VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
ĐÒ tài:
HỊÊP ĐỊNH CHUNG VỀ CÁC KHÍA CẠNH LIÊN QUAN
ĐẾN THƯƠNG MẠI CỦA QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ CỦA
WTO
Sinh viên thực hiện : PHẠM VĂN CÔNG
SBD : 26
Năm sinh : 10/9/1963
Líp : LUẬT K3B
Cơ sở đào tạo : TTGDTX HÀ TÂY
Hà Tây - 2007
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế phát triển tất yếu của nền kinh tế
thế giới. Hội nhập kinh tế quốc tế là một bước quan trọng để thu hẹp khoảng
cách phát triển giữa các quốc gia trên thế giới. Đồng thời hội nhập kinh tế
quốc tế chỉ được thực hiện đối với các nền kinh tế mở.
Nắm bắt được xu thế phát triển mang tính tất yếu đó, tại Đại Hội Đảng
toàn quốc lần thứ VI (năm 1986), Đảng ta đã đưa ra chủ trương chuyển đổi
nền kinh tế của đất nước từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh
tế thị trường (nền kinh tế mở) định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là một chủ
trương, chính sách đúng đắn đã tưngừ bước đưa nền kinh tế nước ta ra khỏi
tình trạng trì truệ, chậm phát triển… tham gia ngày càng mạnh mẽ vào quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế. Từ chủ trương chính sách của Đảng đã được
nhà nước thể chế hoá thành các quy phạm pháp luật. Trong đó có rất nhiều
đạo luật quan trọng nh: Luật Doanh nghiệp, Luật đầu tư, Luật Thương mại
Bên cạnh đó dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của nhà nước chóng ta
đã lần lượt là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế quan trọng như: ASEAN
luật tương đối hoàn thiện.
Thực tế cho thấy cùng với sù phát triển của kinh tế quốc tế, những học
thuyết của những Adâm smith, David Ricardo… trong mét giai đoạn nào đó
tỏ ra vô cùng quan trọng khi giao lưu quốc tế. Các ông đều thống nhất rằng
phát triển thương mại quốc tế là cách tốt nhất để phát triển kinh tế quốc gia,
làm cho nền kinh tế quốc gia phát triển mét cách tự nhiên, minh bạch và lành
mạnh.
Tuy nhiên các quốc gia trong thời điểm hiện nay đứng ở địa vị khác nhau
hoàn toàn trong giao lưu kinh tế. Những cường quốc như Hoa kỳ, Nhật Bản,
Trung Quốc, EU trong những năm qua luôn được coi là đầu tiên của kinh tế
2
thế giới và khi đó trong thương mại quốc tế giữa những nước này với các
nước ở thế giới thứ 3 như Đông Nam á, Châu Phi và một quốc gia chậm phát
triển khác… thì rõ ràng lợi thế hoàn toàn phụ thuộc về các quốc gia phát triển
kể trên.
Đồng thời do ảnh hưởng của lịch sử nên các quốc gia trên thế giới hiện
nay theo nhiều hệ thống pháp luật khác nhau, nh hệ thống pháp luật Anh -
Mỹ, hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa, pháp luật đạo hồi, hệ thống xã hội
chủ nghĩa đã khiến cho các quốc gia khác nhau có cách hiểu rất khác nhau
về cùng một vấn đề, đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại, trong thương mại
quốc tế. Điều đó đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới sù phát triển chung của nền
kinh tế thế giới. Có thể nói rằng trong bối cảnh mà nền kinh tế thế giới đang
đứng trước những xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá kinh tế mét cách rõ rệt
như hiện nay thì việc mỗi nước hành xử một kiểu có thể dẫn đến hậu quả xấu
tới nền kinh tế thế giới. Vì có thể quốc gia này trong giao lưu thương mại
quốc tế có thể không chịu áp dụng các quy định pháp luật của nước kia, hoặc
bất kỳ một nước thứ 3 nào. Hoặc khi có xảy ra tranh chấp thì những việc thẩm
quyền giải quyết là của ai, quyền hạn đến đâu… sẽ khó xác định. Việc mỗi
quốc gia có thể hành xử như thế là bởi dù gì thì quốc gia nào cũng muốn bảo
vệ hệ thống pháp luật của bản thân mình, muốn cho hệ thống đó ổn định và
cần thiết. Qua việc tự thoả thuận, tự mình tham gia ký kết hiệp định thương
mại dịch vô chung khiến cho quốc gia cân nhắc được tính cần thiết của hiệp
định này và qua đó cũng nâng cao tự giác khi áp dụng các quy định của hiệp
định. Đồng thời với việc đó thì WTO còng quy định việc giải quyết các tranh
chấp phát sinh trong lĩnh vực thương mại dịch vô quốc tế.
4
CHƯƠNG II: HIỆP ĐỊNH LIÊN QUAN ĐẾN THƯƠNG MẠI
CỦA QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
1. Hiệp định TRIPS - hiệp định về sở hữu trí tuệ
Sở hữu trí tuệ không phải là một vấn đề mới trong hệ thống kinh tế thế
giới. Trước đó, đã tồn tại nhiều hiệp định song phương và đa phương quy
định về SHTT trong đó quan trọng nhất là công ước Pari về bảo hộ sở hữu
công nghiệp (ký kết năm 1983; sửa đổi năm 1979); công ước Berne về bảo hộ
tác phẩm văn học nghệ thuật (ký kết năm 1986; sửa đổi 1979); công ước
Roma về bảo hộ người biểu diễn, nhà xuất bản ghi âm và các tổ chức phát
sóng (ký 1961)… các điều ước nói trên thể hiện vai trò ngày càng quan trọng
của các quyền về Sở hữu trí tuệ đối với hoạt động đầu tư, sản xuất thương mại
đối với từng quốc gia cũng như đối với các nước trong khu vực và trên toàn
thế giới.
Phải đến những năm 1980 trở đi thì các quyền về Sở hữu trí tuệ mới
được các quốc gia trên thế giới đặc biệt quan tâm trong hoạt động thương
mại. Hiệp định TRIPS được các thành viên của tổ chức thương mại thế giới
WTO ký kết ngày 15/04/1994 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/1995 quy
định các khía cạnh liên quan đến thương mại của các quyền sở hữu trí tuệ.
Hiệp định TRIPS ra đời đánh dấu bước chuyển mình quan trọng trong
việc nâng cao ý thức của toàn nhân loại về ý nghãi của quyền Sở hữu trí tuệ -
mét quyền mới được nhân loại bảo vệ và coi đó như là một hành động khơi
nguồn sự sáng tạo.
Điều 7, hiệp định TRIPS quy định về ý nghĩa và mục đích tối quan trọng
của hiệp định này là: "góp phần thúc đẩy việc cải tiến, chuyển giao và phổ
tuệ được điều chỉnh cụ thể trong hiệp định.
3. Các tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu
6
Để bảo hộ đầy đủ các quyền sở hữu trí tuệ hiệp định đã quy định tiêu
chuẩn bảo hộ tối thiểu về từng yếu tố bảo hộ cơ bản. Đó là các đối tượng
được bảo hộ, các quyền được cấp và ngoại lệ được phép đối với các quyền đó
và thời hạn bảo hộ tối thiểu. Hiệp định này yêu cầu trước hết các nước thành
viên WTO phải tuân thủ về mặt nội dung các điều ước: Pari, Ber ne, IPIC 46.
Còn các ngoại lệ được ghi nhận tại điều 2.1, 9.1 và điều 35 của hiệp định này.
Mặt khác điều ước này cũng bổ sung một số quy định quan trọng mà các điều
ước trên không điều chỉnh hoặc điều chỉnh không thoả đáng.
a. Quyền tác giả
Đối tượng bảo hộ là cách thức thể hiện chứ không phải là các ý tưởng,
trình tự, hay phương pháp vận hành các khái niệm toán học (điều 9.1).
Chương trình máy tính, bất kể dưới dạng mã nguồn hay mã máy, được bảo hộ
tác phẩm văn học theo công ước BERNE (điều 10.1). Cơ sở dữ liệu được bảo
hộ theo quyền tác giả, bất kể dưới hình thức đọc được hay bằng máy hoặc
dưới các hình thức khác, kể cả trường hợp bản thân các dữ liệu không được
bảo hộ, với điều kiện việc lùa chọn, sắp xếp các dữ liệu là sự sáng tạo trí tuệ
(điều 10.2).
Quyền tác giả phải bảo đảm cả quyền thuê bản gốc và bản sao (điều 11).
Thời gian bảo hộ: đối với tác phẩm không phải là tác phẩm nhiếp ảnh và
tác phẩm mỹ thuật ứng dông - Nếu không tính theo đời người thì Ýt nhất là 50 năm
tính từ ngày cuối cùng của năm dương lịch mà tác phẩm được tạo ra (điều 12).
b. Quyền liên quan.
Đối tượng được bảo hộ liên quan đến các quyền tác giả, gồm các chương
trình biểu diễn, ghi âm, phát thanh, truyền hình.
Quyền của người biểu diền: là độc quyền ghi âm buổi biểu diễn, sao
chép các bản ghi âm buổi biểu diễn, phát sóng tới công chúng… (điều 14.1).
Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm: là độc quyền bản sao chép (điều
8
thành hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo quy định tại điều 10, công
ước Pari (điều 22.2).
Nhãn hiệu hàng hoá có xuất xứ sai sự thật không được bảo hộ và từ chối
hoặc từ bỏ đăng ký theo quy định tại (điều 22.3).
f. Kiểu dáng công nghiệp
Đối tượng được bảo hộ: là mọi kiểu dáng công nghiệp có tính mới hoặc
nguyên gốc, được tạo ra một cách độc lập.
Quyền của chủ sở hữu: độc quyền sản xuất bán, nhập khẩu nhằm mục
đích thương mại sản phẩm.
Thời hạn bảo hộ: tối thiểu tổng cộng là 10 năm.
g. Patent
Đối tượng bảo hộ: là mọi sáng chế có tính mới có tính sáng tạo và khả
năng áp dông công nghiệp (điều 27.1).
Các quyền của chủ sở hữu: ngăn cản những người khác không được thực
hiện các hành vi sản xuất, sử dông, chào bán….(điều 28).
h. Giống cây trồng
Giống cây trồng phải được bảo hộ bằng hệ thống Patent hoặc mét hệ
thống riêng (điều 27.3). Mô hình bảo hộ phải tuân thủ theo quy định của công
ước bảo hộ giống cây trồng (Công ước UPOV) là mô hình phổ biến và được
coi là hữu hiệu.
m. Thiết kế bố trí
Đối tượng bảo hộ: là các thiết kế bố trí mạch tích hợp có tính nguyên
gốc.
Các quyền của chủ thể: Quyền sao chép, và quyền nhập khẩu, bán và các
hành vi phân phối khác nhằm mục đích thương mại (điều 36).
Thời hạn bảo hộ là: 10 năm
n. Thông tin không công bố (thương mại mật và dữ liệu thử nghiệm)
Đối tượng bảo hộ: là các thông tin không công bố, có giá trị thương mại
9
Bảo hộ thương hiệu luôn được các nước thành viên của Tổ chức Thương
mại thế giới (WTO) quan tâm. Bởi nó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi,
còng nh thu nhập của mỗi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trên lãnh thổ
quốc gia khác Hiện nay, vấn đề vi phạm về thương hiệu hàng hoá rất phổ
biến trên phạm vi toàn thế giới, điều đó tạo ra sự cạnh tranh không bình đẳng
giữa các doanh nghiệp. Cơ chế bảo hộ thương hiệu của Tổ chức thương mại
thế giới (WTO) nhằm ngăn chặn và đẩy lùi sự vi phạm về thương hiệu hàng
hoá trong nước thành viên của tổ chức này. Tất cả các nước thành viên của Tổ
chức thương mại thế giới (WTO)
Để có thể thực hiện được quyền bảo hộ đối với thương hiệu đòi hỏi
thương hiệu đó phải được đăng ký các dấu hiệu để nhận biết tại cơ quan nhà
nước có thẩm quyền nơi mà doanh nghiệp đó đăng ký hoạt động. Và thương
hiệu đó thuộc đối tượng điều chỉnh của hiệp định TRIPS.
Các quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu:
+ Đối với hàng hoá đã đăng ký, chủ sở hữu có toàn quyền ngăn cấm
những người không được sự đồng ý của mình sử dông trong hoạt động
thương mại các dấu hiệu trùng hoặc tương tự như nhãn hiệu hàng hoá hoặc
dịch vô đã đăng ký nhãn hiệu nếu việc sử dông nã có khả năng gây nhầm lẫn
(điều 16.1, hiệp định TRIPS).
+ Đối với nhãn hiệu nổi tiếng ngoài sự bảo hộ quy định tại điều 6bis
công ước Pari các thành viên phải từ chối hoặc huỷ bỏ đăng ký và cấm sử
dông nhãn hiệu xung đột với một nhãn hiệu đã được coi là nổi tiếng (điều
16.3 hiệp định TRIPS).
Thời hạn bảo hộ đối với thương hiệu:
+ Thời hạn bảo hộ đối với thương hiệu Ýt nhất là 7 năm và có thể gia
hạn không giới hạn số lần (điều 18, hiệp định TRIPS).
Các quy định khác.
+ Nếu việc sử dông là điều kiện để duy trì đăng ký, không được phép
12
huỷ bỏp đăng ký trước khi kết thúc 3 năm không sử dông liên tục (điều 19).
tạo của hóa chất;
c. Tên quốc tế hoặc tên khoa học của thành phần, thành phần định lượng
của hàng hoá trong trường hợp không dịch được ra tiếng việt hoặc dịch được
ra tiếng Việt nhưng không có nghĩa.
d. Tên và địa chỉ doanh nghiệp nước ngoài sản xuất, nhượng quyền sản
xuất hàng hoá.
14
KẾT LUẬN
Quyền về Sở hữu trí tuệ là một trong những quyền rất được chú trọng
trong hoạt động thương mại quốc tế. Xây dùng và hoàn thiện hệ thống văn
bản pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ đã và đang được đặt ra đối với nước ta
nh mét nhu cầu cấp thiết. Trong những năm gần đây việc xây dùng, hoàn
thiện, còng nh ban hành hoặc ký kết các điều ước song phương và đa phương
về quyền sở hữu trí tuệ luôn được coi là một trong những nghiệp vụ quan
trọng. Tháng 11/2005 quốc hội nước ta đã ban hành bộ luật về quyền sở hữu
trí tuệ đây là bước tiến quan trọng trong hoạt động lâp pháp nhằm đáp ứng tốt
hơn nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
Gia nhập Tổ chức thương mại quốc tế là gia nhập một sân chơi kinh tế
rộng lớn của toàn cầu, nơi luôn luôn tồn tại những thời cơ và thách thức.
Nước ta là đất nước có nền kinh tế đang phát triển, kinh tế còn phụ thuộc
nhiều vào các ngành sản xuất nông nghiệp thủ công, khi gia nhập tổ chức
WTO chóng ta có những lợi thế nhất định nhưng khó khăn và thử thách là rất
lớn. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, tù năng động của nền kinh tế và những điều
kiện ưu đãi về tự nhiên cũng như về vị trí địa lý chóng ta luôn hy vọng vào
một tương lai tươi sáng. Tương lai Êy phụ thuộc rất nhiều vào thế hệ trẻ
những người sẽ tiếp bước cha anh dệt nên trang sử vàng của dân téc.
Bên cạnh những khó khăn thì những lợi thế không thể phủ nhận khiến
Việt Nam có thể đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất
nước, nâng cao đời sống nhân dân. Từng bước biến các chủ trương trên lý
thuyết thành thực tế. Nắm bắt cơ hội, thu hót thêm nữa đầu tư trong và ngoài