Tiểu luận môn Kinh tế lượng Các yếu tố ảnh hưởng đến học tập của sinh viên khóa 27 trường Đại học Ngân Hàng Thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 27

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA TOÁN – THỐNG KÊ

BÀI TIỂU LUẬN
KINH TẾ LƯỢNG
Đề tài : Các yếu tố ảnh hưởng đến học tập của sinh viên khóa 27 trường
Đại học Ngân Hàng Thành phố Hồ Chí Minh
GVHD : Đỗ Hoàng Oanh
LỚP : T03
SVTH : NHÓM
TP.HCM, tháng 04 năm 2014
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN DANH SÁCH NHÓM

yếu tố ảnh hưởng đến học tập của sinh viên khóa 27 trường đại học ngân hàng thành phố
Hồ Chí Minh”.
1.2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
+ Khảo sát và phân tích định lượng để tìm hiểu các yếu tố tác động đến kết quả học tập của
sinh viên khóa trường đại học ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh.
+ Giải thích mối quan hệ giữa các yếu tố tác động đến KQHT của sinh viên khóa 27 trường đại
học ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh.
1.3. Giới hạn nghiên cứu của đề tài:
Đề tài giới hạn ở việc tìm hiểu và đánh giá các yếu tố tác động đến kết quả học tập của
sinh viên khóa 27 trường đại học ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh.
1.4 Tổng quan về đề tài nghiên cứu:
1.4.1. Các công trình nghiên cứu về các yếu tố tác động đến kết quả học tập:
Tác giả Evans (1999) trong nghiên cứu “School-leavers, Transition to Tertiary Study: A
Literature Review'”; Tác giả Stinebrickner, T.R. and Stinebrickner, R. (2001) trong nghiên cứu
“The relationship between Family income and schooling attainment: Evidence from a liberal
arts college with a full tuition subsidy program”; một nghiên cứu khác tại Tây Ban Nha
“Personal, family, and academic factors affecting low achievement in secondary school” của
Antonia Lozano Diaz (2003); tác giả Getinet Haile & Nguyễn Ngọc Anh (2008) trong đề tài
“Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập ở Hoa Kỳ: Phân tích hồi quy điểm phân vị cho
điểm kiểm tra”; tác giả Darling-Hammond (2000) trong cuốn “Chất lượng giáo viên và thành
quả học tập của học sinh” Nghiên cứu về các yếu tố tác động đến kết quả học tập của học
sinh/sinh (gọi chung là sinh viên) khá đa dạng. Các nghiên cứu chỉ rõ mối quan hệ, các mức độ
tác động của các yếu tố đến kết quả học tập của sinh viên ở hầu hết các nhóm yếu tố thuộc về
đặc trưng nhân khẩu, đặc điểm xã hội, đặc điểm kinh tế.
1.4.2. Các công trình trong nước:
Nghiên cứu của tác giả Huỳnh Quang Minh (2010) “Các yếu tố tác động đến KQHT của
sinh viên chính qui Trường Đại học Nông lâm TP.HCM”, Nghiên cứu của Nguyễn Thị Mai
Trang, Nguyễn Đình Thọ, Mai Lê Thúy Vân (2008) về “các yếu tố chính tác động vào kiến
thức thu nhận của sinh viên khối ngành kinh tế”, luận văn thạc sĩ của Võ Thị Tâm (2010) “Các
yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên chính quy đại học Kinh tế thành phố Hồ

2.1.6 Câu hỏi nghiên cứu:
- Số giờ tự học trong một ngày của bạn là bao nhiêu? (Đơn vị tính: giờ)
- Thu nhập một tháng của bạn là bao nhiêu? (Đơn vị tính: Triệu đồng)
- Bạn lên thư viện bao nhiêu lần một tuần? (Đơn vị tính: lần)
- Số giờ sử dụng internet trong một ngày của bạn là bao nhiêu? (Dơn vị tính: Giờ)
- Bạn có đi làm thêm hay không? ( Có hoặc Không)
- Bạn là nam hay nữ?
- Điểm trung bình cuối kì của học kì gần nhất của bạn là bao nhiêu?
2.1.7 Bảng kết quả kháo sát:
Kết quả khảo
sát
Số giờ
tự học
Thu
nhập
Số lần lên thư viện
trong 1 tuần
Số giờ lên mạng
internet
Có đi làm thêm
hay không
Giới
tính Điểm trung bình
5 2.2 10 1 1 1 8.9
2 2.4 1 2 0 1 5.1
3 2 0 3 1 0 6.05
2.5 2.6 3 0.5 1 1 7.1
4 2.8 2 2 0 0 8.1
2 2 4 3 1 0 8.9
6 3.3 1 4 0 1 6.2

9 2.6 4 2 1 0 8.5
13 2.3 7 0.5 0 1 9.4
8 2.3 3 4 0 1 7.5
0.5 3.2 0 3 1 0 3
6 2.6 1 20 0 0 5
9 3.3 4 5 0 1 8
8 2.2 4 3 1 1 9
10 2.7 3 2 1 0 7
7 2.5 2 4 0 0 6
4 2.9 1 7 0 1 5.5
3 4 0 8 1 0 5
2 3.1 0 3 1 1 4
5.5 3.1 1 7 0 0 6.5
7 3.7 0 6 0 0 7.5
6 3.2 2 4 1 1 8.5
5 3.3 4 4 0 0 8
5 3 2 5 1 1 8
3 2.8 2 6 0 0 7.5
6 3.1 2 2 1 1 8.5
7.5 2.3 1 7 0 0 7
8 3.3 2 6 0 1 7
2 3.2 3 6 1 0 7
12 2.5 4 8 0 1 9
2.5 3.2 0 4 1 1 5
7 2.5 2 2 0 0 7
4 2.7 1 4.5 1 1 6.5
8 2.3 2 3 1 1 9
3 3.3 1 1 1 0 5.5
10 2.3 1 2 0 0 8
6 2.6 2 1 0 1 7.5

3.5 3.9 7 3 0 1 9
3 3.2 4 4 1 0 9.5
2 2.7 2 5 0 1 7
2.2 Mô hình kinh tế lượng:
2.2.1 Mô hình:
Các biến đưa vào mô hình:
X
1
: số giờ tự học trong 1 ngày (DVT: h)
X
2
: Thu nhập 1 tháng (DVT: Trđ)
X
3
: số lần lên thư viện trong 1 tuần.
X
4
: Số giờ sử dụng internet trong 1 tuần.
X
5
: X
5
=1: có đi làm thêm, X
5
=0: không đi làm thêm.
X
6
: X
6
=1: nam, X

X
6i
2.2.2 Ước lượng mô hình:
Với tống số quan sát 100, ta ước lượng được mô hình sau:
Y^
i
= 6.6223+0.1776X
1i
-0.2382X
2i
+0.3343X
3i
-0.1650X
4i
-0.0342X
5i
-0.1124X
6i
 Ma trận tương quan:
Ta thấy hệ số tương quan giữa các biến giải thích thấp (<0.8) nên mô hình không
bị đa cộng tuyến.
 Kiểm định White:
Ta chọn mức ý nghĩa a=10%.
Kiểm định giả thiết: H
0
: phương sai không thay đổi, H
1
: phương sai thay đổi.
Ta có: p_value=0.1292 > a=0.1 nên không có cơ sở để bác bỏ giả thiết H
0

: mô hình thừa biến, H
1
: mô hình không bị thừa biến.
Ta có: p_value (X
1
, X
3
, X
4
) < a=0.1 nên bác bỏ H0 với a=10%
p_value (X
2
, X
5
, X
6
) > a=0.1 nên không có cơ sở bác bỏ H
0
với a=10%
Vậy với mức ý nghĩa a=10%, mô hình bị thừa các biến X
2
, X
5
, X
6
.
 Vậy mô hình tối ưu: Y^
i
= 5.8778 + 0.1801X
1i

2
: Thu nhập 1 tháng (DVT: Trđ). trong điều kiện các yếu tố khác không đổi khi điểm
trung bình tăng (giảm) lên 1 lần thì thu nhập sẽ giảm (tăng) 0.2382 lần. điều này cho thấy, khi
một sinh viên càng tập trung đi làm thêm để kiến thêm thu nhập cho mình thì đồng nghĩa với
việc sinh viên đó phải đánh đổi thời gian học của mình đi. Do vậy, kết quả học tập cũng sẽ có
xu hướng giảm. điều này hợp lý và rõ ràng. Trong thực tế, rất nhiều trường hợp sinh viên thậm
chí còn bỏ hẳn việc học do số tiền làm thêm lớn hoặc bị nhiều cám dỗ khi đi làm thêm.
X
3
: số lần lên thư viện trong 1 tuần. Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi khi điểm
trung bình tăng (giảm) lên 1 lần thì số giờ lên thư viện sẽ tăng (giảm) 0.3343 lần. Điều này là
hợp lý, khi sinh viên đã có sự đầu tư trong việc học bằng việc thường xuyên lên thư viện thì
chắc chắn sự hiểu biết sẽ được mở mang và kết quả trong học tập sẽ tốt.
X
4
: Số giờ sử dụng internet trong 1 tuần. . Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi
khi điểm trung bình tăng (giảm) lên 1 lần thì số giờ sử dụng internet trong 1 tuần giảm (tăng)
0.1650 lần. Rõ ràng, việc giải trí là rất cần thiết nhưng nếu cân bằng tốt giữa việc học và vui
chơi thì sẽ mang lại kết quả học tập tốt. việc thường xuyên lên mạng nhằm mục đích giải trí sẽ
hiệu quả, nhưng nếu tốn quá nhiều thời gian lên mạng thì sinh viên phải đánh đổi lượng thời
gian học tập của mình, điều này là không tốt. Do vậy, cần có sự cân bằng giữa học và lên mạng
một cách hợp lý.
X
5
: Đi làm thêm. Khi làm thêm, sinh viên sẽ giành ít thời gian hơn cho việc học , dẫn
đến kết quả học tập cũng không cao. Đã có rất nhiều nhà giáo dục thảo luận về việc đi làm
thêm trong sinh viên, nhưng họ đều tán thành là không nên đi làm (ngoại trừ một số trường hợp
đặc biệt).
3.Đề xuất:
Qua những nghiên cứu, đánh giá và kết luận trên chúng tôi có một số đề xuất để sinh viên có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status