng kém; khả năng quản lý thực
hiện dự án của chủ đầu tư yếu.
Đầu tư kém hiệu quả, kèm theo đó là thất thoát, lãng phí. Hệ số
ICOR (Tỷ lệ vốn đầu tư/GDP chia tốc độ tăng trường GPP) trong những
1
năm gần đây dao động trong khoảng từ 4 đến 5 cho thấy hiệu quả đầu tư
thấp hơn so với một số nước trong khu vực có điều kiện tương tự.
- Về vốn tín dụng đầu tư, trong năm 2007, NHPT đã cho vay đầu tư
508 dự án, tổng số vốn giải ngân đạt 98,5% kế hoạch Thủ tướng giao.
Việc thực hiện chính sách tín dụng của Nhà nước với hệ thống văn bản
hướng dẫn tương đối đồng bộ. NHPT đã đẩy mạnh phân cấp cho cơ sở,
quy định trách nhiệm từng cấp và thực hiện cơ chế kiểm tra, giám sát
trong quá trình hoạt động tín dụng của toàn hệ thống. Tuy nhiên, còn hạn
chế về chất lượng thẩm định về đánh giá, xác định năng lực tài chính của
khách hàng, lựa chọn dự án có hiệu quả cao để quyết định cho vay mà
nguyên nhân chính là năng lực cán bộ nghiệp vụ chưa đồng đều, cơ chế
phối hợp chưa hoàn chỉnh, ràng buộc về trách nhiệm chưa chặt chẽ.
- Một thực tế hiện nay là các phiên tổ chức đấu thầu trái phiếu tỉ lệ
thành công là khá thấp. Mặc dù tiêu chí để đánh giá sự không thành công
của một cuộc đấu thầu TPCP vẫn chưa cụ thể, song theo đa số thành viên
thị trường thì cơ sở để đánh giá là căn cứ vào tỷ lệ trúng thầu. Nếu tỷ lệ
Chính phủ về mức lãi suất hợp lý cho VND trong thời gian tới Có thể, ở
đâu đó có những dụng ý này khác để giải thích cho việc đấu giá trái phiếu
chính phủ như thời gian vừa qua, nhưng rõ ràng, trong kinh tế, tối đa hóa
lợi ích sẽ là điểm dẫn đường cho các khoản đầu tư.
Biện pháp:
Thời gian tới, nhằm góp phần đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng và hiệu
quả của nền kinh tế, thực hiện các mục tiêu xóa đói, giảm nghèo, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, phù hợp với cam kết gia nhập
WTO; Ngân hàng Phát triển Việt Nam phải xác định rõ mô hình hoạt
động, là ngân hàng chính sách của Chính phủ, với mục đích và yêu cầu
là: đóng góp tích cực cho việc thực hiện các mục tiêu nói trên; tập trung
khai thác các nguồn vốn với lãi suất thấp để cho các dự án thuộc khung
quy định của Chính phủ vay đầu tư.
Để thực hiện những nhiệm vụ trên, trong thời gian tới Ngân Hàng Phát
Triển cần thực hiện những biện pháp sau:
- Ngân hàng phải đổi mới tư duy kế hoạch cho phù hợp với nhiệm vụ
được giao: chủ động tìm kiếm, lựa chọn và cung ứng vốn cho các dự án
thuộc đối tượng hỗ trợ đầu tư theo quy định của Chính phủ; nhưng phải
bảo đảm có hiệu quả và an toàn trong hoạt động tín dụng.
Yêu cầu cấp bách đặt ra vào thời gian này là phải đánh giá lại toàn
bộ dự án đầu tư, kiểm soát chặt hoạt động đầu tư của doanh nghiệp có
phương án xử lý đối với những dự án đang triển khai bị đọng vốn quá lâu,
thiết kế ban đầu không còn phù hợp hoặc dự án đầu tư kém hiệu quả;
đình hoãn hoặc giãn tiến độ những công trình chưa thực sự cần thiết. Tập
trung nguồn lực đầu tư cho các dự án có hiệu quả, dự án trọng điểm của
Nhà nước và dự án sắp hoàn thành để sớm phát huy tác dụng.
Theo đó, trong công tác thẩm định dự án đầu tư cần rà soát lựa chọn
dự án có hiệu quả cao; sàng lọc khách hàng có năng lực tài chính mạnh,
1
uy tín tốt để quyết định cho vay. Hạn chế điều kiện tín dụng cho vay đối
NHPT.
- Sửa đổi, bổ sung hoàn thiện cơ chế giám sát thực hiện phân cấp,
Ngoài ra, NHPT tập trung quản lý tín dụng, giám sát việc sử dụng vốn
vay; trong đó, thu hồi nợ vay (gốc và lãi) được xác định là nhiệm vụ
trọng tâm; quản lý tài sản bảo đảm tiền vay bảo đảm an toàn và hiệu quả.
1
Từng bước mở rộng các hoạt động của NHPT trong cơ chế thị trường,
cũng như tổ chức thực hiện tốt các nhiệm vụ khác được Thủ tướng Chính
phủ giao.
- Đẩy mạnh phương thức đồng tài trợ của các tổ chức tín dụng đối với
các dự án có nhu cầu vay vốn lớn
Vậy Ngân hàng Phát triển cần thực hiện đồng bộ các giải pháp trên,
chủ động ứng phó và điều chỉnh các biến động của thị trường, tập trung
triển khai chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, nhằm thực hiện
có hiệu quả vai trò đòn bẩy phát triển kinh tế xã hội, góp phần kiềm chế
lạm phát và bảo đảm mục tiêu tăng trưởng bền vững.
Kết luận:
Trong giai đoạn mới với nhiều diễn biến phức tạp trên thị trường
tiền tệ thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, đòi hỏi NHPT phải có
những cải cách sâu, rộng, đồng bộ và mạnh mẽ hơn nữa, tạo sức bật vững
chắc hơn trong năm bản lề, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được
Chính phủ giao, phát triển bền vững hơn theo chiến lược đề ra góp phần
đắc lực vào thúc đẩy tăng trưởng và xuất khẩu của nền kinh tế theo
phương châm:
“ An toàn hiệu quả - Hội nhập quốc tế - Phát triển bền vững”.