Nghiên cứu những nhân tố tác động tới giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam - Pdf 27

MỤC LỤC
HẦN MỞ ĐẦU
Như rất nhiều chuyên gia kinh tế nhận định, thị trường chứng khoán
Việt Nam trong thời gian qua đã có những bước phát triển nhanh chóng và
vượt bậc.Tuy mới đang ở trong giai đoạn đầu của sự phát triển này nhưng
Việt nam đã đạt được những con số rất ấn tượng: năm 2006 tăng 135% và
đầu năm 2007 là 40%. Trước sự phát triển quá nóng của thị trường chứng
khoán Việt Nam trong năm 2006 mà rất nhiều chuyên gia và tổ chức kinh tế
cảnh báo, thị trường chứng khoán Việt Nam đã bắt đầu có những phiên điều
chỉnh giảm để giảm bớt sức nóng của thị trường. Chỉ số Vn-index đã xướng
dưới ngưỡng 1000 điểm. Giai đoạn tháng 4 có thể coi là giai đoạn điều chỉnh
thị trường chứng khoán sâu nhất trong thời gian qua. Trong những ngày đầu
tháng 5 thị trường đã có những bước khởi sắc đáng kể, chỉ số Vn_index lại
trở lại được ngưỡng 1000 điểm. Như chúng ta có thể thấy chỉ trong một thời
gian rất ngắn mà thị trường chứng khoán Việt Nam đã có rất nhiều biến
động. Theo đó, giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán cũng đã có những
sự tăng giảm đáng kể. Giá cổ phiếu của Việt nam trong thời gian qua đã chịu
tác động của rất nhiều nhân tố, cả nhân tố kinh tế lẫn những nhân tố phi kinh
tế. Việc nghiên cứu những nhân tố tác động tới giá cổ phiếu trên thị trường
chứng khoán Việt Nam trong thời gian qua là hết sức quan trọng, nó cho
chúng ta có những cái nhìn chính xác nhất về những biến động về giá cổ
phiếu trong thời gian qua, đồng thời có được căn cứ chính xác dự báo về giá
cổ phiếu trong thời gian tới và những nhân tố có ảnh hưởng quyết định tới
giá cổ phiếu trong thời gian sắp tới.
NỘI DUNG
I. Tình hình giá cổ phiếu ở Việt Nam trong thời gian qua
2
2
Trước hết ta xem biểu đồ sau để có thể thấy được sự biến động của
chỉ số VN-index trong thời gian gần đây:


thị trường phát triển chưa thực sự vững chắc. Gi á các cổ phiếu đồng loạt
tăng cao trong giai đoạn này, nhiều cổ phiếu đã vượt xa giá trị thực của nó.
Chỉ số VN-Index tăng cao đột biến do các yếu tố không gắn với kết quả kinh
doanh hiện tại và triển vọng tương lai của doanh nghiệp niêm yết đồng thời
tạo ra nguy cơ sụt giá cổ phiếu nhanh.
2) Giai đoạn 13/3/2007 đến 23/4/2007:
Nhiều chuyên gia chứng khoán cho rằng chứng khoán Việt Nam giai
đoạn này đang điều chỉnh sau một thời dài tăng “nóng”. từ gần 1200 điểm
đến nay, chỉ số Vn- index chỉ còn 905 điểm, một múc thấp kỉ lục trong thời
gian nóng vừa qua. Những nhà đầu tư “yếu bóng vía” đã và đang bắt đầu
bán tháo cổ phiếu, do lo sợ chứng khoán Việt Nam sẽ tiếp tục mất điểm nữa.
Do vậy giá cổ phiếu nhìn chung tên toàn thị trường trong giai đoạn này giảm
mạnh. K ể cảnh ững cổ phiếu là các blue-chip cũng giảm rất mạnh. tiêu biểu
là FPT, SAM, REE… Nhiều nhà đầu tư đã phản ứng trong hoạt động giao
dịch trên thị trường, điều đó đã tác động mạnh đến chuyện mua bán chứng
khoán, cũng là lý do khiến chỉ số chứng khoán Việt Nam mất một số điểm
khá lớn trong thời gian này, sau nhiều phiên điều chỉnh rất ít. Một số chuyên
gia khác cũng đưa ra nhận định rằng thị trường đang có bàn tay can thiệp
của nhà đầu tư nước ngoài. Giám đốc một công ty chứng khoán cho rằng
thời gian qua các nhà đầu tư nước ngoài bị “rớt” trong các cuộc đấu giá cổ
phần do giá đấu bình quân bị đẩy lên quá cao.
3) Giai đoạn từ 24/4/2007 đến nay
Với một khoảng thời gian phục hồi đã tương đối dài, có nhiều lý do để
tin rằng thị trường sẽ tiếp tục tăng. Nhiều người tin rằng "giai đọan đáy" của
thị trường chứng khoán đã qua. Cơ bản nhất có lẽ là thị trường đã điều chỉnh
khá sâu trong thời gian vừa qua và ngược chiều với cả các thông tin về kinh
tế vĩ mô, cũng như thông tin hoạt động vi mô tại các doanh nghiệp.
Sự điều chỉnh giảm sâu của thị trường thời gian vừa qua nói chung đã
không phản ánh đúng sức tăng trưởng và hoạt động hiệu quả của các doanh
nghiệp với một loạt báo cáo tài chính với những kết quả rất tốt. Tất nhiên sai

cũng không xảy ra sớm. Sự tăng giá sẽ diễn ra mạnh mẽ và tập trung vào
những công ty tạo dựng được hình ảnh rõ rệt về sự tăng trưởng của mình.
II. Các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu ở thị trường Việt Nam.
Có rất nhiều yếu tố tác động đến thị trường chứng khoán nói chung và
giá cổ phiếu nói riêng, nhưng vế cơ bản có thể chia chúng thành hai nhóm
yếu tố là yếu tố kinh tế và yếu tố phi kinh tế:
1. Các yếu tố kinh tế
a) Tăng trưởng kinh tế
Khi nền kinh tế tăng trưởng thì hầu như các ngành các lĩnh vực đều bị
ảnh hưởng. Và giá của cổ phiếu cũng nằm trong số đó, giá cổ phiếu có xu
hướng tăng khi nền kinh tế tăng trưởng và có xu hướng giảm khi nền kinh tế
kém phát triển. Như các bạn đều biết Việt Nam là một quốc gia có tốc độ
5
5
phát triển cao ( 8,3% năm 2006) cộng với nền chính trị ổn định và mức thu
hút các nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài là một trong những nguyên nhân
khiến thị trường chứng khoán Việt Nam có bước tiến nhảy vọt nói chung và
giá cổ phiếu tăng nói riêng. Tuy nhiên không phải giá cổ phiếu nào cũng
tăng và giá lúc nào cũng tăng mà nó còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác
nữa. Việc giữ vững tốc độ tăng trưởng cao của nền kinh tế trong nhiều năm
liền có tác dụng giữ cho thị trường chứng khoán ổn định, tăng cường niềm
tin của nhà đầu tư cả trong và ngoài nước. Tuy nhiên, để có thể trông chờ
vào một sự khởi sắc của thị trường thì chỉ có thể vào cuối năm khi các nhà
đầu tư có thể dự đoán kết quả kinh doanh của từng doanh nghiệp.
b) Quan hệ cung cầu
Trong kinh doanh, quy luật cung cầu luôn có ảnh hưởng rất lớn đến
giá thành sản phẩm, và đầu tư chứng khoán cũng không phải là một ngoại lệ.
Giá cổ phiếu cũng chịu tác động từ quy luật cung cầu. William J. Oneil –
một nhâ đầu tư chứng khoán thành công tại Mỹ, là cha đẻ của phương pháp
phân tích và lựa chọn cổ phiếu hiệu quả CAN SLIM, cho rằng cổ phiếu của

Tổng công ty rượu bia, nước giải khát Hà Nội (Habeco) và Công ty bia Sài
Gòn (Sabeco) với vốn điều lệ ước tính khoảng 7.500 tỷ đồng. Cuối cùng,
nếu mọi việc suôn sẻ, hai "đại gia" ngân hàng Vietcombank (ước đoán 6000
tỷ đồng) và MHB sẽ IPO vào tháng 8/2007.
Sau "cuộc chiến" IPO của các doanh nghiệp trên, một số nhà đầu tư sẽ
"kiệt sức", một số sẽ dưỡng sức chờ một cơn lốc tiếp theo với các "đại gia"
của ngành viễn thông và ngân hàng như Vinaphone, Mobiphone, Viettel,
Incombank, Agribank, BIDV
Yếu tố thứ hai là vấn đề cổ phần hóa, những thông tin trong những
ngày cuối năm cho thấy, năm 2007 và 2008 sẽ có một lượng cung cổ phiếu,
chứng chỉ quỹ đầu tư, trái phiếu chuyển đổi khổng lồ tung ra thị trường
chứng khoán Việt Nam, cụ thể: Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định
(ngày 29/12/2006) phê duyệt danh sách 53 tập đoàn, tổng công ty nhà nước
sẽ thực hiện cổ phần hóa trong giai đoạn 2007-2010. Nhiều chuyên gia thị
trường chứng khoán nhận định, 2 cổ phiếu “bia rượu” lớn sau khi cổ phần
hóa và lên sàn sẽ tạo ra sự kiện lớn hơn nhiều sự kiện Vinamilk và
Sacombank lên sàn trong năm 2006. Cổ phiếu của MobiFone và Vinafone
cũng sẽ xuất hiện trên thị trường OTC và có thể lên sàn vào cuối năm 2007,
sau khi Thứ trưởng Bộ Bưu chính Viễn thông Trần Đức Lai khẳng định
MobiFone chắc chắn sẽ cổ phần hóa xong trong năm 2007. Năm 2007 có thể
sẽ là năm “đại náo” cổ phiếu của 4 ngân hàng quốc doanh trên thị trường
chứng khoán Việt Nam: Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng
Phát triển nhà ĐBSCL, Ngân hàng Đầu tư phát triển Việt Nam và Ngân
hàng Công thương Việt Nam sẽ có mặt trên thị trường.
Ngoài ra, các ngân hàng thương mại cổ phần cũng sẽ tiếp tục tạo ra
một “cơn lốc” tăng vốn điều lệ thông qua phát hành cổ phiếu và dự kiến đến
cuối năm 2007, hầu hết các ngân hàng thương mại cổ phần sẽ có vốn điều lệ
trên 1.000 tỷ đồng. Minh chứng rõ nhất là hàng loạt ngân hàng thương mại
công bố tăng vốn điều lệ nhiều đợt trong năm 2006 và 2007.
Trên thị trường trái phiếu, ngoài trái phiếu chính phủ, chính quyền,

Singapore, Malaysia và Israel. Chỉ riêng tại Hàn Quốc, số tiền mà các quỹ
này gọi được đã là 871 triệu đô la Mỹ (xem bảng). Ông Chy Jang Oak, Chủ
tịch bộ phận thị trường chứng khoán của Korea Exchange, trong chuyến
thăm TPHCM tháng 4 vừa qua, cho TBKTSG biết Việt Nam đang là đề tài
nóng của giới đầu tư tài chính Seoul. Họ đánh giá cao sự tăng trưởng của các
công ty niêm yết Việt Nam. Ông Chy Jang Oak thậm chí nói rằng Sở Giao
dịch chứng khoán Hàn Quốc sẽ giúp giảm bớt chi phí cho các công ty Việt
Nam niêm yết trên thị trường Hàn Quốc.
Một yếu tố nữa có thể tác động không nhỏ đến cầu trên thị trường
chứng khoán năm 2007: ngày 29/12/2006, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
đã hoàn tất dự thảo về việc sửa đổi bổ sung một số điều của quy định về các
tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng. Trong đó, có
quy định làm xôn xao giới kinh doanh cổ phiếu, đó là cấm không cho các
ngân hàng cho vay doanh nghiệp mà ngân hàng nắm quyền kiểm soát hoạt
động trong lĩnh vực tiềm ẩm rủi ro cao là kinh doanh chứng khoán, không
8
8
được cho vay không có bảo đảm đối với các khoản vay nhằm đầu tư kinh
doanh chứng khoán. Nếu quy định trên được chính thức ban hành và có hiệu
lực thì nguồn cầu đầu tư vào cổ phiếu sẽ bị ảnh hưởng không nhỏ.
Mặt khác, sự "ấm" lên của thị trường bất động sản đã làm giảm lượng
vốn đầu tư vào thị trường chứng khoán và thậm chí nó còn hút một phần vốn
từ thị trường chứng khoán chuyển sang. Các nhà đầu tư có nhiều cơ hội để
lựa chọn giữa hai thị trường này.
Diễn biến giá cổ phiếu hiện bị tác động chủ yếu bởi quy luật cung cầu.
Tuy nhiên, cầu cũng có loại thật và ảo. Cầu ảo dễ dàng được tạo ra bởi
những nhà đầu tư nắm trong tay khối lượng cổ phiếu lớn hoặc tài khoản đầy
tiền. Cầu ảo được tạo ra bằng những lệnh mua mà người đặt biết chắc chắn
rằng lệnh đó không được khớp hoặc có khớp thì cũng chỉ được một khối
lượng rất thấp. Với quy trình khớp lệnh định kỳ, lệnh nhập phải thông qua

chia hàng năm. Con số này có sự dao động và đôi khi cũng có những khoản
bất thường nào đó, nhưng nhìn chung bình quân trong dài hạn nó chính là lợi
nhuận từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Về bản chất, giá cổ phiếu
do dòng tiền này và sự biến động của nó quyết định và sự nóng lên của thị
trường là do sự tăng giá của các cổ phiếu gây ra.
Về mối liên hệ giữa giá cổ phiếu và hoạt động sản xuất kinh doanh
của công ty, giá cổ phiếu đôi khi xảy ra trước biến động hoạt động kinh
doanh, đôi khi xảy ra sau. Thời gian xảy ra và mức độ biến động này có sự
chênh lệch đáng kể qua theo dõi tình hình. Qua một thời gian dài, nhiều
người cho rằng giá cổ phiếu phổ thông thay đổi trước hoạt động kinh doanh.
Thu nhập công ty hay lợi nhuận của công ty được coi là nhân tố quan
trọng nhất tác động tới giá cổ phiếu. Ví dụ, giá cổ phiếu của công ty cổ phần
Chế biến hàng xuất khẩu Long An tăng “kịch trần” nhiều phiên bởi Công ty
công bố lợi nhuận sau thuế quý III /2004 đạt 8, 6 tỷ đồng tăng hơn 140% so
với cùng kỳ năm trước. Những nhà kinh doanh và nhà đầu tư mua và bán cổ
phiếu chủ yếu dựa trên cơ sở dự đoán về mức thu nhập. Tuy nhiên, giá cổ
phiếu không phải lúc nào cũng có mối quan hệ chặt chẽ với thu nhập. Có
những thời điểm, giá cổ phiếu tăng nhanh hơn thu nhập; vào những thời
điểm khác, nó bị tụt lại đằng sau thu nhập. Đôi khi trên thực tế, nó lại biến
động theo chiều hướng ngược lại với thu nhập. Do vậy, dù một người theo
dõi rất sát thị trường đã dự đoán đúng xu hướng thay đổi của thu nhập,
nhưng không có gì bảo đảm rằng anh ta có thể dự đoán chính xác xu hướng
biến đổi của giá cổ phiếu.
d) Cổ tức
Mua cổ phiếu cũng chính là một cách đầu tư. Mục đích cuối cùng là
nhằm thu được lợi nhuận cao. Cổ đông sẽ được hưởng cổ tức và phần chênh
lệch giữa giá bán và giá mua cổ phiếu. Họ mong đợi vào mức chênh lệch
hơn là cổ tức được hưởng. Tuy nhiên, cổ tức cũng được đánh giá là nhân tố
cơ bản tác động đến giá cổ phiếu. Trong tất cả các nhân tố sử dụng để giải
thích về sự biến động giá hàng ngày của từng cổ phiếu, các thông tin về cổ

Một chỉ số nữa về cổ tức cũng ảnh hưởng không nhỏ tới giá cổ phiếu,
đó là tỷ lệ trả cổ tức. Khi bạn tìm mua những cổ phiếu có tỷ suất cổ tức cao,
cần xem xét tỷ lệ trả cổ tức của công ty. Chỉ số này thể hiện tỷ lệ phần trăm
lợi nhuận được trích ra để trả cho cổ đông dưới hình thức cổ tức. Nếu tỷ lệ
này vượt quá 75% có nghĩa là công ty không tái đầu tư lợi nhuận một cách
hợp lý. Một tỷ lệ trả cổ tức cao thường hàm ý là thu nhập của công ty được
sử dụng phần lớn để trả cho cổ đông và có nghĩa là công ty đang cố gắng thu
hút các nhà đầu tư mua cổ phiếu của mình. Do đó, tỷ lệ này phải ở mức hợp
lý mới có thể thu hút các cổ đông và làm cho giá cổ phiếu đó tăng.
Không phải bất cứ cổ phần nào cũng đem lại cho bạn cổ tức. Nếu một
công ty đang tăng trưởng nhanh có thể làm lợi cho các cổ đông bằng cách tái
đầu tư. Trong trường hợp đó, công ty sẽ không trả cổ tức hoặc trả với tỷ lệ
cổ tức rất thấp. Ví dụ, công ty Microsoft không trả cổ tức nhưng các cổ đông
của công ty không hề phàn nàn gì về điều này. Và cổ phiếu của công ty vẫn
luôn đứng trong danh sách những cổ phiếu có giá cao nhất. Một cổ phiếu
không được trả cổ tức không hẳn là cổ phiếu của công ty đang làm ăn thua
lỗ.
11
11
Vì vậy, cổ tức không đóng vai trò quan trọng đối với loại cổ phiếu
tăng trưởng. Cổ phiếu tăng trưởng là loại cổ phiếu mà người ta coi sự tăng
giá của chúng là rất quan trọng, thường xuyên mang lại lợi suất đầu tư cuối
cùng lớn hơn nhiều so với cổ tức hiện tại. Một công ty tăng trưởng có khả
năng sử dụng số vốn này có hiệu quả hơn cho các cổ đông, là những người
luôn phải tìm kiếm cơ hội đầu tư. Nguyên tắc quan trọng là doanh nghiệp
nên xác định và duy trì cổ tức nên ở mức khá thấp và chỉ nên tăng mức cổ
tức khi có những khoản thu nhập tăng thêm.
Việc thanh toán, chi trả cổ tức cho cổ đông, có khả năng bằng tiền mặt
hoặc không dùng tiền mặt, dưới 2 hình thức:
♦ Chi trả cổ tức bằng cổ phiếu, giữ tiền mặt cho đầu tư phát triển, nếu mức

12
phiếu để nâng cao giá trị công ty. Do đó, rất có thể trong tương lai gần, giá
cổ phiếu của công ty này sẽ tăng sau khi tách. Như vậy, các tổ chức phát
hành vẫn giữ lại được nguồn vốn bên trong để đầu tư phát triển, đồng thời
tăng thêm cổ phiếu cho các cổ đông, nguồn cung cấp cổ phiếu cho thị trường
t ăng, do đ ó l àm giảm biến động giá cả thị trường, bảo vệ lợi ích chính
đáng của nhà đầu tư.
e) Lãi suất
Mối quan hệ giữa lãi suất và giá cổ phiếu là gián tiếp và luôn thay đổi.
Nguyên nhân là do luồng thu nhập từ cổ phiếu có thể thay đổi theo lãi suất
và chúng ta không thể chắc chắn liệu sự thay đổi của luồng thu nhập này có
làm tăng hay bù đắp cho mức biến động về lãi suất hay không. Lãi suất tăng
sẽ rất có khả năng làm giảm giá các loại cổ phiếu trên thị trường. Người mua
cổ phiếu của công ty mới niêm yết thường trông chờ cổ tức thấp thôi. Nhưng
đổi lại, họ mong giá cổ phiếu sẽ tăng trên thị trường chứng khoán. Giả thử
một người mua cổ phiếu có cổ tức chừng 4% và giá trị cổ phiếu tăng chừng
10% sau một năm. Cộng lại, người đó sẽ hưởng chừng 14% trên số tiền bỏ
ra đầu tư mua cổ phiếu - cao hơn lãi suất giả định 10% nói ở trên. Tuy nhiên,
khi lãi suất tăng kéo theo lãi suất trái phiếu tăng chắc chắn người ta sẽ trông
đợi lợi nhuận có được từ việc mua cổ phiếu sẽ phải cao hơn mức 14% đề bù
vào những rủi ro của cổ phiếu so với trái phiếu. Trước mắt giá cổ phiếu phải
giảm để nâng mức lợi nhuận này.
Để giải thích rõ chiều hưởng ảnh hưởng của lãi suất tới giá cổ phiếu
cần phải xem xét các khả năng có thể xảy ra khi tỷ lệ lạm phát tăng, cụ thể
như sau:
♦ Lãi suất tăng do tỷ lệ lạm phát tăng và thu nhập công ty theo đó cũng tăng
vì công ty có thể tăng giá cho phù hợp với mức tăng của chi phí. Trong
trường hợp này, giá cổ phiếu có thể khá ổn định vì ảnh hưởng tiêu cực của
việc tăng tỷ suất lợi nhuận đã được đền bù một phần hay toàn bộ bởi phần
tăng của tỷ lệ tăng trưởng thu nhập và cổ tức.

đến vài trăm lần mệnh giá. Giá cổ phiếu sẽ tiếp tục tăng trong tương lai.
Chính vì vậy mà nhiều nhà đầu tư nước ngoài vào đây và họ đánh giá được
tiềm năng cũng như sự hấp dẫn của thị trường này.
Công ty Merri Lynch (một trong những hãng tư vấn đầu tư nổi tiếng
của Mỹ) nói rằng chỉ cần bạn bỏ tiền đầu tư vào cổ phiếu blue-chip ở Việt
Nam và yên tâm 10 năm sau bạn sẽ kiếm được một khoản khá lớn mà không
cần phải làm gì. Công ty bluechip đó sẽ kiếm lời cho bạn. Câu nói này cho
thấy đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt Nam siêu lợi nhuận như thế
nào. Các nhà đầu tư nước ngoài dám bỏ tiền ra để đầu tư vào cổ phiếu Việt
Nam, lẽ nào người Việt Nam lại không?
Thêm một lý do nữa để cho rằng bây giờ là thời điểm thích hợp để
đầu tư vào thị trường chứng khoán chính là thuế. Lợi nhuận kiếm được từ
việc mua bán cổ phiếu không bị đánh thuế, phải đến 2009 nhà đầu tư mới bị
đánh thuế thu nhập. Đầu tư cổ phiếu vì giá trị gia tăng của cổ phiếu trong
tương lai. Các công ty niêm yết sẽ không được ưu đãi thuế vào năm sau,
điều này không quan trọng lắm. Vấn đề là công ty niêm yết làm ăn như thế
nào. Và đều này cũng không làm ảnh hưởng lớn đến sự hấp dẫn của thị
trường, vốn còn rất nhỏ bé nhưng lại đầy tiềm năng.
Ngoài những yếu tố nói trên, có thể tính đến các yếu tố khác như mức
trả cổ tức, thông tin mua bán cổ phiếu của các thành viên trong ban lãnh đạo
14
14
công ty, thông tin tách gộp cổ phiếu, thông tin về việc phát hành thêm cổ
phiếu, tin đồn…Những người đầu tư chuyên nghiệp hơn có thể còn tìm hiểu
các thông tin liên quan đến chính sách của Chính phủ đối với thị trường
chứng khoán, chính sách cổ phần hoá DNNN, tình hình quản trị của công ty
niêm yết, tên tuổi của CTCK bảo lãnh phát hành hay tư vấn niêm yết cho
công ty niêm yết.
2. Yếu tố phi kinh tế
a) Yếu tố chính trị

Trước hết, việc ứng dụng các mô hình phân tích cơ bản và phân tích
kỹ thuật để dự báo tỷ suất sinh lợi chứng khoán là rất cần thiết đối với các
nhà đầu tư mang tính chuyên nghiệp. Tuy nhiên, những diễn biến trên thị
trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian qua là bằng chứng cho thấy
sự thiếu vắng các công cụ dự báo này. Đa số các nhà đầu tư trên thị trường
chứng khoán Việt Nam hiện nay là các nhà đầu tư cá nhân (chiếm 99%).
Thông thường đối tượng này trình độ hiểu biết còn hạn chế, họ chủ yếu thực
hiện các quyết định đầu tư một cách cảm tính hay theo trào lưu với tư tưởng
chộp giật, đầu cơ. Hơn nữa, việc ứng dụng các mô hình dự báo trên cũng
còn những hạn chế do hàng hoá trên thị trường chứng khoán Việt Nam
nghèo nàn về chủng loại, ít ỏi về số lượng và đặc biệt là thiếu các hàng hóa
cao cấp để các nhà đầu tư có thể yên tâm đầu tư lâu dài hay hấp dẫn các nhà
đầu tư chuyên nghiệp có nguồn tài chính lớn cộng với tình trạng rò rỉ thông
tin, không công khai, minh bạch. Một số dư luận còn cho thấy cứ đầu tư theo
tâm lý bầy đàn còn chắc ăn hơn đầu tư theo phân tích. Chính đặc điểm này
khiến cho giá chứng khoán Việt Nam biến động một cách khó lường và
không phản ánh xác thực các thông tin trên thị trường cũng như giá trị thực
của nó.
Mặt khác, sự thay đổi về công nghệ, sự khác nhau trong phương thức
giao dịch, hệ thống giao dịch cũng gây ảnh hưởng tới giá chứng khoán. Gần
đây có hiện tượng một số cổ phiếu khi chuyển sàn lại tăng giá mạnh. Ví dụ
cổ phiếu PPC lúc còn ở sàn Hà Nội chỉ là 65.000 đồng, khi chuyển sang sàn
TP.HCM lại tăng lên 105.000 đồng. Đó chính là do sự khác nhau trong hệ
thống giao dịch giữa các sàn. Hệ thống giao dịch ở sàn Hà Nội (khớp lệnh
báo giá) đòi hỏi nhà đầu tư phải biết “định giá đúng”. Do khớp lệnh liên tục
nên nếu người chơi không biết định giá sẽ bị thiệt. Ví dụ thị trường đang
định giá cao cổ phiếu đó, nhưng nếu không biết nên nhà đầu tư bán với giá
sàn thì ngay lập tức sẽ có người mua. Trong khi đó tại sàn TP.HCM (khớp
lệnh định kỳ), người bán này có thể không bị thiệt do hệ thống giao dịch tìm
ra mức giá thị trường, mà mức giá này thường cao hơn mức giá sàn (trừ

tư mới tham gia chỉ thấy mức lợi nhuận của công ty mà mình đã đầu tư chứ
ít chú ý đến nền tảng sự phát triển doanh nghiệp. Đối với những công ty
niêm yết thì nhà đầu tư còn có thể nhận ra những bất hợp lý, còn những công
ty chưa niêm yết thì quả là một mê hồn trận. Ví dụ có công ty mức lợi nhuận
sau thuế cả năm 2006 là 83 tỷ đồng thì có đến 30 tỷ đồng từ lãi đầu tư cổ
phiếu công ty khác. Những khoản lợi nhuận này có được tiếp tục duy trì
trong tương lai như kỳ vọng của nhà đầu tư không còn chưa biết bởi đầu tư
tài chính không phải là “nghề” chính của các công ty này và rủi ro có thể xảy
ra bất kỳ lúc nào. Vòng quay vốn đầu tư tài chính này khiến việc đánh giá
chính xác thông tin, tiềm lực của các doanh nghiệp trở nên khó khăn hơn,
nhiều khi tạo ra những kì vọng quá lớn trên thị trường đẩy giá lên cao hơn
thực tế.
c) Yếu tố thị trường
Yếu tố thị trường là rất quan trọng bởi nó ảnh hưởng mạnh mẽ đến giá
cổ phiếu. Khi hàng loạt các cổ phiếu cùng ngành trên thị trường bị mất giá,
thì giá cổ phiếu của công ty mà bạn lựa chọn chắc chắn cũng sẽ sụt giảm
theo. Ngược lại, nếu giá cổ phiếu của các công ty này tăng theo sự phát triển
của thị trường thì cổ phiếu bạn mua vào cũng được “ăn theo” những chỉ số
tích cực đó. Do đó, chúng ta nên để ý đến tầm quan trọng của việc nghiên
17
17
cứu các đồ thị biến động giá chứng khoán theo ngày, theo tuần và theo tháng
trước mỗi quyết định đầu tư cổ phiếu.
Yếu tố tâm lý “bầy đàn” thuộc nhóm yếu tố thị trường nói ở trên.
Thông tin rất quan trọng trên thị trường, nhưng phần đông vì thiếu hiểu biết,
các nhà đầu tư có xu hướng nghe ngóng. Tin thì đủ loại, trên trời, dưới biển,
vận hành, tài chính, tổ chức Có điều chẳng mấy ai có khả năng kiểm định.
Vì vậy, cái sự nghe trở nên láng máng, truyền tai nhau hết sức nguy hiểm.
Thông thường, họ tìm một số nhân vật có khả năng "hót hay như khướu"
hoặc tìm một vài cán bộ môi giới-tư vấn của chính các công ty chứng khoán.

18
18
Sau này mới có sự phân hoá về biến động giá giữa các loại cổ phiếu
khác nhau, tuy nhiên, hiện nay yếu tố này vẫn chiếm xu thế chủ đạo.
III. Giải pháp liên quan đến cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt
Nam
1. Giải pháp vĩ mô
Thứ nhất, nhanh chóng hoàn thiện hơn nữa khuôn khổ pháp lý về
chứng khoán và thị trường chứng khoán nói chung và cổ phiếu nói riêng,
trong đó, thống nhất quản lý tất cả mọi hoạt động phát hành cổ phiếu ra công
chúng mà hiện nay được thực hiện theo Luật Doanh nghiệp, theo các quy
định về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, cổ phần hóa các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài và theo Luật các Tổ chức tín dụng (đối với các
ngân hàng cổ phần, tổ chức điều hành thị trường chứng khoán theo chuẩn
mực quốc tế để kiểm soát các hoạt động kinh doanh chứng khoán mà không
vi phạm quy định của WTO . Việc thống nhất quản lý các hoạt động phát
hành sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn trong việc gia tăng cổ phiếu có chất
lượng cho thị trường chứng khoán, thông qua việc khuyến khích và thậm chí
bắt buộc các doanh nghiệp phát hành chứng khoán ra công chúng phải tham
gia niêm yết trên thị trường chứng khoán.
Thứ hai, nhà nước cần có chính sách quản lý tài khoản vốn thích hợp,
đảm bảo tính minh bạch, công khai, giám sát chặt chẽ các tổ chức tài chính,
ngân hàng và tăng cường hợp tác quốc tế trong xử lí các rủi ro. Đây là điều
kiện để đối phó với các cuộc khủng hoảng tài chính.Ủy ban chứng khoán
nhà nước đẩy mạnh công tác thanh tra, giám sát thị trường nhằm ngăn ngừa
các hoạt động giao dịch không công bằng, thông tin sai lệch hoặc không kịp
thời.
Thứ ba, Chính phủ cũng phải quan tâm nghiên cứu và sớm ban hành
các giải pháp tích cực trước mắt để giúp nuôi dưỡng, khuyến khích, duy trì
sự nhiệt huyết của các tổ chức và cá nhân tham gia thị trường, đồng thời

các hệ số tài chính hệ số thu nhập trên đầu cổ phiếu, giá trên thu nhập P/E để
giúp cho nhà đầu tư có đầy đủ thông tin hơn để đưa ra quyết định đầu tư hợp
lý.
Cần phổ cập và nâng cao kiến thức về thị trường chứng khoán cho
công chúng và các nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư cá nhân để từng nhà
đầu tư cần phải có những phân tích, suy xét của riêng mình trước khi đưa ra
quyết định mua hay bán, tránh bị ảnh hưởng bởi những trào lưu tâm lý trên
thị trường. Có như vậy thì từng nhà đầu tư mới có thể tìm kiếm được cho
mình những cơ hội đầu tư sinh lời bất kể tình hình giá cả thị trường biến
động lên hay xuống.
20
20
PHẦN KẾT
Theo các phần ở trên thì ta đã biết sơ qua về tình hình thị trường
chứng khoán Việt Nam từ năm 2006 trở lại đây. Nó đã trải qua nhiều giai
đoạn thăng trầm, lúc đầu thì phát triển dè dặt, nhưng về sau lại có những lúc
phát triển quá nóng để rồi phải có những điều chỉnh giảm. Theo IMF, có 2
yếu tố cơ bản dẫn tới sự phát triển chưa từng có của thị trường chứng khoán
Việt Nam năm 2006. Thứ nhất, tình hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam tiếp
tục được đánh giá khả quan và việc Việt Nam trở thành thành viên WTO đã
thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài tăng mạnh từ tháng 11.2006 và tiếp
tục tăng trong thời gian tới nếu cơ hội đầu tư tại Việt Nam tăng lên. Thứ hai,
cầu chứng khoán mạnh đã dẫn đến cổ phiếu bị định giá quá cao trong bối
cảnh cung chứng khoán mới phát hành bị hạn chế. Một số yếu tố cơ bản
khác có lẽ đã góp phần làm tăng mạnh định giá chứng khoán như: tốc độ hội
nhập của Việt Nam vào nền kinh tế toàn cầu nhanh; những lợi ích hiệu quả
thu được từ tự do hóa thương mại, cải cách thị trường sau khi gia nhập
WTO, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và tính minh bạch được cải thiện với
việc bắt đầu áp dụng chế độ báo cáo tài chính của nhiều công ty. Bên cạnh
đó ta cũng thấy được rất nhiều yếu tố ở phạm vi nhỏ hơn tác động đến giá cổ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status