LUẬN VĂN: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và những mâu thuẫn của nó - Pdf 12



LUẬN VĂN:
Kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa và những mâu
thuẫn của nó
Lời mở đầu Năm 1986 trở về truớc nền kinh tế nước ta là nền kinh tế sản xuất nhỏ tự cung tự

I Cơ sở lý luận:
1. Nội dung của quy luật mâu thuẫn:
1.1 . Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan và phổ biến
Phép biện chứng duy vật khẳng định mọi sự vật hiện tượng trong thế giới đều tồn tại
mâu thuẫn bên trong.
Mâu thuẫn tồn tại khách quan trong mọi sự vật và hiện tuợng của giới tự nhiên, đời
sống xã hội và tư duy của con người.
Mâu thuẫn tồn tại phổ biến ở mọi sự vật hiện tượng và tồn tại trong suốt quá trình
phát triển của mỗi sự vật.
Mâu thuẫn mang tính đa dạng. Mỗi sự vật, mỗi quá trình của thế giới khách quan tồn
tại những mâu thuẫn khác nhau. Mâu thuẫn trong tự nhiên khác trong mẫu thuẫn xã
hội và khác với mâu thuẫn trong tư duy.
1.2. Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập.
+ Đấu tranh giữa các mặt đối lập là sự tác động qua lại theo xu hướng bài trừ phủ định
khác nhau giữa các mặt đó.
+ Sự thống nhất giữa các mặt đối lập trong cùng một sự vật không tách giơì sự đấu
tranh, chuyển hoá giữa chúng. Bởi vì các mặt đối lập cùng tồn tại trong một sự vật
thống nhất như một chính thể trọn vẹn nhưng không nằm yên bên nhau mà điều chỉnh,
chỉnh hoá lẫn nhau tạo thành động lực phát triển của bản thân sự vật
+ Sự đấu tranh của các mặt đối lập được chia làm nhiều giai đoạn. Khi mới xuất hiện,
mâu thuẫn thường được biểu hiện ở sự khác nhau của hai mặt. Chỉ có hai mặt khác
nhau có liên hệ hữu cơ với nhau và phát triển trái ngược nhau thì mới hình thành bước
đầu của mâu thuẫn. Trong quá trình phát triển của mâu thuẫn sự khác nhau đó biến
thành sự đối lập và dẫn đến xung đột gay gắt. Đến một giai đoạn nào đó thì hai mặt đối
lập sẽ chuyển hoá lẫn nhau, mâu thuẫn được giải quyết. Kết quả là sự thống nhất của
hai mặt đối lập cũ bị phá huỷ, sự thống nhất của hai mặt đối lập mới dược hình thành
cùng với mâu thuẫn mới .
Ví dụ: Sự phát triển của xã hội sẽ gắn liền với sự phát triển của phương thức sản xuất.
Trong phương thức sản xuất thì lực lượng sản xuất là yếu tố động, luôn luôn vận đông
theo hướng hoàn thiện. Đến một giai đoạn nào đó thì quan hệ sản xuất hiện tại sẽ

lại tồn tại một cách biệt lập, không liên hệ với các sự vật hiện tượng khác.
Mâu thuẫn bên trong là nhan tố quyết định sự vận độngvà phát triển của sự vật và hiện
tượng. Nó là nguồn gốc, động lực bên trong của sự vận độngvà phát triển. Mâu thuẫn
bên trong không tồn tại và phát sinh tác dụng tách dời mâu thuẫn bên ngoài. Mâu
thuẫn bên ngoài có ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của sự vật.
2.2. Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản
+ Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn quy định bản chất của sự vật và hiện tượng, nó quyết
định quá trình phát triển của sự vật và hiện tượng từ khi được hình thành cho đến khi
kết thúc.
+ Mâu thuẫn không cơ bản chịu sự chi phối của mâu thuẫn cơ bản. Tuy không giữ vai
trò quyết định bản chất của sự vật và hiện tượng nhưng nó có vai trò quyết định đối
với sự vận động và phát triển của sự vật hiện tượng.
2.3. Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu
+ Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn nổi bật lên hàng đầu ở giai đoạn nhất định của quá
trình phát triển của sự vật.
+ mâu thuẫn thứ yếu là mâu thuẫn không đóng vai trò quyết định.
2.4 Mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng
+ Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa những khuynh hướng , những lực lượng xã
hội mà lợi ích căn bản trái ngược nhau , không thể điều hoà được
+ Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa những khuynh hướng những lực
lượng xã hội mà lợi ích căn bản nhất trí với nhau
3. Một số cặp phạm trù :
3.2. Nguyên nhân và kết quả
+ Nguyên nhân là sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự
vật với nhau gây ra sự bioến đổi nhất định
+ Kết quả là những biến đổi xuất hiện do tác động lẫn nhau của các mặt trong một sự
vật hoặc giữa các sự vật với nhau

+ GDP tăng hàng năm 3,9% (Trong thời kỳ 1986-1990) và 8,2% (Thời kỳ 1991-1995)
+ Nông nghiệp tăng 4,5%; công nghiệp tăng 13,5%; kim nghạch xuất khẩu tăng 20%
trong thời kỳ 1991-1995
+ Sản lượng lương thực tăng nhanh 21,5 triệu tấn (1990) lên 27,5 triệu tấn (1995)
b. Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tiến bộ
+ Tỷ trọng công nghiệp và xây dựng cơ bản trong GDP đã tăng từ 22,6% (1990) lên
30,3% (1995)
+ Tỷ trong dịch vụ từ 38,6% lên 42,5%
+ Tỷ trong nông nghiệp giảm từ 40,6% xuống 36,2%
+ Tỷ trọng kinh tế quốc doạnh trong GDP từ 29,4% lên 40,4%
3. Kiềm chế và đẩy lùi được nạn siêu lạm phát.
Trong những năm 1986-1988 nạn lạm phát đã giảm từ 3 con số xuống còn 2 con số
(Riêng năm 1993 xuống 1 con số), trong khi tăng trưởng kinh tế khá cao.
4. Đời sống nhân dân
Một bộ phận dân có mức sống khá, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 55% (1989) xuống
còn 19,9% (1993).
Những thành tựu kinh tế- xã hội đã đạt được là kết quả của đường lối đổi mới do
đảng khởi xướng và lãnh đạo. Đồng thời, đó cũng là sự phù hợp giữa ý đảng và lòng
dân.
Phần II: Nội dung nghiên cứu

A. Nền kinh tế thi trường ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
I. Tính tất yếu khách quan phải xây dựng nền kinh tế thị trường
Đất nước ta hiện nay đang ở trong thời kỳquá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây là

cũng phù hợp với yêu cầu khách quan trong giai đoạn hiện nay.
II. Vị trí và vai trò của các thành phần kinh tế
1. Thành phần kinh tế nhà nước
ở nước ta, nó ra đời do nhà nước đầu tư xây dựng và dokết quả của công cuộc cải
tạo hoà bình, công thương nghiệp tư bản… Thành phần kinh tế này lấy sở hữu nhà
nước làm nền tảng. Nó bao gồm: Các nguồn lực vật chất (nguồn tài nguyên thiên
nhiên, ngân hàng, bảo hiểm, dự trữ quốc gia, tài chính, tín dụng, kho bạc… và các
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh do nhà nước làm chủ.
Do thành phần kinh tế nhà nước nắm các cơ sở quan trọng nhất của nền kinh tế, là
chỗ dựa kinh tế của nhà nước, định hướng nền kinh tế đi theo con đường chủ nghĩa xã
hội. Vì vậy, kinh tế nhà nướcgiữ một vai trò rất quan trọng trong các thành phần kinh
tế của các nhà nước ta hiện nay.
2. Thành phần kinh tế tập thể
Thành phần kinh tế này dựa trên sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất. Những người lao
động góp vốn vào làm ăn tập thể dưới các hình thức là các hợp tác xã. Sự hình thành
của kinh tế tập thể phù hợp với yêu cầu khách quan của xã hội hiện nay là hợp tác kinh
doanh cùng có lợi. Đây là sự phát triển tất yếu của xã hội. Nhưng nó lại là sự xuất hiện
ngẫu nhiên của một cá nhân nào đó đứng ra thành lập hợp tác xã. Cá nhân này sẽ đi
kêu gọi, vận động mọi người tham gia vào hợp tác xã của mình dưới hình thức đóng
góp về vốn và sức lực. Lợi ích của các xã viên sẽ được hưởng theo cổ phần đóng góp
và sức lao động bỏ ra. Sự hình thành hợp tác sẽ mang tính tất yếu vì: Trong xã hội hiện
nay có một bộ phận nông dân có tích luỹ được một số vốn. Nhưng số vốn đó còn quá
nhỏ để mở một loại hình kinh doanh (thành lập hợp tác xã), trong khi đó họ lại muốn
số tiền tích luỹ của mình có thể được lưu động và sinh lãi. Do đó sự xuất hiện của hợp
tác xã sẽ tạo điều kiện cho họ tham gia.
3. Thành phần kinh tế cá thể và tiểu chủ
Thành phần kinh tế nay dựa trênchế độ tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất và lao động
của chính bản thân họ. Nước ta đi từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn theo định hướng xã
hội chủ nghĩa. Cho nênkinh tế cá thể và tiểu chủ của nước ta còn chiếm một tỷ trọng


riêng nhưng hoạt động kinh doanh trong môi trường chung, cùng chịu tác động của các
nhân tố, các quy luật thị trường. Đồng thời các thành phần kinh tế tác động với nhau
cả tích cực và tiêu cực. Sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần dẫn đến sự tồn tại của
các giai cấp hoặc các tầng lớp khác nhau. Tổng hợp toàn bộ các giai cấp hoặc tầng lớp
xã hội đó tạo thành cơ cấu xẫ hội- giai cấp.
2. Sự mâu thuẫn
Mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế làm cho cạnh tranh trở thành tất yếu. Cạnh
tranh là động lực quan trọng để cải tiến kỹ thuật, phát triển lực lượng sản xuất. Tuy
nhiên, mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế, đặc biệt là mâu thuẫn giữa một bên là
kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể và kinh tế tư bản nhà nước với một bên là kinh tế tự
phát tư sản và tiểu tư sản của kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế cá thể là không thể điều
hoà.
Tóm lại, trong nền kinh tế tồn tại nhiều thành phần, sự thống nhất và mâu thuẫn
giữa chúng là khách quan. Sự thống nhất và mâu thuẫn làm cho các thành phần kinh tế
vừa hợp tác, vừa cạnh tranh. Trong quá trình cạnh tranh và hợp tác, từng thành phần
kinh tế tồn tại với tư cách là đơn vị sản xuất hàng hoá, đều đóng góp vào sự phát triển
chung của nền kinh tế và cần có sự quản lý của nhà nước nhằm đảm bảo nền kinh tế
phát triển nhanh, đem lại thắng lợi cho chủ nghĩa xã hội. Các thành phần kinh tế cần
được thừa nhận và tạo điều kiện để chúng tồn tại, phát triển. Đồng thời, các thành phần
kinh tế cần được bình dẳng trên mọi phương diện.

IV. Mâu thuẫn giữa kinh tế thị trường và mục tiêu xây dựng con người xã hội
chủ nghĩa.
Kinh tế thị trường là một loại hình kinh tế mà trong đó các mối quan hệ kinh tế
giữa người với người được biểu hiện thông qua thị trường, tức là thông qua việc mua
bán, trao đổi hàng hoá tiền tệ thị trường. Trong kinh tế thị trường, các quan hệ hàng
hoá tiền tệ phát triển, mở rộng bao quát trên mọi lĩnh vực có ý nghĩa phổ biến đối với

V. Giải pháp khắc phục khó khăn trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị
trường
Nền kinh tế nước ta trong giai đoạn hiện nay có 3 loại hình sở hữu: sở hữu toàn
dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân. Các loại hình sở hữu này đã hình thành nên các
thành phần kinh tế. Để các loại hình kinh tế này hoạt động theo định hướng xã hội chủ
nghĩa thì đảng và nhà nước ta đã đưa ra một số giải pháp sau đối với các thành phần
kinh tế.
1. Thành phần kinh tế nhà nước:
+ Phát huy vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để nhà nước
định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế
+ Các doanh nghiệp nhà nước giữ vững những vị trí then chốt, phải đi đầu trong việc
ứng dụng tién bộ khoa học và công nghệ, nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu
quả kinh tế xã hội và chấp hành pháp luật. Phải hoàn thành việc củng cố, sắp xếp, điều
chỉnh cơ cấu, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động.
+ Đổi mới cơ chế quản lý, nhất là phương thức đầu tư vốn của nhà nước cho các doanh
nghiệp. Phân biệt quyền của chủ sở hữu và quyền kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Đổi mới cơ chế chính sách đối với các doanh nghiệp nhà nước và theo hướng xoá
bao cấp, cạnh tranh bình đẳng, tự chịu trách nhiệm, nộp đủ thuế và có lãi.
2. Thành phần kinh tế tập thể:
+ Khuyến khích phát triển với nhiều hình thức hợp tácđa dạng, trong đó hợp tác xã là
nòng cốt
+ Phát triển hợp tác xã kinh doanh tổng hợp đa nghành hoặc chuyên nghành
+ Nhà nước giúp hợp tác xã đào tạo cán bộ, ứng dụng khoa học, công nghệ thông tin
mở rộng thị trường, xây dựng các quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã, giải quyết nợ.
+ Khuyến khích tích luỹ phát triển vốn của hợp tác xã
3. Thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ:
+ Có vị trí quan trọng, lâu dài cả ở nông thôn và thành thị

- Tổng GDP năm 2005 tăng gấp 2 lần năm 1995, với tốc độ tăng trưởng GDP bình
quân hàng năm là 7,5%; trong đó nông, lâm, ngư nghiệp tăng4,3%; công nghiệp và
xây dựng tăng 10,8%; dịch vụ tăng 7,5%
- Giá trị sản xuất tăng hàng năm: nông, lâm, ngư nghiệp là 4,8%; công nghiệp 13%;
dịch vụ 7,5%
- Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 16% năm.
+ Đến 2005 cơ cấu các nghành trong GDP là: nông, lâm, ngư nghiệp 20-21%, công
nghiệp và xây dựng 38-39%, dịch vụ 41-42%, cơ cấu lao động tương ứng là: 56-57%;
20-21%; 23-24%
B. Thương nghiệp quốc doanh trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta
hiện nay.
I. Sự hình thành và phát triển của các doanh nghiệp thương mại nhà nước.
Như chúng ta đã biết, sự phát triển của lực lượng sản xuất đã làm xuất hiện phân
công lao dộng xã hội, đưa đến một tất yếu có sự trao đổi hàng hoá (H-H). Phân công
lao động xã hội phát triển và chế độ tư hữu ra đời đã thúc đẩy trao đổi hàng hoá ngày
càng mở rộng, dẫn đến hình thành tiền tệ cùng với nó là lưu thông hàng hoá (H-T-H).
Chuyên môn hoá trong sản xuất phát triển, khối lượng sản phẩm đem ra trao đổi
ngày càng tăng, sinh ra nhu cầu chuyên môn hoá việc lưu thông hàng hoá. Một số
người hoặc tổ chức tách ra khỏi việc sản xuất, chuyển sang hoạt động chuyên ứng tiền
ra mua hàng hoá để bán lại nhằm mục đích thu lợi nhuận từ việc mua bán này tức là
làm nghề kinh doanh hàng hoá hay hoạt động thương mại. Nghành thương mại ra đời
là nấc thang phát triển kế tiếp, cao hơn của lưu thông hàng hoá, là kết quả trực tiếp của
sự phát triển lưu thông hàng hoá. Đó chính là một nghành kinh tế quốc dân thuộc khu
vực sản xuất vật chất nhưng không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất mà có chức
năng phục vụ lưu thông hàng hoá thông qua việc trao đổi sản phẩm dưới hình thức
mua bán.
Đối với nước ta, một nước đang phát triển vào loại nghèo của thế giới lại trải qua

nhu cầu tối thiểu của nhân dân lại rất thiếu. Sở dĩ có tình hình đó là vì các doanh
nghiệp thương mại hiện nay chủ yếu chạy theo mục tiêu lợi nhuận nên họ tập trung
phục vụ ở nơi đông dân cư và những người giàu có, có sức mua và nhu cầu cao, còn
những nơi ít dân, thưa dân, dân nghèo, không có tiền như nông thôn, miền núi, vùng
sâu, vùng xa thì ngay cả những nhu cầu thiết yếu cũng không được đáp ứng do giá vận
tải đẩy lên quá cao.
Chính vì những nguyên nhân trên nên việc hình thành các doanh nghiệp nhà nước
là một yếu tố cần thiết. Việc ra đời các doanh nghiệp nhà nước sẽ cung cấp cho người
tiêu dùng những vật phẩm thiết yếu, nhất là nhóm dân cư nghèo, ít tiền ở vùng xa,
vùng sâu, vùng núi cao như muối, muối iốt, sách vở cho học sinh, quần áo thuốc
mem…Ngoài ra nhà nước còn có thể sử dụng các doanh nghiệp thương mại này để
thực hiện chức năng điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và chi phối các hoạt động trên
thương trường. Bên cạnh đó, chúng ta cần phải có nhiều tập đoàn kinh tế đủ mạnh để
nối ra thị trường bên ngoài. Các công ty xuất nhập khẩu rất khó thực hiện các hoạt
động xuất khẩu. Vì vậy việc hình thành các tập đoàn thương mại quốc tế gia để vươn
ra thị trường nước ngoài là một yêu cầu rất cơ bản ở nước ta hiện nay. Các doanh
nghiệp tư nhân không thể đảm đương được vai trò chủ đạo trong ngoại thương. Việt
Nam đang từng bước hội nhập xu thế tự do hoá thương mại toàn cầu mà bước khởi đầu
quan trọng là việc tham gia khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) để chuẩn bị gia
nhập diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á- Thái Bình Dương (APEC). Để có một chỗ đứng
trong thị trường quốc tế, nhà nước cần đứng ra tổ chức các tập đoàn thương mại quốc
gia làm cầu nối cho các doanh nghiệp hội nhập vào thị trường thế giới.
II. Thực trạng của các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam trong giai đoạn hiện
nay.
1. Cơ cấu tổ chức:
Bộ máy quản lý doanh nghiệp nhà nước nói chung và doanh nghiệp thương mại
nhà nước nói riêng còn quá cồng kềnh, chi phí hành chính và tiếp khách quá lớn. Đội

ganh đua để thể hiện khả năng của mình. Đây là lý do dẫn đến đội ngũ cán bộ nhân
viên trong các doanh nghiệp nhà nước ngày càng sa sút và yếu kém. Điều này làm cho
các doanh nghiệp nhà nước không thực hiện được vai trò và nhiệm vụ của mình trong
điều kiện nền kinh tế thị trường.
2. Cơ chế hoạt động.
Sự hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thương mại nhà nước còn bị
bó chặt trong một cơ chế tài chính xơ cứng. Cơ chế khoán, đặc biệt là “khoán trắng”và
khoán “mặc kệ”đã làm lu mờ vai trò và uy tín của thương nghiệp quốc doanh.
Các donh nghiệp, muốn sản xuất kinh doanh chủ động và đem lại hiệu quả kinh tế
cao thì trong cơ cấu vốn bao giờ cũng phải chiếm tỷ lệ thích ứng. Nhưng do suy nghĩ
cũ của thời bao cấp còn đè nặng cho nên họ thường ỷ lại, trông chờ bên trên. Khi đã
có vốn lưu động dù là phải vay hay có sự đóng góp của cán bộ nhân viên thì việc sử
dụng vốn đó lại không đúng mục đích.
Thực chất của khoán kinh doanh là cho cán bộ công nhân viên thuê cơ sở vật chất
và biển hiệu quốc doanh với giá thấp hơn cho tư nhân thuê. Nhà nước giao khoán cửa
hàng, quầy hàng và cung ứng hàng hoá cho người nhận khoán, lúc đầu là 70/30, 70 là
hàng công ty giao khoán; 30 là hàng tự chạy của người nhận khoán. Nhưng dần dần
nguồn hàng tập trung của công ty không còn, tỷ lệ bên trên sẽ bị đảo ngược lại; 70/30,
thậm chí không có hàng cung ứng, đơn vị nhận khoán phải lo tất cả. Trong tình hình
như vậy, đơn vị nhận khoán lợi dựng cửa hàng và biển hiệu quốc doanh để thả sức bóp
chẹt người tiêu dùng và có khi còn có cả những loại hàng không đảm bảo chất lượng.
Từ đó, uy tín của thương nghiệp quốc doanh cũng sẽ bị lu mờ.
3. Tính độc lập tự chủ của các doanh nghiệp
Thực tế cho thấy chừng nào mỗi cơ quan chủ quản là cơ sở còn trực tiếp quản lý
một số doanh nghiệp thì sự hoạt động của doanh nghiệp bị chi phối nhiều mặt, mất
tính độc lập.
Để tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra bình

thương mại và phương thức hoạt động của chúng
+ Về hệ thống doanh nghiệp chuyển từ hai loại hình doanh nghiệp là quốc doanh và
hợp tác xã mua bán sang nhiều loại hình doanh nghiệp thương mại : các liên doanh
,các doanh nghiệp nhà nước hợp tác xã , doanh nghiệp tư nhân …
Đến nay hầu hết các doanh nghiệp nông – công nghiệp quy mô lớn đều trực tiếp tham
gia hoạt động thương mại kể cả xuất nhập khẩu trực tiếp và có hàng trăm đại lý bán
hàng trên cả nước . Điều này vừa tạo điều kiện cho các nhà sản xuất tiếp cận thị trường
, điều chỉnh hoạt động trên cơ sở nhu cầu thị trường vừa tạo ra sự cạnh tranh gay gắt ,
bắt buộc các doanh nghiệp thương mại chuyên nghiệp phải vươn lên để chiếm lĩnh thị
trường .
Trong hệ thống doanh nghiệp cũng có sự khác biệt nổi bật .
Sự kết hợp hoạt động đan xen giữa các loại hình doanh nghiệp thương mại trên thị
trường gắn với từng nghành hàng .
Việc hoà nhập mở cửa biên giới đã xuất hiện các hình thức giao lưu, liên kết có
tính quốc tế trong việc cung ứng, tiêu thụ hàng hoá dịch vụ cho nền kinh tế quốc dân.
+ Về phương thức hoạt động: cũng có những thay đổi cơ bản theo cơ chế thị trường,
chấp nhận cạnh tranh, trừ một số mặt hàng như điện, nước…
2. Sắp xếp lại hệ thống doanh nghiệp thương mại nhà nước
+ Nhận thức rõ vai trò chủ đạo của doanh nghiệp thương mại nhà nước trong nghành
thương mại. Nắm giữ một số khâu, một số nghành hàng quan trọng. Đối với những
nghành hàng còn lại cần huy động sức mạnh tổng hợp của các loại doanh nghiệp trên
cơ sở cạnh tranh.
Từng bước xoá bỏ độc quyền của doanh nghiệp thương mại nhà nước trong một số
nghành hàng không cần thiết.
+ Nhanh chóng thực hiện cổ phần hoá một số doanh nghiệp thương mại nhà nước.
Không để cho các giám đốc tự nguyện thực hiện cổ phần hoá mà nhà nước lựa chọn,
khi thấy cần ra quyết định bắt buộc


Phần III. Kết luận
Đại hội lần thứ VI của đảng đã chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần là hoàn toàn đúng đắn và sáng suốt bởi đường lối đó xuất phát từ trình
độvà tính chất của lực lượng sản xuất không đồng đều nên không thể nóng vội và nhất
là xây dựng quan hệ sản xuất. Mở ra nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đã khơi
dậy tiềm năng của sản xuất, khơi dậy năng lực sáng tạo, chủ động của các chủ thể lao
động trong sản xuất kinh doanh thúc đẩy sản xuất phát triển. Do đó nền kinh tế nước ta
thực sự được đổi mới đạt được những thành tựu to lớn: Từ một nước đói kém, cơ sở
vật chất nghèo nàn, kỹ thuật lạc hậu đến nay trở thành một nước không chỉ đủ ăn mà
còn dư thừa, xuất khẩu ra nước ngoài.
VD: Trong nông nghiệp như lúa gạo, cà phê…
Trong may mặc: Quần áo, lụa tơ tằm…
Trong ngư nghiệp: cá tra và cá ba sa.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được đó thì chúng ta không thể lơ là, mất cảnh

Đồng chủ biên: PGS. TS. Trần Văn Chử
TS. Lê Ngọc Tòng
NXB: Lao động- 2000
5. Một số nhận thức mới về con đường XHCN của Việt Nam
Đồng chủ biên: PTS. Cao Thái
PTS. Đào Duy Quát
NXB: Tư tưởng- Văn hoá 1992
6. Văn kiện đại hội đảng VIII, IX


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status