Lời nói đầu
Trong thời kỳ kế hoạch hoá tập chung việc sản xuât kinh doanh của
doanh nghiệp chủ yếu thực hiện theo chỉ thị, kế hoạch của nhà nước. Nhà
nước chi vật tư đến tận xưởng để các doanh nghiệp tiến hành sản xuất. Thời
đó chưa có cạnh tranh sản phẩm sản xuất ra được nhà nước phân phối và sử
dụng. Do đó yếu tố tiết kiệm vật tư chưa được các doanh nghiệp chú trọng
nhiều. Tuy rằng thời đó chính phủ đã đặt ra một số mức, định mức tiêu dùng
vật tư nhưng chưa có hình thức rõ ràng để khuyến khích các doanh nghiệp và
công nhân tiến hành sản xuất tiết kiệm.
Khi mà nền kinh tế của đất nước đã chuyển sang cơ chế thị trường, yếu
tố cạnh tranh được đẩy mạnh và khốc liệt hơn. Mỗi một doanh nghiệp sản
xuất muốn tồn tại thì ngày càng phải phát triển và phải có cách thức, kế
hoạch, chiến lựơc rõ ràng để có thể cạnh tranh được với các doanh nghiệp
khác.
Đặc biệt hiện nay đất nước đang trong thời kỳ hội nhập với khu vực và
thế giới. Thị trường được mở rộng hơn đối với các doanh nghiệp trong nước
đồng thời thị trường trong nước cũng phải mở rộng để các doanh nghiệp nước
ngoài vào sản xuất và kinh doanh. Khi đó các doanh nghiệp việt nam sẽ phải
cạnh tranh khốc liệt hơn để tồn tại và phát triển. Trong điều kiện đó để tồn tại
và cạch tranh được thì mỗi doanh nghiệp cần phải có một chiến lược, kế
hoạch rõ ràng cho doanh nghiệp mình. Yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến
cạnh tranh là giá và chất lượng của hàng hoá, các dịch vụ đi kèm… Trong các
yếu tố đó thì giá cả là có ảnh hưởng rất lớn đến cạnh tranh sản phẩm hàng hoá
của doanh nghiệp. Thông thường trong gía trị của sản phẩm thì giá trị vật tư
thường chiếm từ 70%-80%. Do đó biện pháp tốt nhất để giảm giá thành sản
phẩm là thực hiện tiết kiệm vật tư từ ngay khâu đầu vào của sản xuất . Tiết
kiệm vật tư là yêu cầu cần thiết và cấp bách đối với mỗi doanh nghiêp sản
xuất trong điều kiện kinh doanh hiện nay, khi mà nguyên vật liệu… để sản
xuất sản phẩm ngày một đắt và khan hiếm, những nguyên vật liệu quý hiếm
ngày càng cạn kiệt.
Đó cũng là lý do chính để em nghiên cứu đề tài này. Em xin chân thành
• Theo cấp quản lý là căn cứ vào chế độ phân phối và các cấp quản lý
vật tư kỹ thuật để phân loại.
+ Vật tư kỹ thuật do nhà nước thống nhất quản lý.
+ Vật tư kỹ thuật không do nhà nước thống nhất quản lý.
1.2. Định mức tiêu dùng vật tư là lượng vật tư hao phí lớn nhất cho phép để
sản xuất ra một đơn vị sản phẩm theo quy cách, kết cấu, chất lượng, quy trình
công nghệ nhất định, trong những điều kiện tổ chức và kỹ thuật nhất định.
Việc xây dựng định mức tiêu dùng vật tư tiên tiến và đưa định mức đó
vào áp dụng trong sản xuất là biện pháp quan trọng nhát để thực hành tiết
kiệm vật tư có cơ sở chặt chẽ việc sử dụng vật tư. Địch mức tiêu dùng vật tư
còn là căn cứ để tiến hành kế hoạch hoá cung ứng và sử dụng vật tư, tạo tiền
đề cho việc hạch toán kinh tế và thúc đẩy phong trào thi đua lao động sản xuất
và thực hành tiết kiệm trong xí nghiệp, phân xưởng.
1.3. Tiết kiệm vật tư có nghĩa là sử dụng hợp lý vật tư có sẵn, tiêu dùng có
căn cứ kinh tế để sản xuất ra nhiều sản phẩm có chất lượng tốt, là bảo đảm
sản xuất sản phẩm với chi phí vật chất Ýt nhất mà đạt được hiệu quả nhiều
nhất.
Trong sản xuất chi phí vật tư thường chiếm tới 70% - 80% giá thành sản
phẩm công nghiệp. Riêng các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh, nếu sử dụng
tiết kiệm và giảm 1% chi phí vật tư, hằng năm cũng làm lợi cho Nhà nước
hàng trăm triệu đồng, vì vậy sử dụng tiết kiệm vật tư là biện pháp cơ bản để
hạ giá thành sản phẩm, tăng tích luỹ xã hội chủ nghĩa. Hơn nữa, với khối
lượng vật tư nhât định, phấn đấu hạ thấp định mức tiêu dùng vật tư cho đơn vị
sản phẩm không những giảm chi phí sản xuất, mà còn bảo đảm sản xuất khối
lượng sản phẩm nhiều hơn, tăng thêm của cải vật chất cho xã hội.
2. Vai trò của tiết kiệm vật tư trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
2.1. Giảm chi phí trong quá trình sản xuất sản phẩm từ đó giảm chí phí trên
một đơn vị sản phẩm, giảm giá thành sản phẩm từ đó tạo cho doanh nghiệp
nhiều lợi nhuận hơn và tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
phân xưởng từng doanh nghiệp mà còn phải không ngừng thúc đẩy áp dụng
khoa học kỹ thuật mới và sản xuất. Ngày nay, khoa học kỹ thuật không ngừng
phát triển và việc áp dụng các công nghệ mới vào trong sản xuất sản phẩm là
vô cùng quan trọng và là yếu tố sống còn của doanh nghiệp. Sử dụng công
nghệ mới không những tiết kiệm được vật tư mà còn tăng khả năng sản xuất
sản phẩm của doanh nghiệp, đồng thời nâng cao chất lượng, kiểu dáng của
sản phẩm, tạo sự đa dạng trong sản phẩm.
2.5. Tăng khả năng cạnh tranh ở cấp độ sản phẩm, Doanh nghiệp, toàn nền
kinh tế quốc dân.
Tiết kiệm vật tư sẽ làm giảm chi phí trên một đơn vị sản phẩm từ đó giá
mỗi đơn vị sản phẩm của doanh nghiệp sẽ giảm nh vậy sẽ nâng cao khả năng
cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.
3. Những biện pháp cơ bản nhằm sử dụng hợp lý và tiÕt kiệm vật tư.
Hiện nay đất nước ta còn nghèo, nền công nghiệp nặng chưa lớn mạnh, cơ
sở nguyên liệu nông nghiệp chưa phát triển vững chắc, nhiều loại vật tư còn
phải nhập của nước ngoài; do đó, việc phấn đấu sử dụng tiết kiêm vật tư, tích
cực dùng nguyên vật liệu trong nước thay thế hàng nhập, vừa bảo đảm hiệu
quả kinh tế nhiều mặt, vừ có ý nghĩa chính trị to lớn.
Trong xí nghiệp sản xuất, mọi người lao động đều có trách nhiệm sử dụng
tiết kiệm vật tư, xí nghiệp phải triệt để thực hành tiết kiệm trong mọi khâu: dự
trữ, bảo quản, sử dung vật tư. Trong đó, vấn đề quan trọng nhất là không
ngừng phấn đấu đạt và giảm mức tiêu dùng vật tư trong sản xuất, sử dung
tổng hợp nguyên, vật liệu và tích cực sử dụng nguyên, vật liệu thay thế cho
loại vật tư khan hiếm, nhập của nước ngoài.
3.1. Hạ thấp trọng lượng thực của sản phẩm, hay là nâng cao hiệu quả sử
dụng nguyên, vật liệu chính trên cơ sở bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng sản
phẩm
Do tính chất công nghệ và tính năng sử dụng vật liệu có khác nhau, cho
nên biện pháp hạ thấp định mức tiêu dùng nguyên, vật liệu phải vận dụng cụ
thể, thích hợp với điều kiện thực tế.
may quần áo trẻ em; sắt vụn làm bản lề, đồ chơi trẻ em…)
Trong nhiều ngành công nghiệp cần nghiên cứu tổng hợp sử dụng
nguyên, vật liệu, tức là sử dụng số lượng chất có Ých khác nhau còn lại trong
nguyên, vật liệu để sản xuất ra nhiều loại sản phẩm khác nhau. Đó là con
đường sử dụng nguyên, vật liệu hợp lý và tiết kiệm nhất.
3.3. Sử dụng vật liệu thay thế trên cơ sở bảo đảm chất lượng sản phẩm với
hiệu quả kinh tế cao.
Việc sử dung vật liệu thay thế là một hướng quan trọng để sử dụng hợp lý
và tiết kiệm vật tư, giải quyÕt được khó khăn trong nhiều trừơng hợp thiếu vật
tư.
Trong thực tế sản xuất chóng ta có khả năng thay thế loại vật liệu đang
dùng trong các trường hợp nh sau:
- Thay loại vật liệu phải nhập của nước ngoài bằng loại sẵn có trong nước.
- Thay loại vật liệu hiện có, đắt tiền bằng loại dễ có, rẻ tiền.
- Thay loại vật liệu có chất lượng tốt bằng loại chất lượng kém hơn mà
vẫn bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm.
- Thay loại nguyên, vật liệu vốn là lương thực bằng loại không phải là
lương thực để dành nguyên liêu đó cho nhu cầu cần hơn.
- Thay loại vật liệu tốt, nguyên chất bằng loại phế liệu của xí nghiệp
khác thải bỏ, vv…
Trong vấn đề này cần nắm vững tính năng của vật liệu được thay thế;
nghiên cứu việc thay thế vật liệu ngay trong thiết kế sản phẩm và đồng thời
phải cải tiến quy trình công nghệ, cải tiến máy móc thiết bị… cho phù hợp
điều kiện mới.
3.4. Tăng cường công tác tổ chức quản lý sử dụng vật tư
Đi đôi với các biện pháp tổ chức kỹ thuật phải rất coi trọng áp dụng các
biện pháp tổ chức và quản lý, như tăng cường công tác kiểm tra và hạch toán
vật tư, thực hiện tốt các chế độ quản lý vật tư, chế độ trách nhiệm vật chất và
khuyến khích lợi Ých vật chất…
Chương II
phát triển của thị trường hàng hóa đã tạo điều kiện mở mang giao lưu buôn
bán giữa các quốc gia. Trải qua quá trình phát triển lâu dài, quan hệ kinh tế
quốc tế ngày càng trở nên phổ biến, bao quát nhiều lĩnh vực với nhiều hình
thức. Đặc biệt vài chục năm gần đây, xuất hiện những nhân tố kinh tế - kỹ
thuật rất mới dẫn đến bước phát triển nhảy vọt là toàn cầu hóa các quan hệ
kinh tế. Đó là :
• Lực lượng sản xuất vươn mạnh ra ngoài biên giới quốc gia cùng nhiều
công nghệ hiện đại, nhất là cuộc cách mạng thông tin đã tạo nên cuộc cách
mạng thông tin liên hoàn toàn cầu; những tiến bộ mới trong giao thông vận tải
đã rút ngắn thời gian giao tiếp giữa các vùng lãnh thổ biên giới Nhưng điều
kiện vật chất có tính quyết định đó làm cho các hoạt động kinh tế lan tỏa khắp
toàn cầu.
• Sự phân công lao động quốc tế vừa phổ cập trên diện rộng, vừa phát
triển theo chiều sâu. Các quan hệ thương mại, các dòng vốn đầu tư, các hoạt
động dịch vụ phát triển rộng khắp chưa từng có giữa các nước.
• Mức độ liên kết thống nhất của thị tường thế giới được tăng cường :
không còn hiện tượng tách rời thị trường XHCN ( khu vực I) với thị trường
TBCN ( khu vực II) ; các cường quốc công nghiệp không còn phân chia thị
trường thế giới thành những vùng ảnh hưởng rõ rệt của riêng từng nước ; các
công ty đa quốc gia phát triển nhanh chong, trong cùng một lúc, thậm nhập thị
trường nhiều nước; quy mô và tốc độ chu chuyển vốn, hàng hóa, dịch vụ, lao
động, công nghệ tăng lên rất nhanh, diễn ra đồng thời trên cả ba cấp : quốc
gia, khu vực, toàn cầu.
Đúng nh nhận định của Mác-Ănghen trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng
Sản: “Đại công nghiệp tạo ra thị trường thế giới. Thay cho tình trạng cô lập
trước kia của các địa phương và dân téc tự cung tự cấp, ta thấy phát triển
những quan hệ phổ biến, sự phụ thược phổ biến giữa các dân tộc”. Hoặc nh
mọi suy tưởng khác của các nhà kinh điển cho rằng: Giá rẻ của sản phẩm là
những trọng pháo bắn thủng vạn lý trường thành của các quốc gia.
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt
những tiến bộ khoa học công nghệ, những kiến thức hiện đại về quản lý kinh
tế cần nắm bắt và vận dông ; những thị trường mới cần thâm nhập để tăng
nhanh xuất khẩu, phục vụ mục tiêu thay thế nhập khẩu một các có hiệu quả ;
những đối tác mới cần thu hót nhằm thực hiện tốt hơn chủ trương đa phương
hóa, chống vị thế độc quyền của bất kỳ ai trên bất cứ lĩnh vực nào của nền
kinh tế nước ta.
Thực trạng kinh tế nước ta cho thấy: tiềm lực kinh tế rất lớn, phong phú và
đa dạng, bao gồm nhiều lĩnh vực, trải rộng khắp các vùng lãnh thổ. Nhưng
thực trạng trước mắt cũng cho thấy: để khai thác nhanh những tiềm lực đó,
trong không Ýt trường hợp, rất cân sự tác động tích cực, có hiệu quả của các
nguồn kinh tế bên ngoài như là những nhân tố không thể thiếu để khai thác,
phát huy nội lực. Nói cách khác, phát huy nội lực là chính, nhưng phải kịp
thời tận dụng các ngoại lực; kết hợp nội lực với ngoại lực thành sức mạnh
tổng hợp tiến quân mạnh vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Mặt khác, thách thức cần đối phó không phải nhỏ: làm thế nào giữ vững
được chủ quyền quốc gia và định hướng XHCN trong suốt quá trình hội nhập
quốc tế? Làm thế nào không để xẩy ra thua thiệt, thâm chí thất bại trên thương
trường nội địa và quốc tế do khả năng cạnh tranh quá yếu; không để xẩy ra sơ
hở, thua lý. Không bị động trước những biến động lớn xẩy ra lơ là, mất cảnh
giác trước những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch
• Để tận dụng có hiệu quả mọi thời cơ thuận lợi, đồng thời đối phó thành
công với các loại thách thức, bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, các bên cùng có
lợi, điều quyết định là:
- Chủ động hội nhập quốc tế bằng một chương trình tổng thể với
những nội dung và lé trình hợp lý; không bị động, lôi cuốn chạy theo, nhưng
không do dự, bỏ lỡ thời cơ, thậm chí phải biết sử dụng hội nhập quốc tế làm
động lực thúc đẩy sự phát triển tiến bộ của nền kinh tế. Thực tế vừ qua cho
thấy : doanh nghiệp nào chấp nhận cạch tranh, kể cả cạnh tranh quốc tế, ra
sức cải tiến quản lý và công nghệ thì không những làm chủ thị trường nội địa
mà còn đứng vững trên thương trường quốc tế. Không Ýt tiến bộ trong nông
nước dùa trên tư duy mới về vai trò, vị trí và trách nhiệm của doanh nghiệp
Nhà nước, về cơ chế quản lý , chứ không chỉ dừng lại ở sắp xếp giản đơn,
thuần túy về số lượng nhiều Ýt.
- Gấp rút đào tạo một đội ngò cán bộ ngang tầm nhiệm vụ về cả hai
mặt nghiệp vụ và phẩm chất đạo đức.
Dùa trên mục tiêu, chủ trương chung, kết hợp chặt chẽ với hoạt động
của các ngành kinh tế với các ngành văn hóa, an ninh, quốc phòng, hình thành
sức mạnh tổng hợp của cả nước
- Kết hợp chặt chẽ chính trị đối ngoại với kinh tế đối ngoại, nhằm
nâng cao vị thế của nước ta trên chính trường quốc tế, đồng thời tạo thế đứng
vững chắc, có lợi thế kinh tế nước ta trên thương trường tòan cầu và khu vực.
• Trên thực tế, nền kinh tế nước ta đã hội nhập quốc tế từ lâu, nếu kể từ
khi nước ta tham gia Hội đồng tương trợ kinh tế của các nước XHCN (SEV)
và những hoạt động tích cực, đa dạng của nước ta mấy năm gần đây trên lĩnh
vực quan trọng này.
Thực tế cũng cho thấy những gì nước ta thu nhận được từ hội nhập
quốc tế, đã góp phần xứng đáng với những thành tựu kinh tế to lớn, có ý
nghĩa rất quan trọng của thời gian qua.
Những gì đã thực hiện, đã giành được chứng minh rằng : Đảng ta,
Nhà nước và nhân dân ta có đủ bản lĩnh và khả năng khai thác những gì lợi
thế của hội nhập quốc tế , đồng thời đối phó thành công với nhiều loại thách
thức phức tạp. Thực tế vừa qua về cả hai mặt “được” và “chưa được” đều là
những kinh nghiệm, bài học bổ Ých giúp chúng ta mạnh dạn chuyển qua bước
phát triển mới của hội nhập quốc tế.
B. Những lợi thế và bất lợi của doanh nghiệp trong cạnh tranh và nâng
cao khả năng cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp
Trong thời kỳ hội nhập cuả nền kinh tế, cạnh tranh trên thương trường
diễn ra vô cùng gay gắt và khốc liệt, do đó đẩy mạnh khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp trong thời kỳ này là vô cùng quan trọng và cấp thiết. Đặc biệt
trong vấn đề cạnh tranh về sản phẩm khi người tiêu dùng đang có xu thế tin
Hồ Chí Minh”. Vì là chương trình điểm nên các nhà khoa học chỉ thực hiện
trong ba nhà máy sản xuất của ngành Nhựa và đã cho thấy kết quả đáng phấn
khởi, nếu chúng ta biết thực hiện tiết kiệm năng lượng. Kỹ sư Nguyễn Thế
Bảo cho biết : “Thực tế hiện nay, các doanh nghiệp sản xuất cố gắng đầu tư
thiết bị, công nghệ mới nhằm tăng năng xuất , với xu hướng tiến tới việc quản
lý chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế ISO. Nhưng mặt khác, lại
chưa quan tâm đúng mức việc quản lý các nguồn nguyên liệu đầu vào, nhất là
vấn đề năng lượng, làm giảm đi khả năng cạnh tranh của sản phẩm đồng thời
gây lãng phí tài nguyên ”. Đề tài trên chỉ thực hiện trong phạm vi ba nhà
máy và ở một điều kiện hạn chế, kể cả thời gian cũng như kinh phí, nhưng
những nhà khoa học đã khẳng định một số biện pháp tiết kiệm có thể áp dụng
được cho các nhà máy Nhựa. Thực tế cho thấy, hầu hết nguồn năng lượng chủ
yếu dùng để cung cấp các quy trình công nghệ là nguồn điện từ lưới điện
quốc gia và nguồn nước làm nguội khuôn, nếu không mua từ nguồn nước
thành phố thì doanh nghiệp tự khai thác, bắt buộc phải dùng bơm và như vậy
lại tăng chi phí sử dụng điện. Tuy nhiên, hầu hết các nguồn nước này, các nhà
máy chưa có kế hoạch thu hồi. Trong sử dụng điện, theo kết quả đo được chế
độ tải hiện thời, cùng với những chứng từ của nhà máy cung cấp cho thấy, các
động cơ hoạt động ở chế độ non tải, khoảng 60%, điều này làm giảm hiệu
suất của động cơ, gây lãng phí năng lượng. Hiện nay, các nhà máy sản xuất
trong ngành Nhựa sử dụng công nghệ Ðp phun và công nghệ Ðp đùn, mà các
lọai máy này đều có bộ phận sinh nhiệt để nung keo đến trạng thái nóng chảy
để Ðp kéo tạo ra sản phẩm. Các vòng gia nhiệt này có nhiệt độ khá cao, trên
200
0
C, nhưng lại để trần gây mất nhiệt rất nhiều. Điều này dẫn đến tổn thất
điện năng dùng để gia nhiệt cho điện trở bù vào phần nhiệt bị mất đi, đồng
thời làm cho môi trường làm việc nóng hơn, phải dùng nhiều quạt gió hơn để
giải nhiệt nên việc sử dụng điện nhiều hơn. Từ việc kiểm toán năng lượng thí
điểm ở một số nhà máy cho thấy, tiềm năng tiết kiệm năng lượng rất lớn, nếu
C-200
0
C nên gây thất thoát nhiệt rất lớn, gây hao phí
năng lượng điện), thay thế động cơ VS bằng động cơ thường và lắp Inverter,
thì số liệu thu thập được trong vòng một tháng so sánh với trước khi thực hiện
đã tiết kiệm khoảng 26% và thời gian hoàn vốn cho việc cải tiến trong vòng
11 tháng, ứng với giá điện như hiện nay, nếu giá điện tăng, thời gian hoàn
thành còn ngắn hơn.
Với điều kiện nguồn năng lượng hiện nay cũng như sự khan hiếm, thiếu
hụt năng lượng trong tương lai, thiết nghĩ, lãnh đạo các nhà máy sản xuất
trong ngành Nhựa nói riêng và những ngành công nghiệp khác nói chung, cần
có sự quan tâm đúng mức về việc tiết kiệm năng lượng trong sản xuất. Đây là
một trong những yếu tố thúc đẩy tính cạnh tranh của giá thành sản phẩm trên
thị trường nội địa và thế giới, đồng thời còn đóng góp vào việc bảo vệ môi
trường của chúng ta trong xu hướng phát triển bền vững.
D. Hệ số sử dông vật tư hiện nay ở Việt Nam.
Trong quá trình sử dụng vật tư ở khâu sản suất ra sản phẩm của doanh
nghiệp thì hệ số sử dụng vật tư được đánh giá bởi các chỉ tiêu sau:
1. Đánh giá trình độ hoàn thành kế hoạch sứ dụng vật tư
1.1. Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch tổng khối lượng dùng vật tư, là chỉ tiêu so
sánh giữa khối lượng vật tư thực tế đã sử dụng(M1) với tổng khối lượng vật
tư hạn t tư. Tổng khối lượng vật tư thực tế đã dùng xác định bằng công thức:
mức kế hoạch(Mn) trong thời kỳ đó, chỉ tiêu này tính riêng cho từng loại vật
tư
M1 = M2 + M3 – M4
Trong đó:
M1: Lượng vật tư thực tế đã dùng trong kỳ
M2: Lượng vật tư còn lại đầu kỳ
M3: Lượng vật tư nhận trong kỳ
M4: Lượng vật tư còn lại cuối kỳ
t
này càng cao biểu hiện
khối lượng sản phẩm được sản xuất ra trên đơn vị nguyên vật liệu càng nhiều
Công thức tình hệ số này là: K
t
=Q
t
/ M
1.3.2. Hệ số phế liệu (K
p
) là chỉ tiêu phản ánh lượng phế liệu sinh ra (P
1
) với
khối lượng nguyên, vạt liệu bỏ vào chế biến ra thành phẩm(M). Hệ số K
p
càng
cao lại càng chứng tỏ việc sử dụng nguyên, vật liệu càng nhiều lãng phí.
Công thức tính hệ số này là: K
p
= P
1
/ M
Giữa hai hệ số trên có quan hệ lấn nhau, với cùng khối lượng nguyên
vật liệu tiêu dùng (M), hệ số thành phẩm càng lớn thì hệ số phế liệu càng nhỏ
tương ứng.
Do đó, ta còn có thể tính được các hệ số trên nh sau:
K
p
=1 - K
t
phản ánh nhiều mặt hoạt động cung ứng vật tư kỹ thuật trong thời gian và
không gian cụ thể và được tập hợp thành hệ thống chỉ tiêu thống kê cung ứng
vật tư kỹ thuật. Hệ thống chỉ tiêu thống kê cung ưng vật tư kỹ thuật phản ánh
một cách cụ thể, đầy đủ, kịp thời và sâu sắc toàn bộ hoạt động cung ứng vật
tư kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân. Hệ thống chỉ tiêu thống kê cung ứng vật
tư kỹ thuật phải phù hợp với chỉ tiêu kế hoạch cung ứng vật tư kỹ thuật về tên
gọi, nội dung, ý nghĩa kinh tế và phương pháp xác định, làm cơ sở xây dựng
và kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch cung ứng. Ngoài ra, để có thể tiến
hành nghiên cứu và phân tích một cách toàn diện sâu sắc các hiện tượng và
quá trình cung ứng. Thống kê còn sử dụng một số các chỉ tiêu khác có liên
quan.
Quá trình phân phối, lưu thông vật tư kỹ thuật trong nền kinh tế quốc dân
thường diễn ra qua nhiều lần cung ứng, sử dụng vật tư kỹ thuật. XÐt trên giác
độ nền kinh tế quốc dân, tổng mức cung ứng và tổng mức sử dụng vật tư kỹ
thuật trong từng thời kỳ nhất định có thể nhất trí với nhau. Tuy nhiên, đối với
từng ngành hoặc từng đơn vị cơ sở, thì mức cung úng và mức sử dụng không
hoàn toàn nhất trí, vì có một bộ phận vật tư kỹ thuật còn lưu lại dưới hình
thức dự trữ để đảm bảo cho quá trình sản xuất và xây dựng khỏi bị gián đoạn.
Do đó, thống kê cung ứng vật tư kỹ thuật không những nghiên cứu tình hìng
cung ứng, tình hình nhập vật tư kỹ thuật mà còn nghiên cứu tình hình sử dụng
và dự trữ vật tư đã được cung ứng. Trong thống kê chất lượng vật tư cung ứng
được đánh giá qua một số phương pháp sau:
2.1. So sánh tỷ trọng các loại phẩm cấp.
Căn cứ tiêu chuẩn chất lượng, người ta chia một loại vật tư ra nhiêu loại
phẩm cấp thể hiện sự khác biệt về chất lượng của nguyên vật liệu. Do đó, vật
tư có chất lượng tốt chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số cung ứng, thể hiện chất
lượng loại vật tư cung ứng đó là tốt. Vì vậy trong phân tích có thể tính tỷ
trọng của từng loại phẩm cấp và so sánh giữa thực tế và kế hoạch, giữa các
thời kỳ và các khu vực để nghiên cứu chất lượng của vật tư
2.2. Hệ số phẩm cấp
p: Giá cả các loại phẩm cấp
p
A
: Giá loại vật tư tốt nhất
q: Lượng vật tư các loại phẩm cấp
Chương III
Phương hướng và các giải pháp để nâng cao khả năng
tiết kiệm vật tư của doanh nghiệp
A. Định hướng lâu dài cho tiết kiệm vật tư
1.1. Phải xây dựng được các định mức tiêu dùng vật tư trong việc sản xuất sản
phẩm. Đây là một công việc hết sức khó khăn và đòi hỏi không chỉ doanh
nghiệp mà cả nhà nước cùng phải cùng nhau xây dùng.
Trong quá trình sản xuất sản phẩm việc định ra các địch mức tiêu dùng
vật tư là vô cùng quan trọng. Xây dựng định mức thì ta mới có thể xây dựng
được kế hoạch, chiến lược phát triển sản phẩm, nâng cao chất lượng của sản
phẩm, hạ giá thành sản phẩm từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp trong thời kỳ mới.
- Công tác định mức phải đưa ra được các định mức kinh tế kỹ thuật tiên
tiến để giảm chi phí vật tư.
- Nhà nước phải tiến hành sây dựng hệ thống hoàn chỉnh các mức, các
tiêu chuẩn hao phí để đáp ứng yêu cầu quản lý nền kinh tế quốc dân.Từng
bước hoàn chỉnh hệ thống mức từ phân xưởng đến xí nghiệp, đến ngành trong
toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
- Tổ chức, đánh giá tình hình thực hiện mức trên tất cả các mặt.
+ Tổ chức thực hiện sản xuất theo các mức đã đề ra
+ Phổ biến kinh nghiệm thực hiện các mức trong nề kinh tế quốc
dân
+ Xây dựng hoàn thiện chế độ quản lý mức tiêu dùng vật tư
1.2 . Trong quá trình sản xuất phải dùa vào tiến bộ kỹ thuật và công nghệ
trong quá trình gia công chế biến. Trình độ cơ khí hoá và tự động hoá cao
công nhân viên phân xưởng hơn.
Tất cả các định hướng trên được xây dựng và lùa chọn để áp dụng trong
tất cả các khâu vận động nguyên liệu trong quá trình tái sản xuất, từ khâu thiết
kế sản phẩm, lùa chọn và sở chế nguyên liệu, tổng hợp sử dụng nguyên liệu,
đến việc tận thu tận dụng phế liệu, phế phẩm.