Đề tài: Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại một số ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh - Pdf 15


Luận Văn
Đề Tài: Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử
tại một số ngân hàng thương mại cổ phần
Việt Nam trên địa bàn Thành Phố Hồ
Chí Minh 1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin như hiện nay, mọi thành phần kinh tế
đều phải tự vươn lên để đủ sức cạnh tranh và hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế

đa dạng của khách hàng tác giả chọn đề tài: "Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử
tại một số ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trên địa bàn Thành Phố Hồ
Chí Minh" là đề tài khóa luận tốt nghiệp cao học kinh tế. Hy vọng đề tài sẽ góp phần
nhỏ giúp các ngân hàng thương mại Việt Nam định hướng và có cơ sở giải quyết các
vấn đề về phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử trong giai đoạn tới.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu về chuẩn mực, nguyên tắc và lý luận cơ bản về hoạt động dịch vụ ngân
hàng điện tử.
Trình bày các luận cứ khoa học và thực tiễn về phát triển dịch vụ ngân hàng điện
tử nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế trong giai đoạn tới.
Điều tra, phân tích, đánh giá thực trạng dịch vụ ngân hàng điện tử của các ngân
hàng thương mại tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, thấy được những thuận lợi cũng
như khó khăn về phía khách hàng khi sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử cũng như về
phía ngân hàng khi cung ứng dịch vụ ngân hàng điện tử. Trên cơ sở đó đề xuất một số
giải pháp chủ yếu phát triển, đa dạng hóa kênh giao dịch về dịch vụ ngân hàng điện tử
nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt
Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu các vấn đề liên quan đến dịch vụ ngân hàng điện tử và các công nghệ
bổ trợ đi kèm trong ngân hàng.

3
Nghiên cứu thực trạng dịch vụ ngân hàng điện tử và công tác tổ chức, vận hành,
quản lý ứng dụng của các ngân hàng thương mại tại địa bàn TP. Hồ Chí Minh hiện nay,
những thuận lợi và rủi ro mà các ngân hàng có thể gặp phải khi cung ứng dịch vụ này.
Về không gian, đề tài nghiên cứu hoạt động của các ngân hàng tại địa bàn Thành
phố Hồ Chí Minh.
Về thời gian, giới hạn nghiên cứu của đề tài là hoạt động của các ngân hàng từ
năm 2004 đến năm 2008.
4. Phương pháp nghiên cứu

đại như máy giao dịch tự động (ATM), máy thanh toán tại các điểm bán hàng (POS),
mạng lưới cung cấp dịch vụ ngân hàng thông qua mạng điện thoại, máy tính cá nhân…
Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông, của khoa
học kỹ thuật, của công nghệ mới như Internet, mạng điện thoại di động, Web…, mô
hình ngân hàng với hệ thống quầy làm việc, những tòa nhà cao ốc, giờ làm việc hành
chính 7, 8 giờ sáng đến 4, 5 giờ chiều (“brick and mortar” Banking) đang dần được cải
tiến và thay thế bằng mô hình ngân hàng mới – ngân hàng điện tử (“click and mortar”
Banking). Khẳng định bằng những thành công trong các năm qua, ngân hàng điện tử đã
có những bước phát triển vượt bậc và trở thành mô hình tất yếu cho hệ thống ngân
hàng trong thế kỷ 21.
Tại các nước đi đầu như Mỹ, các nước Châu Âu, Australia và tiếp sau đó là các
quốc gia và vùng lãnh thổ như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Hồng Kông, Đài
Loan… các ngân hàng ngoài việc đẩy mạnh phát triển hệ thống thanh toán điện tử còn

5
mở rộng phát triển các kênh giao dịch điện tử (E – Banking) như các loại thẻ giao dịch
qua máy giao dịch tự động ATM, các loại thẻ tín dụng Smart Card, Visa, Master
card… và các dịch vụ ngân hàng trực tuyến như: Internet Banking, Mobile banking,
Telephone Banking, Home Banking, Call center. Theo thống kê của Stegman, năm
2001 ở Mỹ có trên 14 triệu khách hàng sử dụng các dịch vụ ngân hàng trực tuyến. Ở
Anh, theo khảo sát của BACS (Bankers Automated Clearing Services), số người sử
dụng dịch vụ này đã tăng từ 3,5 triệu lên 7,8 triệu trong vòng hai năm. Số người thanh
toán hóa đơn và chuyển tiền qua Internet hoặc qua điện thoại cũng tăng mạnh. Trong
năm 2002 đã có 7,2 triệu người thanh toán các loại chi phí và chuyển khoản theo
đường này tăng 44% so năm 2001 và đã có tổng cộng 72 triệu lượt thanh toán trực
tuyến, trong đó số người sử dụng thẻ tín dụng chiếm hơn một nửa. Ở khu vực Châu Á-
Thái Bình Dương, Singapore và Hồng Kông đã phát triển các dịch vụ ngân hàng điện
tử từ rất sớm. Tại Hồng Kông, dịch vụ ngân hàng điện tử có từ năm 1990, còn các ngân
hàng ở Singapore cung cấp dịch vụ ngân hàng qua Internet từ năm 1997. Dịch vụ
Internet Banking ở Thái Lan hoạt động từ năm 2001. Trung Quốc mới tham gia hoạt

Từ 500 đến 1,000 418

34

Từ 1,000 đến 3,000 312

42

Từ 3,000 đến 10,000 132

58

Trên 10,000 94

84

Nguồn: FDIC
Kể từ khi ngân hàng đầu tiên cung cấp dịch vụ ngân hàng qua mạng đầu tiên tại
Mỹ vào năm 1989 – ngân hàng WellFargo. Từ đó đến nay có rất nhiều tìm tòi, thử
nghiệm, thành công cũng như thất bại trên con đường xây dựng một hệ thống ngân
hàng điện tử hoàn hảo, phục vụ tốt nhất cho khách hàng. Tổng kết chung hệ thống ngân
hàng điện tử được phát triển qua những giai đoạn sau đây:
Ø Brochure – ware: Là hình thái đơn giản nhất của ngân hàng điện tử. Hầu hết các
ngân hàng khi mới bắt đầu xây dựng ngân hàng điện tử là thực hiện theo mô hình
này. Việc đầu tiên chính là xây dựng một website chứa những thông tin về ngân
hàng, về sản phẩm lên trên mạng nhằm quảng cáo, giới thiệu, chỉ dẫn, liên lạc…
Thực chất ở đây chỉ là một kênh quảng cáo mới ngoài những kênh thông tin truyền
thống khác như báo chí, truyền hình… Mọi giao dịch của ngân hàng vẫn thực hiện
qua hệ thống phân phối truyền thống, tức là qua các chi nhánh ngân hàng.


Ø Dịch vụ ngân hàng điện tử được giải thích như là khả năng của một khách hàng
có thể truy cập từ xa vào một ngân hàng nhằm: thu thập thông tin, thực hiện các
giao dịch thanh toán, tài chính dựa trên các tài khoản lưu ký tại ngân hàng đó, đăng
ký sử dụng các dịch vụ mới
1
.
Ø Dịch vụ ngân hàng điện tử là một hệ thống phần mềm vi tính cho phép khách
hàng tìm hiểu hay mua dịch vụ ngân hàng thông qua việc nối mạng máy vi tính của
mình với ngân hàng
2
.
Như vậy, các khái niệm trên đều định nghĩa ngân hàng điện tử thông qua các
dịch vụ cung cấp hoặc qua kênh phân phối điện tử. Định nghĩa này có thể đúng ở
từng thời điểm nhưng không thể khái quát hết được cả quá trình lịch sử phát triển
cũng như tương lai phát triển của ngân hàng điện tử, một định nghĩa tổng quát nhất
về ngân hàng điện tử có thể được diễn đạt như sau: “Ngân hàng điện tử bao gồm
tất cả các dạng của giao dịch giữa ngân hàng và khách hàng (cá nhân và tổ
chức) dựa trên quá trình xử lý và chuyển giao dữ liệu số hoá nhằm cung cấp sản
phẩm dịch vụ ngân hàng”.
1.2. CÁC SẢN PHẨM DỊCH VỤ CỦA NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ
1.2.1. Internet Banking
Dịch vụ Internet banking giúp khách hàng chuyển tiền trên mạng thông qua các
tài khoản cũng như kiểm soát hoạt động của các tài khoản này. Để tham gia, khách
hàng truy cập vào website của Ngân hàng và thực hiện giao dịch tài chính, truy vấn
thông tin cần thiết. Thông tin rất phong phú, đến từng chi tiết giao dịch của khách hàng
cũng như thông tin khác về ngân hàng. Khách hàng cũng có thể truy cập vào các
Website khác để mua hàng và thực hiện thanh toán với Ngân hàng.

1
Trương Đức Bảo, Ngân hàng điện tử và các phương tiện giao dịch điện tử, Tạp chí tin học ngân

khách hàng đã sử dụng dịch vụ Internet banking thì khách hàng cũng có thể sử dụng
chung mã số truy cập và mật khẩu cho dịch vụ Phone banking.

10
Các dịch vụ Phone banking cung cấp như:
- Kiểm tra số dư tài khoản tiền gửi thanh toán;
- Nghe 5 giao dịch phát sinh mới nhất;
- Kiểm tra các thông tin về lãi suất, tỷ giá hối đoái;
- Kiểm tra các thông tin chứng khoán;
- Yêu cầu Ngân hàng fax bảng liệt kê giao dịch, lãi suất tiết kiệm, tỷ giá hối
đoái, bản giá chứng khoán, liệt kê giao dịch chứng khoán;
1.2.3. Mobile Banking
Là hình thức thanh toán trực tuyến qua mạng điện thoại di động, song hành với
phương thức thanh toán qua mạng Internet ra đời khi mạng lưới Internet phát triển đủ
mạnh vào khoảng thập niên 90.
Phương thức này được ra đời nhằm giải quyết nhu cầu thanh toán các giao dịch
có giá trị nhỏ (Micro payment) hoặc những dịch vụ tự động không có người phục vụ.
Muốn tham gia dịch vụ, khách hàng đăng ký để trở thành thành viên chính thức trong
đó quan trọng là cung cấp những thông tin cơ bản như: số điện thoại di động, tài khoản
cá nhân dùng trong thanh toán. Sau đó, khách hàng được nhà cung ứng dịch vụ thanh
toán qua mạng này cung cấp một mã số định danh (ID). Mã số này không phải số điện
thoại và nó sẽ được chuyển thành mã vạch để dán lên điện thoại di động, giúp cho việc
cung cấp thông tin khách hàng khi thanh toán nhanh chóng, chính xác và đơn giản hơn
các thiết bị đầu cuối của điểm bán hàng hay cung ứng dịch vụ. Cùng với mã số định
dạng khách hàng còn được cấp một mã số cá nhân (PIN) để khách hàng xác nhận giao
dịch thanh toán khi nhà cung cấp dịch vụ thanh toán yêu cầu. Sau khi hoàn tất các thủ
tục cần thiết thì khách hàng sẽ là thành viên chính thức và đủ điều kiện để thanh toán
thông qua điện thoại di động.
Các dịch vụ Mobile banking cung cấp như:
- Nhận tin nhắn khi số dư tài khoản tiền gửi thanh toán, tài khoản thẻ thay đổi.


12
Bước 1: Thiết lập kết nối (khách hàng kết nối máy tính của mình với hệ thống
máy tính của Ngân hàng qua mạng Internet (dial-up, Direct-cable, LAN, WAN…), sau
đó truy cập vào trang Web của ngân hàng phục vụ mình (hoặc giao diện người sử dụng
của phần mềm). Sau khi kiểm tra và xác nhận khách hàng, khách hàng sẽ được thiết lập
một đường truyền bảo mật (https) và đăng nhập (login) vào mạng máy tính của ngân
hàng.
Bước 2: Thực hiện yêu cầu dịch vụ (khách hàng có thể sử dụng rất nhiều dịch
vụ Ngân hàng điện tử phong phú và đa dạng như truy vấn thông tin tài khoản, chuyển
tiền, hủy bỏ việc chi trả séc, thanh toán điện tử… và rất nhiều dịch vụ trực tuyến khác).
Bước 3: Xác nhận giao dịch, kiểm tra thông tin, và thoát khỏi mạng (thông qua
chữ ký điện tử, xác nhận điện tử, chứng từ điện tử…); khi giao dịch được hoàn tất,
khách hàng kiểm tra lại giao dịch và thoát khỏi mạng, những thông tin chứng từ cần
thiết sẽ được quản lý, lưu trữ và gửi tới khách hàng khi có yêu cầu.
Các dịch vụ Home banking cung cấp như:
- Chuyển khoản (Funds transfer): Cho phép khách hàng chuyển tiền từ tài khoản
tiền gửi thanh toán đến các tài khoản tiền gửi thanh toán khác trong hoặc ngoài
hệ thống.
- Thanh toán hóa đơn (Bill payment): Khách hàng thanh toán các hóa đơn cước
phí điện, nước, điện thoại, internet, thông qua ngân hàng nhanh chóng.
- Chuyển tiền (Money transfer): Khách hàng có thể chuyển tiền từ tài khoản tiền
gửi thanh toán đến các tài khoản tiền gửi thanh toán khác hoặc chuyển tiền đến
người nhận tiền mặt bằng CMND, passport, thẻ…
- Chuyển đổi ngoại tệ (Foreign exchange): Khách hàng có thể chuyển đổi ngoại
tệ của mình từ tài khoản ngoại tệ sang tài khoản tiền gửi thanh toán Việt nam
đồng trong hệ thống.
- Khách hàng có thể tra cứu thông tin như xem số dư tài khoản, liệt kê các giao
dịch trên tài khoản,


từng khách hàng cụ thể. Khách hàng cất giữ tiền điện tử trên máy tính cá nhân. Khi
thực hiện một giao dịch mua bán, khách hàng gửi tới nhà cung cấp một thông điệp điện
tử được mã hoá bởi khoá công khai của nhà cung cấp hàng hoá dịch vụ. Nhà cung cấp
dùng khoá riêng của mình để giải mã thông điệp đồng thời kiểm tra tính xác thực của
thông điệp thanh toán này với Ngân hàng phát hành cũng bằng mã khoá công khai của
Ngân hàng phát hành và kiểm tra số seri tiền điện tử.
1.2.8. Séc điện tử - Digital Cheques
Cũng sử dụng kỹ thuật tương tự như trên để chuyển phát séc và hối phiếu điện
tử trên mạng Internet. Séc điện tử có nội dung giống như séc thường, chỉ khác biệt duy
nhất là séc này được ký điện tử (tức là việc mã hoá thông điệp bằng mật mã cá nhân
của người ký phát séc). Khi NH của người thụ hưởng thực hiện nghiệp vụ nhờ thu séc,
họ sẽ đánh dấu lên thông điệp điện tử và việc thông điệp này được mã hoá bởi mã hoá
công khai của Ngân hàng phát hành séc sẽ là cơ sở cho việc thanh toán séc điện tử này.
1.2.9. Thẻ thông minh - Ví điện tử - Stored Value smart Card
Là một loại thẻ nhựa gắn với một bộ vi xử lý (micro-processor chip). Người sử
dụng thẻ nạp tiền vào thẻ và sử dụng trong việc mua hàng. Số tiền được ghi trong thẻ
sẽ được trừ lùi cho tới zero. Lúc đó chủ sở hữu có thể nạp lại tiền hoặc vứt bỏ thẻ. Ví
điện tử được sử dụng trong rất nhiều các loại giao dịch như ATM, Internet banking,
Home banking, Telephone banking hoặc mua hàng trên Internet với một đầu đọc thẻ
thông minh kết nối vào máy tính cá nhân.
1.3. ĐIỀU KIỆN ĐỂ PHÁT TRIỂN NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ
1.3.1. Công nghệ bảo mật
SET (Secure Electronic Transaction): là một giao thức bảo mật do Microsoft
phát triển, SET có tính riêng tư, được chứng thực và rất khó thâm nhập nên tạo được độ

15
an toàn cao, tuy nhiên, SET ít được sử dụng do tính phức tạp và sự đòi hỏi phải có các
bộ đọc card đặc biệt cho người sử dụng.
SSL (Secure Socket Layer): là công nghệ bảo mật do hãng Nescape phát triển,
tích hợp sẵn trong bộ trình duyệt của khách hàng, đó là một cơ chế mã hóa (encryption)

hệ thống quỹ dự trữ liên bang (Federal Reserve System). Những tổ chức này có trách
nhiệm quản lý, điều hành hoạt động của các ngân hàng, kiểm soát tiền tệ và giảm thiểu
rủi ro trong hoạt động ngân hàng, bảo vệ quyền lợi của khách hàng.
Sau khi kiểm tra, đánh giá, FDIC sẽ tiến hành xếp hạng ngân hàng và cung cấp
chứng nhận bảo lãnh, cụ thể, trên những trang Web có biểu tượng FDIC, tức là được
chứng nhận về danh tiếng và được bảo đảm. Những ngân hàng nổi tiếng khi cung cấp
những dịch vụ cộng thêm như quỹ đầu tư, thường nêu rõ trên chú thích, ví dụ như trang
Web này không được bảo đảm bởi FDIC, và có rủi ro cao.
Trong ba quý đầu năm 2006, FDIC đã tăng thêm 1,4 tỷ USD, đưa số dư của quỹ
lên đến 50 tỷ USD tính tới 30/10/2006. Đây là con số đáng kể so với cùng kỳ năm
ngoái khi FDIC sáp nhập Quỹ bảo hiểm ngân hàng (Bank Insurance Fund) với Quỹ bảo
hiểm tiết kiệm (Savings Association Insurance Fund) với tổng giá trị quỹ là 866 triệu
USD và đã thanh toán tới 134 triệu USD cho các rủi ro mà khách hàng và các tổ chức
tín dụng gặp phải.
1.3.4. Phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ phục vụ cho bảo mật
Năm 2005, thị trường Công nghệ thông tin toàn cầu tăng trưởng là 8,4% tính
theo giá trị USD. Tổng giá trị toàn thị trường CNTT toàn cầu (không kể viễn thông đã
vượt qua ngưỡng 1.000 tỷ USD). Trong đó, mảng dịch vụ CNTT có giá trị thị trường là

17
624 tỷ USD năm 2005. Chi tiêu cho phần cứng vẫn tăng trưởng mạnh hơn cho chi tiêu
cho phần mềm, dịch vụ.
Công nghệ bảo mật trong nhiều năm qua đã có những bước phát triển vượt bậc.
Ngoài hệ thống máy chủ hiện đại với tốc độ xử lý theo cấp số nhân. Những công nghệ
bảo mật hiện đại liên tiếp ra đời với sự tham gia của nhiều tập đoàn lớn như thẻ thông
minh, hệ thống nhận dạng sinh trắc học, hệ thống backup dữ liệu, hệ thống bức tường
lửa, các chương trình phòng chống virus được cập nhật thường xuyên. Có thể kể tên
nhiều thương hiệu tên tuổi trong lĩnh vực CNTT cung cấp dịch vụ bảo mật như
Microsoft, Verisign, HP, Fujitsu, IBM, Compaq, Visa, Master, Symantec,…
Do tính chất nhạy cảm của lĩnh vực tài chính, ngân hàng, mặc dù còn một vài lỗ

cao, làm thay đổi cơ cấu tiền lưu thông, chuyển từ nền kinh tế tiền mặt qua nền kinh tế
chuyển khoản. Từ đó, Ngân hàng có thể kiểm soát các khoản thu chi qua hệ thống
Ngân hàng điện tử của mình, cũng từ đó có thể hạn chế được các vụ rửa tiền, chuyển
tiền bất hợp pháp, tham nhũng…
Đầu tư tín dụng cũng có sự thay đổi lớn. Các dự án đầu tư cũng có thể được đưa
lên trên mạng để chào mời các Ngân hàng thương mại. Máy tính điện tử phân tích các
dữ liệu truy cập, đưa ra các phương án để lựa chọn tối ưu. Ngân hàng thương mại thấy
rõ những điều cần tư vấn để bổ khuyết vào dự án đảm bảo khả năng thực thi.
Ngoài ra, mạng thông tin cung cấp cho các tổ chức tín dụng nắm được diễn biến
của các thị trường: tiền tệ, chứng khoán, hối đoái. Những diễn biến về lãi suất, giá cổ
phiếu, tỷ giá hối đoái. Các luồng vốn khả dụng được chào mời trên thị trường liên ngân
hàng phản ánh qua mạng sẽ giúp cho Ngân hàng có các chính sách đúng đắn và hoạch
định các phương án hoạt động phù hợp.
Có thể nói, Ngân hàng điện tử có vai trò vô cùng to lớn trong hệ thống ngân
hàng, nó đang tác động đến các ngân hàng, xúc tiến việc sáp nhập, hợp nhất, hình thành

19
các Ngân hàng lớn, nâng cao nguồn vốn tự có đủ sức trang bị công nghệ thông tin hiện
đại để đương đầu với cuộc cạnh tranh khốc liệt giành lợi thế về mình.
Mặt khác, nó cũng đẩy mạnh việc liên kết, hợp tác giữa các Ngân hàng ngày
càng chặt chẽ, phát triển đa dạng, mạnh mẽ, rộng khắp trong nước và thế giới… để
thiết lập các đề án phát triển nghiệp vụ kinh doanh sản phẩm và dịch vụ mới, sử dụng
mạng lưới thanh toán điện tử, thông tin rủi ro, tư vấn pháp luật, kiểm toán phòng ngừa,
lập quỹ bảo toàn tiền gửi, xây dụng các chương trình đồng tài trợ, lập chương trình
phối hợp đào tạo, nâng cao trình độ cán bộ nhân viên, kể cả các hình thức hợp tác trong
lĩnh vực dịch vụ và văn hoá xã hội…
1.4.2. Tính tất yếu của việc phát triển Ngân hàng điện tử trong hệ thống ngân
hàng thương mại cổ phầnViệt Nam
Thứ nhất, sự cạnh tranh trong lĩnh vực Ngân hàng ngày càng gia tăng. Đặc biệt,
những năm gần đây, quá trình toàn cầu hoá, tự do phát triển mạnh mẽ làm cho sự phát

mạnh, thì sẽ giành được nhiều ưu thế trong cạnh tranh và giảm thiểu những rủi ro quốc
tế trong quá trình hoạt động.
Mặt khác, một hệ thống ngân hàng đủ mạnh sẽ đảm bảo cho quốc gia tận dụng
được lợi thế và khắc phục được những hạn chế của quá trình toàn cầu hoá. Sức mạnh
chi phối quá trình toàn cầu hoá là sự chu chuyển nhanh các luồng vốn quốc tế ngắn và
dài hạn trên phạm vi toàn cầu với sự trợ giúp của thương mại điện tử toàn cầu và cụ thể
là phát triển ngân hàng điện tử.
Một khối lượng luồng vốn quốc tế sẽ đổ vào quốc gia có môi trường đầu tư và
các điều kiện khác liên quan hấp dẫn. Ngược lại, dòng vốn đó có thể lại “ào ào rút
chạy”, nếu như môi trường kinh doanh ở quốc gia đó kém với một hệ thống ngân hàng
hoạt động kém hiệu quả.

21
Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử là một trong những điều kiện giúp cho hệ
thống ngân hàng nước ta trở nên mạnh hơn trong xu thế mở cửa, hội nhập quốc tế về
ngân hàng.
Từ sự phân tích trên, có thể thấy muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi các ngân
hàng Việt Nam phải vươn lên mạnh mẽ để giải quyết nhiều vấn đề trong hoạt động của
ngân hàng. Một trong những vấn đề có tính quyết định trong xu thế cạnh tranh của hệ
thống ngân hàng Việt Nam ngày nay là phải phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử trong
hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam.
1.4.3. Những lợi ích mà dịch vụ ngân hàng điện tử mang lại
1.4.3.1. Giúp cho ngân hàng Trung Ương thanh tra giám sát
Với các thông tin, các dữ liệu được truy cập kịp thời, chính xác qua hệ thống
mạng, Ngân hàng Trung Ương khai thác khả năng phân tích, lựa chọn các giải pháp tối
ưu để sử dụng các công cụ điều tiết, kiểm soát từ nguồn gốc cung ứng tiền tệ để đạt
được mục đích điều hoà giữ vững ổn định tiền tệ đối nội và đối ngoại theo mong muốn,
có đủ điều kiện để đánh giá tình hình thực hiện cán cân thương mại, cán cân thanh toán
và diễn biến tốc độ phát triển kinh tế. Từ đó, vai trò của Ngân hàng Trung Ương sẽ
nâng cao hơn, phát huy hết chức năng của mình nếu như việc ứng dụng ngân hàng điện

hiện đại, kinh doanh đa năng nên khả năng phát triển, cung ứng các dịch vụ cho nhiều
đối tượng khách hàng, nhiều lĩnh vực kinh doanh của NHĐT là rất cao.
1.4.3.5. Tăng khả năng đầu tư tín dụng
Đầu tư tín dụng cũng có sự thay đổi lớn. Các dự án đầu tư cũng có thể được đưa
lên trên mạng để chào mời các Ngân hàng thương mại. Máy tính điện tử sẽ phân tích
các dữ liệu truy cập, đưa ra các phương án để lựa chọn tối ưu. Ngân hàng thương mại
thấy rõ những điều cần tư vấn để bổ sung vào dự án đảm bảo khả năng thực thi. Các

23
luồng vốn khả dụng được chào mời trên thị trường liên ngân hàng phản ánh qua mạng
sẽ giúp cho Ngân hàng có các chính sách đúng đắn và hoạch định các phương án hoạt
động phù hợp.
1.4.3.6. Tiết kiệm chi phí, tăng thu nhập
Phí giao dịch Ngân hàng điện tử được đánh giá là ở mức rất thấp so với giao
dịch truyền thống, đặc biệt là giao dịch qua Internet, từ đó góp phần tăng thu nhập cho
Ngân hàng. Sau đây là số liệu về phí giao dịch Ngân hàng khảo sát ở Mỹ đã minh
chứng cho điều đó:
Bảng 1.3: Phí giao dịch ngân hàng tại Mỹ hiện nay
Stt Hình thức giao dịch Phí bình quân 1 giao dịch (USD)
1 Giao dịch qua ngân dịch ngân hàng 1,07
2 Giao dịch qua điện thoại 0,54
3 Giao dịch qua ATM 0,27
4 Giao dịch qua Internet 0,015
Nguồn: Ngân hàng dự trữ liên bang Mỹ
1.4.3.7. Mở rộng phạm vi hoạt động, tăng khả năng cạnh tranh
Ngân hàng điện tử là một giải pháp của NHTM để nâng cao chất lượng dịch vụ
và hiệu quả hoạt động, qua đó nâng cao khả năng cạnh tranh của NHTM. Điều quan
trọng hơn là Ngân hàng điện tử còn giúp NHTM thực hiện chiến lược “toàn cầu hóa”
mà không cần mở thêm chi nhánh ở trong nước cũng như ở nước ngoài. Ngân hàng
điện tử cũng là công cụ quảng bá, khuyếch trương thương hiệu của NHTM một cách


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status