A ) LỜI NÓI ĐẦU
Ở Việt Nam, trước khi có BLDS 1995, pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng mới chỉ đề cập trong một số văn bản hướng dẫn của Toà án nhân dân tối cao
như Thông tư số 173/ TANDTC ngày 23/3/1972 hướng dẫn xét xử về bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng; Thông tư số 03/TANDTC ngày 05/04/1983 hướng dẫn giải quyết một số vấn đề về
bồi thường thiệt hại trong tai nạn ô tô. Cùng với sự ra đời của BLDS 1995 và đến nay là BLDS
2005, các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã được ghi nhận một
cách tương đối đầy đủ, số lượng các văn bản hướng dẫn về vấn đề bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng đã tăng lên đáng kể, tạo ra cơ sở pháp lý cho các Toà án trong công tác xét xử những
tranh chấp liên quan tới trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Trong đời sống xã
hội, năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân là vấn đề được
pháp luật điều chỉnh, song lại chịu nhiều ảnh hưởng của các quan hệ đạo đức, truyền thống,
phong tục tập quán. Hơn nữa, các quy định của pháp luật nước ta về trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng chưa có sự gắn kết với các quy định trong những phần khác của BLDS
gây ra tình trạng khó áp dụng luật trong thực tiễn tại các Toà án, nhất là các vụ việc có liên quan
đến xác định năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân theo hợp đồng và ngoài
hợp đồng. Với nhu cầu cấp bách và tầm quan trọng như vậy, nên em chủ yếu tập trung làm rõ
một khía cạnh của vấn đề về chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:“ Năng lực chịu
trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân do gây thiệt hại ngoài hợp đồng ”.
B ) GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I) Lý luận chung về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng của cá nhân :
1 ) Giải thích một số khái niệm :
1.1 ) Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân :
Căn cứ vào khoản 1 Điều 14 BLDS năm 2005 quy định: “Năng lực pháp luật dân sự của
cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự. ”
1.2 ) Năng lực hành vi dân sự của cá nhân :
Căn cứ vào Điều 17 BLDS năm 2005 quy định: “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là
khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.”
1.3 ) Trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng :
Trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng là trách nhiệm của người có hành vi trái pháp luật gây
tượng bị xâm hại. Khi xác định trách nhiệm của chủ thể bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng,
cần làm rõ ba nhóm chủ thể: chủ thể trực tiếp gây ra thiệt hại; chủ thể bị thiệt hại và chủ thể có
trách nhiệm bồi thường thiệt hại mặc dù họ không phải là người gây ra thiệt hại.
Ngoài ra, để làm rõ thêm những đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi
gây thiệt hại trái pháp luật, việc phân biệt giữa bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng có một số đặc điểm khác biệt sau:
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng là trách nhiệm dân sự phát sinh do
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ theo hợp đồng. Đặc điểm
của loại trách nhiệm này là giữa hai bên có quan hệ hợp đồng và thiệt hại phải do hành vi không
thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trong hợp đồng. Trong trường hợp
các bên có quan hệ hợp đồng nhưng thiệt hại xảy ra không liên quan đến việc thực hiện nghĩa
vụ theo hợp đồng, trách nhiệm này là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý bắt
buộc phải thực hiện, các bên chỉ có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường.
Ngược lại, trách nhiệm bồi thường do vi phạm hợp đồng thì các bên có thể thỏa thuận, trừ
trường hợp các bên có quy định khác.
- Việc thực hiện nhiệm vụ trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thông
thường sẽ làm chấm rứt nghĩa vụ, những đối với nghĩa vụ trong hợp đồng thì việc bồi thường
thiệt hại ngược lại không làm giải phóng ngươi có nghĩa vụ khỏi trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ
một cách thực tế ( nghĩa vụ giao vật: tại Điều 303 BLDS 2005 )
- Theo quy định của pháp luật về hợp đồng, mức bồi thường có thể vượt quá mức thiệt hại
thực tế có thể xảy ra, còn mức bồi thường theo quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng thì chỉ có thể thấp hơn hoặc bằng với mức thiệt hại thực tế xảy ra .
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh ngay khi phát sinh nghĩa vụ
bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật mà không dựa trên cơ sở sự tự do thoả thuận
giữa các bên như trong quan hệ hợp đồng.
- Trong hợp đồng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể phát sinh do lỗi của người khác
còn trong quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trách nhiệm có thể phát sinh cả khi
không có lỗi nếu như pháp luật có quy định
- Một điểm quan trọng thể hiện mối quan hệ giữa trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài
Việc quy định về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân là thật sự rất
cần thiết. Việc xác định ai là người phải bồi thường thiệt hại do cá nhân là người đã thành niên,
người chưa thành niên hoặc là người mất năng lực hành vi dân sự khi họ gây thiệt hại là mục
đích điều chỉnh của pháp luật. Một mặt, để xác định rõ chủ thể có trách nhiệm phải bồi thường
thiệt hại để quy trách nhiệm cho người đó, mặt khác còn là căn cứ xác định tư cách chủ thể
trong tố tụng dân sự, ai là bị đơn dân sự phải bồi thường theo trách nhiệm dân sự trước Toà án
trong trường hợp cá nhân gây thiệt hại cho người khác?. Nó còn có ý nghĩa bảo vệ lợi ích của
người bị thiệt hại, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật. BLDS chỉ quy định về năng lực
chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân mà không quy định về năng lực bồi thường
của các chủ thể khác. Bởi vậy, các chủ thể khác đương nhiên được coi là có năng lực chịu trách
nhiệm bồi thường thiệt hại. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân theo
pháp luật hiện hành được quy định tại Điều 606 BLDS 2005 và hướng dẫn tại tiểu mục 3 mục I
NQ 03/2006/HĐTP - TANDTC ngày 8/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối
cao, dựa trên mức độ năng lực hành vi, tình trạng tài sản, khả năng bồi thường của cá nhân và
xác định cá nhân gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại theo các
mức độ năng lực hành vi dân sự khác nhau. Pháp luật căn cứ vào những điều kiện về độ tuổi và
sự phát triển của trí tuệ, nhận thức ; căn cứ vào khả năng tạo lập tài sản của cá nhân để có cơ sở
3
xác định trong trường hợp cá nhân khi gây thiệt hại cho người khác, thì trách nhiệm bồi thường
được thực hiện với những mức độ nào.
II) Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân do
gây thiệt hại ngoài hợp đồng theo pháp luật hiện hành:
Xuất phát từ năng lực chủ thể của cá nhân khi tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự,
Điều 606 BLDS 2005 quy định năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
phụ thuộc vào mức độ năng lực hành vi, tình trạng tài sản và khả năng bồi thường thiệt hại của
cá nhân. Như vậy, năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân không đồng nhất
đối với năng lực hành vi dân sự của cá nhân. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của
cá nhân có những đặc điểm hoàn toàn khác biệt so với năng lực hành vi dân sự của cá nhân.
Nhưng khi xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân có hành vi trái pháp luật gây
thiệt hại ngoài hợp đồng thì không thể không căn cứ vào khả năng nhận thức của cá nhân đó,
pháp luật của người từ dưới 15 tuổi và người mất năng lực hành vi dân sự gây ra thì sẽ do cha
mẹ của họ có trách nhiệm bồi thường bằng tài sản của cha mẹ. Trong trường hợp này người gây
ra thiệt hại trực tiếp và chủ thể có trách nhiệm bồi thường là khác nhau. Những người ở độ tuổi
4
này không có năng lực hành vi tố tụng dân sự và không thể tự mình có khả năng thực hiện
quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự. Vì vậy việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người ở độ
tuổi này tại tòa án phải do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện.
Trước hết đối với những người dưới 15 tuổi theo quy định tại Điều 19, Điều 20 BLDS
2005 về năng lực chủ thể của cá nhân thì điều kiện của cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy
đủ là cá nhân đó phải thỏa mãn hai yếu tố là độ tuổi trưởng thành( từ 18 tuổi trở lên), và yếu tố
nhận thức trí lực( bộ não phát triển hoàn toàn bình thường). Điều 20 BLDS 2005 quy định
người dưới 15 tuổi chưa thỏa mãn điều kiện thứ nhất về độ tuổi trưởng thành nhưng được hiểu
là đã thỏa mãn điều kiện thứ hai về nhận thức trí lực là những người có bộ não phát triển hoàn
toàn bình thường bao gồm hai nhóm:
- Cá nhân chưa đủ 6 tuổi không thể nhận thức làm chủ được hành vi của mình được coi là
những người không có năng lực hành vi dân sự . Họ không thể tự mình xác lập giao dịch dân sự
vì họ chưa đủ lý trí để nhận biết những hành vi của mình và hậu quả của những hành vi đó. Mọi
giao dịch của họ đều phải được người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện hoặc đồng ý.
Như vậy cá nhân không có năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại cho người khác thì cha mẹ là
những người đại diện đương nhiên của họ với tư cách bị đơn dân sự trước tòa.
- Cá nhân từ đủ 6 tuổi đến dưới 15 tuổi là những người có năng lực hành vi dân sự một
phần, những người thuộc lứa tuổi này khả năng nhận thức của họ đang dần hoàn thiện nhưng
vẫn còn nhiều hạn chế, họ chỉ có thể xác lập thực hiện quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm trong
một giới hạn nhất định do pháp luật dân sự quy định. Những giao dịch phù hợp nhu cầu sinh
hoạt và phù hợp với lứa tuổi, tuy pháp luật không quy định rõ là những giao dịch nào nhưng
những giao dịch dân sự phục vụ cho nhu cầu đó có thể hiểu đó là những giao dịch có giá trị nhỏ
phục vụ cho nhu cầu vui chơi, học tập… ngoài ra những giao dịch khác khi họ xác lập thực hiện
phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý. Phải chăng vì thế mà sự nhìn nhận của những
nhà làm luật đối với những người trong độ tuổi này đều rất đặc biệt, ngay cả với các quy định
của pháp luật hình sự cũng thể hiện thái độ giảm nhẹ, khoan hồng đối với những người trong độ
án phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các Thẩm phán thụ lý vụ án, có ý kiến cho rằng cha mẹ
của người chưa thành niên dưới 15 tuổi phải bồi thường thiệt hại do con gây ra là căn cứ vào
yếu tố lỗi của cha mẹ đã không quản lý giám sát con mình mà để họ vi phạm pháp luật gây ra
thiệt hại thì cha mẹ phải bồi thường. Hiểu như vậy là không đúng bản chất của những quy định
pháp luật mà chỉ dựa trên cơ sở suy đoán. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cha mẹ do con
dưới 15 tuổi gây ra là một trách nhiệm pháp lý không cần điều kiện lỗi của cha mẹ trong việc
quản lý giám sát hành vi của con mình. Quy định này có ý nghĩa không chỉ về mặt lý luận mà
còn có ý nghĩa cả về mặt thực tiễn nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại
được bồi thường theo nguyên tắc toàn bộ và kịp thời. Lấy tài sản riêng của con để bổ sung cho
phần cha mẹ còn thiếu cũng không có ý nghĩa bồi thường là trách nhiệm bồi thường thuộc về
người con hoặc hiểu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp này là trách nhiệm theo
phần. Những cách hiểu như vậy đều không đúng với tinh thần của các nhà làm luật. Đối với tài
sản của con để bồi thường phần còn thiếu hoặc toàn bộ thiệt hại cha mẹ không đủ tài sản hoặc
không có tài sản để bồi thường trong trường hợp này không thể được hiểu là nghĩa vụ bổ sung.
Bởi vì chủ thể có nghĩa bổ sung theo quy định của pháp luật là chủ thể đó phải thực hiện nghĩa
vụ bằng tài sản của mình, trong trường hợp người có nghĩa vụ chính không thực hiện hoặc
không thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ với bên có quyền khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ. Ở
đây, theo Điều 606 BLDS 2005 quy định về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của
cá nhân, thì không phải con dưới 15 tuổi là chủ thể có nghĩa vụ, trách nhiệm phải thực hiện mà
trách nhiệm bồi thường thiệt hại luôn luôn trực tiếp thuộc về cha mẹ, trong quan hệ bồi thường
thiệt hại thì cha mẹ của người dưới 15 tuổi có trách nhiệm bồi thường, còn người con trực tiếp
gây thiệt hại không phải là chủ thể trong quan hệ bồi thường thiệt hại này. Việc lấy tài sản của
con dưới 15 tuổi trực tiếp gây thiệt hại để khắc phục cho phần còn thiếu là nhằm bảo vệ kịp thời
quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại. Cha mẹ với tư cách là người quản lý tài sản
của người con chưa thành niên dùng sản của con để bồi thường phần còn thiếu không có nghĩa
là trách nhiệm bồi thường được chuyển sang cho con đồng thời cũng không làm chấm dứt trách
nhiệm bồi thường thiệt hại của cha mẹ. Dù cha mẹ có dùng tài sản của con để bồi thường cho
phần còn thiếu, thì cha mẹ vẫn là chủ thể có trách nhiệm bồi thường, trong trường hợp này cũng
không có nghĩa là triệt tiêu trách nhiệm của cha mẹ và người con cũng không có tư cách là thực
hiện nghĩa vụ bổ sung. Giả sử nếu người con không có tài sản riêng để thực hiện nghĩa vụ cho
sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc
không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu
người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản
của mình để bồi thường”.Vấn đề này đặt ra trong những trường hợp người dưới 15 tuổi và
người mất năng lực hành vi dân sự không còn cha mẹ hoặc còn cha mẹ nhưng cha mẹ bị mất
năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự…thì ai là người có trách nhiệm
phải bồi thường? Trước tòa ai sẽ có tư cách là bị đơn dân sự, ai là người đại diện hợp pháp cho
người gây ra thiệt hại?
Giám hộ là một vấn đề có ý nghĩa thiết thực trong đời sống xã hội. Lần đầu tiên ở nước ta,
BLDS đã quy định một cách đầy đủ và chi tiết về vấn đề giám hộ như: Đối tượng cần được
giám hộ, quyền và nghĩa vụ của người giám hộ, giám hộ đương nhiên, giám hộ cử, về việc thay
đổi, chuyển giao và chấm dứt giám hộ...Theo Điều 58 BLDS 2005 “Giám hộ là việc cá nhân, tổ
chức( sau đây gọi chung là người giám hộ) được pháp luật quy định hoặc được cử để thực hiện
việc chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực
hành vi dân sự(sau đây gọi chung là người được giám hộ)”. Việc quy định chế định giám hộ là
hình thức bảo vệ pháp lý cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự. Người
được giám hộ theo quy định tại khoản 2 Điều 58 BLDS 2005 bao gồm:
“a)Người chưa thành niên không còn cha, mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc cha mẹ
đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị tòa án hạn chế quyền
của cha ,mẹ hoặc cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó và
nếu cha , mẹ có yêu cầu;
b) Người mất năng lực hành vi dân sự .”
Theo quy định tại khoản 3 Điều 58 BLDS thì: “Người chưa đủ mười lăm tuổi được quy
định tại điểm a khoản 2 Điều này và người được quy định tại điểm b khoản 2 Điều này phải có
7
người giám hộ”. Người giám hộ thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật
nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được giám hộ, do đó họ cũng phải gánh chịu
những trách nhiệm pháp lý trong khi thực hiện việc giám hộ của mình, trong đó có trách nhiệm
bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người được giám hộ gây ra. Họ sẽ có tư cách
bị đơn dân sự thay cho người được giám hộ trước Tòa án.
người giám hộ phải bồi thường thiệt hại bổ sung bằng tài sản của mình nếu người giám hộ có
lỗi khi thực hiện việc giám hộ. Khi đó, nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi
trong việc giám hộ thì họ cũng không phải lấy tài sản của mình để bồi thường khi người được
giám hộ gây thiệt hại.
1.2.2) Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người được
giám hộ là người mất năng lực hành vi dân sự gây ra :
Người mất năng lực hành vi dân sự đang do cha mẹ chăm sóc, quản lý, giáo dục mà gây
thiệt hại thì cha mẹ phải bồi thường bằng tài sản của mình. Trong trường hợp họ được giám hộ
theo quy định tại Điều 62 BLDS 2005 thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại được xác định :
- Người mất năng lực hành vi dân sự đã có vợ (hoặc có chồng), thì người vợ (hoặc chồng)
có đủ điều kiện là người giám hộ được lấy tài sản riêng của người mất năng lực hành vi dân sự
8