Một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động thể dục ngoại khóa cho sinh viên lớp sư phạm ngữ văn khóa 2014 - Pdf 27

LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo đặc biệt thầy Trần Văn Hưng
đã tận tình giúp đỡ tôi trong thời gian làm chuyên đề này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến các giáo viên bộ môn Thể dục,cùng các
bạn sinh viên đã tạo điều kiện cho tôi thu thập số liệu trong suốt thời gian qua.
Trong quá trình làm chuyên đề này sẽ không tránh khỏi những thiếu
sót,tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô để chuyên
đề này được hoàn chỉnh và tốt hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn và kính chúc quý thầy cô sức khỏe, hạnh phúc
và thành đạt !
Buôn Ma Thuột, ngày 20/04/2015
DANH MỤC VIẾT TẮT
Viết tắt Thuật ngữ tiếng Việt
GDTC
TDTT
TD
TDNĐ
TDDC
BCH
TW
GD&ĐT
CHXHCN
CNH-HĐH
XHCN
RLTC
LVĐ
NTĐ
Giáo dục thể chất
Thể dục thể thao
Thể dục
Thể dục nhịp điệu

Nguyên 22
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Thể dục thể thao (TDTT) là một mặt không thể thiếu trong sự phát triển
nguồn lực, đặc biệt giáo dục toàn diện cho con người về sức khỏe, phẩm chất,
thẩm mĩ, trí tuệ để hướng tới mục đích “Sự cường tráng về thể chất là nhu cầu
của bản thân con người”. Mục tiêu chủ yếu của luyện tập thể dục nhằm nâng
cao sức khỏe, kéo dài tuổi thọ, xây dựng con người mới làm phong phú đời
sống văn hóa, tinh thần của mọi người, giúp nâng cao năng suất lao động và
học tập tốt hơn.
Nhất là chúng ta đang sống trong thế kỉ XXI, giai đoạn mà đất nước ta
đang chuyển mình khởi sắc và giáo dục thể chất là một trong những nhân tố
quan trọng trong hệ thống giáo dục Đại học, Cao đẳng,trung học chuyên
nghiệp là một môn học bắt buộc với mục đích giáo dục toàn diện, đồng thời là
trách nhiệm của toàn xã hội, của tất cả các cấp, các ngành, các đoàn thể. Đặc
biệt, đối với lứa tuổi sinh viên đây là giai đoạn củng cố về sức khỏe, trí tuệ,
tinh thần để các em sẵn sàng bước vào cuộc sống mới.
Nhằm đào tạo, bồi dưỡng và phát triển toàn diện thế hệ trẻ Việt Nam -
những chủ nhân tương lai của đất nước trở thành những người có đầy đủ trí
tuệ, sức khỏe, có đức, có tài đáp ứng xu thế phát triển của đất nước và quốc
tế. Do vậy, công tác giáo dục thể chất (GDTC) ở trường học các cấp góp phần
quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu xây dựng con người mới, phát triển
cao về trí thức, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về
đạo đức, sẵn sàng bảo vệ và hi sinh vì Tổ quốc.
Việc nâng cao chất lượng Giáo dục thể chất cho sinh viên dựa trên cơ
sở hoàn thiện về kỹ năng kỹ xảo và các tố chất vận động cho các bạn. Chính
vì vậy việc tìm tòi phương pháp mới và các cơ sở khoa học để nâng cao các tố
chất thể lực cho các em là điều mà những người làm công tác giáo dục thể
chất đặc biệt quan tâm.
1

Những ảnh hưởng xấu. Khả năng vận động cơ thể sinh viên cũng tuân theo
những đặc điểm lứa tuổi. Giai đoạn thích nghi, trạng thái ổn định.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu đề tài là: “ Một số giải pháp nhằm nâng coa hoạt động
thể dục ngoại khóa cho sinh viên lớp sư phạm Ngữ văn khóa 2014 ”
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu chuyên đề tốt nghiệp chúng tôi tiến hành
giải quyết hai nhiệm vụ sau:
Nhiệm vụ 1: Đánh giá hoạt động thể dục ngoại khóa cho sinh viên lớp sư
phạm Ngữ văn Khóa 2014 trường Đại học Tây Nguyên.
Nhiệm vụ 2: Một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động cho sinh viên lớp
sư phạm Ngữ văn Khóa 2014 trường Đại học Tây Nguyên.
3. Những đóng góp của đề tài
Qua nghiên cứu cơ sở lý luận tiến hành phỏng vấn đề tài: Một số giải
pháp nhằm nâng cao hoạt động thể dục ngoại khóa cho sinh viên lớp sư
phạm Ngữ Văn Khóa 2014 Trường Đại học Tây Nguyên.
4. Cấu trúc luận của luận văn
Ngoài phần mở đầu, tài liệu tham khảo gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả và thảo luận
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Mục tiêu, nhiệm vụ GDTC trong trường Đại học
Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992 điều 41 có ghi:
“ Quy định chế độ GDTC bắt buộc trong trường Đại học”. Này xuất phát
từ ý nghĩa to lớn của GDTC trong nhà trường. Mục tiêu, nhiệm vụ GDTC cho
thế hệ thanh niên là một mặt của nền giáo dục tiến bộ, là nhu cầu tất yếu
khách quan của sự tồn tại và sự phát triển của một xã hội văn minh nói chung

cũng như môi trường sống.
1.2.2. GDTC đối với sinh viên
GDTC và thể thao trường học duy trì và củng cố sức khỏe, nâng cao trình
độ thể lực cho sinh viên, rèn luyện thân thể để đạt tiêu chuẩn thể lực theo quy
định. Trang bị cho sinh viên kiến thức lí luận cơ bản với những nội dung,
phương pháp tập luyện TDTT, kĩ năng vận động và kĩ thuật động tác cơ bản
một số môn thể thao. Rèn luyện cho sinh viên có ý thức tổ chức kỉ luật, tinh
thần tập thể, xây dựng lối sống lành mạnh, tinh thần tự giác rèn luyện thân
thể. Đồng thời, tạo mối điều kiện thuận lợi để các trường xây dựng và rèn
luyện phong trào thể thao mạnh mẽ và sâu rộng.
GDTC các trường Đại học góp phần quan trọng trong việc đào tạo con
người phát triển toàn diên, xây dựng những lớp người tương lai cho đất nước
có năng lực hoạt động nghề nghiệp và sức khỏe đáp ứng sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc.
Trên cơ sở tư tưởng đó GDTC đối với các sinh viên là một việc không thể
thiếu được trong công tác giáo dục và đào tạo (GD - ĐT). Sức khỏe được coi
như là một vốn quý nhất của con người, là tài sản vô giá của quốc gia.
1.2.3. Đặc điểm các tố chất thể lực
Trong quá trình GDTC, nhiệm vụ giáo dục toàn diện và phát triển các tố
chất thể lực là hết sức quan trọng, đấy chính là một trong những phương tiện
giáo dục thế hệ tre trong nhà trường các cấp. Mặt khác, các tố chất thể lực bao
gồm sức mạnh, sức nhanh, sức bền còn là những năng lực thể chất của con
người. Là những điều kiện quan trọng để học có thể giành được thành tích cao
trong thi đấu và là tiền đề cho việc thực hiện những yêu cầu ngày càng khó
khăn trong quá trình tập luyện và cuocj sống mỗi ngày.
Tố chất thể lực có nhiều yếu tố để xác định trong đó, yếu tố hàng đầu
thông qua quá trình thích ứng về măt năng lượng và phụ thuộc vào một số
nguyên nhân khác, cụ thể là:
- Phụ thuộc vào năng lực làm việc của các cơ quan và hệ thống cơ quan
tham gia trục tiếp hoặc gián tiếp vào các quá trình hoạt động cơ bắp như: Hệ

tác.
1.2.3.3. Sức bền
Sức bền là một tố chất thể lực, là năng lực chống lại mệt mỏi trong hoạt
động vận động.
Sức bền bao gồm:
- Sức bền cơ sở là năng lực chống lại mệt mỏi trong hoạt động vận động
kéo dài với cường độ trong vùng năng lượng có oxi.
- Sức bền chuyên môn là năng lực của vận động viên nhằm chống lại mệt
mỏi trong hoạt động thể thao chuyên sâu.
- Sức bền tốc độ là năng lực chống lại mệt mỏi trong hoạt động vận động
với tốc độ tối đá hoặc gần tối đa.
- Sức bền thời gian ngắn là năng lực chống lại mệt mỏi trong hoạt động
vận động với một cự li đòi hỏi một khoảng thời gian từ 45 giây đến 1 phút để
hoàn thành.
- Sức bền thời gian trung bình là năng lực chống lại mệt mỏi trong hoạt
động vận động với một cự li đòi hỏi một khoảng thời gian từ 2 đến 11 phút để
hoàn thành.
- Sức bền thời gian dài là năng lực chống lại mệt mỏi trong hoạt động
với cự li đòi hỏi khoảng thời gain từ 11 phút ( ví dụ: bơi 1500m) đến nhiều
giờ ( chạy Maratông) để hoàn thành.
1.2.4.4. Khéo léo ( khả năng phối hợp vận động)
Năng lực phối hợp vận động là tập hợp các tiền đề giúp cho việc học và
hoàn thiện một cách nhanh chóng các kĩ năng, kĩ xảo, kĩ thuật thể thao. Năng
lực phối hợp vận động được xác định trước hết thông qua quá trình điều khiển
và điều chỉ hoạt động vận động.
Năng lực phối hợp vận động phụ thuộc vào khả năng hoạt động của hệ
thống cảm giác vận động, có ý nghĩa phụ thuộc vào chức năng của các cơ
quan phân tích: phân tích thị giác, phân tích cảm giác vận động, tính linh hoạt
và chính xác của hệ thống thần kinh và các mối quan hệ thần kinh - cơ bắp.
Đó là những tiền đề thuận lợi để thực hiện tất cả câc hành động vận động với

tượng, tái hiện, đam mê nghệ thuật cũng được nâng cao, tính rung động của
các phản ứng cảm xúc giảm đi nhiều tâm trạng trở nên ổn định hơn với các
động tác.
Theo các nhà sinh lí học Nguyễn Ngọc Cừ, Lê Qúy Phượng (1996), Lưu
Quang Hiệp (2002), lứa tuổi 18 - 20 cơ thể vẫn còn đang trưởng thành, giữa
các lứa tuổi này có sự khác biệt không chỉ riêng trong chiều cao cơ thể, trọng
lượng cơ thể mà còn khác nhau thông qua sự chênh lệch về các chỉ số, tỉ lệ
các phần cơ thể. Các tác giả cho rằng: Sự phát triển cơ thể trong phạm vi phản
ứng cá biệt, chịu ảnh hưởng của các yếu tố di truyền, các yếu tố bên ngoài
( môi tường, xã hội, dinh dưỡng, hoạt động TDTT, đặc điểm lãnh thổ ) cũng
như ảnh hưởng của hoóc môn).
1.2.4.2. Cơ sở sinh lý GDTC cho sinh viên
Đặc điểm quan trọng của GDTC cho sinh viên là quá trình diễn ra trên
cơ thể trưởng thành và phát triển. Điều đó làm cho công tác GDTC thêm phức
tạp và phải nắm vững các đặc điểm lứa tuổi cũng như áp dụng chúng phù hợp
với mục tiêu, nội dung giáo dục. Trong GDTC sinh viên cần phải đặc biệt lưu
ý đến sự phù hợp giữa lượng vận động (LVĐ) tập luyện với mức độ phát triển
tâm - sinh lý của các sinh viên. LVĐ cực đại có thể làm cạn kiệt khả năng dự
trữ của cơ thể, dẫn đến những hiện tượng rối loại bệnh lý. Đối với cơ thể sinh
viên, tập luyện nóng vội, ngắn giai đoạn, có thể gây ra.
1.3. Đặc điểm công tác GDTC cho sinh viên lớp sư phạm Ngữ văn
Trường Đại học Tây Nguyên
1.3.1. Nội dung chương trình GDTC trong trường Đại học
Quán triệt sâu sắc nội dung các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Hiến pháp
nước CHXHCN Việt Nam, các văn bản Pháp luật của chính phủ về công tác
GDTT, trong tình hình mới, cũng tiếp tục khẳng định, cần phải khắc phục
trạng thái giảm sút thể lực của sinh viên hiện nay.
Bộ GD&ĐT đã ban hành quy chế số 931/RLTC ngày 29/04/1993 về
công tác GDTC trong nhà trường là: “ Các trường từ mầm non đến đại học
phải đảm bảo thực hiện dạy môn thể dục theo quy định cho học sinh,sinh

- Tập luyện các bài tập thể dục vệ sinh chống mệt mỏi hàng ngày,
cũng như giờ tự luyện tập của học sinh - sinh viên;
- Phong trào tự tập luyện, rèn luyện thân thể
Hoạt động ngoại khóa với chức năng là động viên lôi kéo nhiều người
tham gia tập luyên các môn thể thao yêu thích, góp phần nâng cao sức khỏe
phục vụ học tập và sinh hoạt.
Tác dụng của GDTC và các hình thức sử dụng TDTT có chủ đích, áp
dụng trong các trường học là toàn diện, là phương tiện để hợp lí hóa chế độ
hoạt, nghỉ ngơi tích cực, giữ gìn và nâng cao năng lực hoạt động, học tập
của học sinh - sinh viên trong suốt thời kì học tập trông nhà trường, cũng
như đảm bảo thể lực chung và những điều kiện của nghề nghiệp trong
tương lai.
1.3.3 Sự phát triển của ý thức
Nhu cầu ý thức của thanh niên được phát triển mạnh mẽ. Từ tuổi thanh
niên, các em đã bắt đầu tự giác những đặc điểm cơ thể của mình một cách
hoàn toàn mới và đến tuổi thanh niên các em vẫn tiếp tục chú ý đến hình dáng
bên ngoài của mình ( soi gương chú ý sửa tư thế quần áo hơn ). Hình ảnh
thân thể mình là một thành tố quan trọng của sự tự ý thức ở thanh niên tuổi
mới lớn.
Ở tuổi thanh niên, quá trình phát triển tự ý thức diễn ra mạnh mẽ, sôi nổi
và có tính đặc thù riêng. Thanh niên có nhu cầu tìm hiểu và đánh giá những
đặc điểm tâm lí của mình theo những mục đích cuộc sống và hoài bão của
mình.
Chính điều này khiến các em quan tâm sâu săc tới cuộc sống tâm lý,
phẩm chất, nhân cách và năng lực riêng ( các em hay ghi nhật ký, so sánh
mình với nhân vật mà học coi là tấm gương ).
Nội dung của tự ý thức cũng khá phức tạp. Các em không chỉ nhận thức
về cái tôi của mình như thiếu niên, mà còn nhận thức vị trí của mình trong xã
hội, trong tương lai ( tôi cần trở thành người như thế nào ? Cần làm gì để tốt
hơn ?).

vai trò của con người trong lịch sử, quan hệ giữa con người và xã hội, giữa
quyền lợi và nghĩa vụ, giữa nghĩa vụ và tình cảm nói chung, các em có
khuynh hướng sống một cuộc sống tích cực vì xã hội, muốn mang lại lợi ích
cho người khác, quan tâm đến đời sống tinh thần nhiều hơn là phúc lợi vật
chất. Tuy vậy, một số bộ phận thanh niên ngày nay, chưa được giáo dục đầy
đủ về thế giới quan của họ còn những biểu hiện tiêu cực (say mê những sản
phẩm “ văn hóa ” không lành mạnh, đánh giá cao cuộc sống hưởng thụ )
hoặc một số bộ phận khác lại chưa chú ý đến việc xây dựng thế giới quan,
sống thụ động, ít trách nhiệm
CHƯƠNG 2
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Nội dung và nhiệm vụ nghiên cứu
2.2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu thực trạng nâng cao chất lượng GDTC (trả lời phiếu
phỏng vấn, điều tra): Cán bộ quản lý, giảng viên trong bộ môn GDTC, các
đồng chí hoạt động Đoàn thanh niên liên quan đến các hoạt động TDTT, 65
sinh viên lớp sư phạm Ngữ văn Khóa 2014 trường Đại học Tây Nguyên.
2.3. Phạm vi nghiên cứu
Sinh viên lớp sư phạm Ngữ văn Khóa 2014 trường Đại học Tây Nguyên.
2.4. Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng công tác giảng dạy,học tập môn GDTC cho sinh
viên lớp Sư phạm Ngữ văn khóa 2014 Trường Đại học Tây Nguyên năm học
2014-2015, đồng thời có biện pháp kiến nghị cụ thể để nâng cao hiệu quả
công tác GDTC cho sinh viên.
2.5. Phương pháp nghiên cứu
2.5.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
* Mục đích
Nghiên cứu lý luận nhằm xác định những cơ sở lý luận cho công trình
nghiên cứu. Trên cơ sở hệ thống hóa kiến thức. Từ đó, xây dựng các khái
niệm, quan điểm nghiên cứu, hình thành giả thuyết khoa học, khái quát đặc

×
×
×+×+×
=
n
nnn
I
Trong đó: I là số đại chúng (%)
n: tổng số sinh viên
n1, n2, n3: Số sinh viên lựa chọn các mức độ tốt, trung bình,
kém.
2.6. Tổ chức nghiên cứu
Để đạt mục địch nghiên cứu chúng tôi đã tiến hành xây dựng phiếu hỏi.
- Về nguyên tắc: phiếu hỏi bao gồm hệ thống các câu hỏi. Khi soạn thảo
các câu hỏi chúng tôi cố gắng tuân thủ các yêu cầu: rõ rằng, dễ hiểu, các ý
kiến bao quát được phạm vi nghiên cứu, cung cấp được thông tin đích thực về
tượng cần nghiên cứu.
- Phiếu hỏi gồm 9 câu tìm hiểu về 3 vấn đề: Nội dung môn học, cơ sở vật
chất, ý thức học tập của sinh viên ở các khía cạnh khác nhau.
- Quy trình nghiên cứu được tiến hành như sau:
+ Bước 1: Chúng tôi lấy ý kiến của giảng viên, cán bộ quản lý trên cơ sở
đó tổng kết, xây dụng phiếu điều tra cho sinh viên.
+ Bước 2: Lấy ý kiến của sinh viên
Việc điều tra được thực hiện vào 1/04/2015 đến 28/04/2015.
Chúng tôi trực tiếp phát phiếu điều tra, trước khi phát phiếu chúng tôi
hướng dẫn tỉ mỉ cho họ trả lời các câu hỏi trong phiếu, phổ biến mục đích yêu
cầu của nghiên cứu. Sau khi trả lời xong, chúng tôi thu lại phiếu điều tra,
kiểm tra thông tin và số phiếu thu được đối chiếu với số phiếu phát ra.
+ Bước 3: Xử lý phiếu thu được: Tính số lượng, tỷ lệ %, tính điểm trung
bình Từ những kết quả này tiến hành phân tích tạo cơ sở thực tiễn cho việc

Câu hỏi 1: Để nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập môn GDTC theo
bạn có cần thiết phải cho phép sinh viên lựa chọn các môn thể thao ?
Về phương án trả lời chúng tôi đưa ra hai lựa chọn gồm: cần thiết, không
cần thiết.
Kết quả thu được như sau:
Bảng 1: Mức độ cần thiết phải cho phép sinh viên lựa chọn các môn thể
thao.
STT Các lựa chọn
Trả lời
Số lượng Tỉ lệ (%)
1 Cần thiết 55 84,6
2 Không cần thiết 10 13,4
* Kết luận sơ bộ:
Qua bảng 3.2 chúng tôi thấy trong số 65 sinh viên, có 55 người cho là
cần thiết chiếm tỉ lệ 84,6%; có 10 người cho là không cần thiết chiếm tỉ lệ
13,4%. Qua số liệu thu được chúng tôi thấy rằng việc cho sinh viên lựa chọn
môn học trong chương trình đào tạo cấp chứng chỉ GDTC là cần thiết.
Câu hỏi 2: Các môn thể thao bạn được học có phù hợp với bạn không ?
Về phương án trả lời: Chúng tôi đưa ra 3 mức độ gồm: phù hợp, bình
thường, không phù hợp.
Để thuận lợi cho việc đánh giá trong nghiên cứu chúng tôi quy ước cho
điểm các mức độ trả lời như sau:
Phù hợp: 3 điểm
Bình thường: 2 điểm
Không phù hợp: 1 điểm
Sau đó chúng tôi sử dụng công thức đánh giá tính đại chúng về mức độ phù
hợp của vấn đề được phỏng vấn:
100
3
)13()22()31(

Về phương án trả lời: chúng tôi đưa ra 2 lựa chọn: cần thiết, không cần
thiết. Trong số 65 sinh viên, có 60 người cho là cần thiết chiếm tỉ lệ 92,3%;
có 5 người cho là không cần thiết chiếm tỉ lệ 7.7%.
Kết quả được thực hiện qua bảng sau:
Bảng 3: Sự cần thiết phải đưa ra sự lựa chọn môn học cho sinh viên.
STT Các mức độ
Trả lời
Số lượng Tỉ lệ
1 Cần thiết 60 92,3%
2 Không cần thiết 5 7,7%
* Kết luận sơ bộ
Qua bảng 3 chúng tôi có thể rút ra một số kết luận sau đây: Mức độ cần
thiết phải cho sinh viên lựa môn học trong chương trình giáo dục thể chất
chiếm tỉ lệ rất cao 92,3%, mức độ không cần thiết chiếm tỉ lệ thấp 7,7%.
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng việc cho sinh viên lựa chọn môn thể
thao để học trong chương trình GDTC là cần thiết.
Câu hỏi 4: Trong một tuần bạn tập luyện ngoại khóa mấy buổi ?
Về phương án trả lời: chúng tôi có có 4 mức chọn:0 buổi, 1buổi, 2 buổi,
trên 2 buổi.
Để thuận tiện trong việc đánh giá chúng tôi quy ước như sau:
0 buổi: 1 điểm
1 buổi: 2 điểm
2 buổi: 3 điểm
Trên 2 buổi: 4 điểm
Sau đó chúng tôi sử dụng công thức đánh giá tính đại chúng về vấn đề
phỏng vấn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status