Sáng kiến kinh nghiệm thực hành sinh học lớp 9 - Pdf 27

Lời nói đầu
Như chúng ta biết sinh học là một môn khoa học tự nhiên, việc dạy học
môn sinh học đòi hỏi chúng ta phải truyền tải các kiến thức thực tế. Dạy học sinh
học có ý nghĩa to lớn đối với tương lai của mỗi người và của toàn xã hội.
Đối với bài thực hành sinh học là một nội dung rất khó, để dạy thành
công một bài thực hành đòi hỏi người giáo viên phải tìm tòi, nghiên cứu các
phương pháp phù hợp, nhưng việc vận dụng phương pháp phù hợp chưa hẳn đã
thành công, một giờ dạy thành công đòi hỏi rất nhiều yếu tố.
Qua thực tế giảng dạy tôi xin ghi lại để các đồng nghiệp tham khảo và
đóng gớp ý kiến để dạy một tiết thực hành thành công theo mong muốn.
PHẦN MỞ ĐẦU
Bối cảnh của đề tài:
Nhiệm vụ ở trường THCS là bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành những người
chủ tương lai của đất nước. Đây là những người chủ tương lai phải có trình độ văn
hóa, cần cù, sáng tạo để xây dựng đất nước.
Muốn như vậy cần đến vai trò quan trọng của người giáo viên. Giáo viên
phải có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng, phải tâm huyết, nhiệt tình với
nghề nghiệp, bên cạnh đó phải biết vận dụng phương pháp phù hợp với từng đối
tượng học sinh, từng kiểu bài, từng nội dung để giúp học sinh vận dụng tốt lí thuyết
vào thực hành và thực tiển cuộc sống.
Lí do chọn đề tài:
Việc vận dụng lí thuyết vào thực tiển cuộc sống gặp rất nhiều khó khăn.
Sinh học là môn khoa học thực nghiệm, khoa học luôn luôn mới, kiến thức sinh học
chủ yếu được hình thành bằng phương pháp quan sát, mô tả, thực hành thí nghiệm.
Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy đã thôi thúc tôi lựa chọn phương pháp dạy học
cho phù hợp.
Phạm vi và đối tượng của đề tài:
Thực hiện đối với các bài thực hành sinh học trong chương trình lớp 9.
Nội dung tôi trình bày được hình thành qua bài thực hành tính xác suất
xuất hiện các mặt của đồng kim loại.
Đối tượng nghiên cứu là nội dung bài thực hành tính xác suất xuất hiện

thiện kiến thức, kiểm tra, đánh giá kiến thức. Đặc biệt thí nghiệm có vai trò rất
quan trọng đối với việc dạy – học một bài thực hành. Thí nghiệm có thể do giáo
viên biểu diễn, hoặc do học sinh tự tiến hành. Thí nghiệm có thể tiến hành trên lớp,
trong phòng thí nghiệm, ngoài vườn, ngoài đồng ruộng hoặc tại nhà.
Trong bài thực hành thì thí nghiệm là nguồn kiến thức vừa có vai trò xây
dựng cái mới, vừa có vai trò củng cố, hoàn thiện và kiểm chứng, chứng minh một
vấn đề đã được nhắc đến.
Bằng hệ thống câu hỏi có tính chất định hướng giáo viên đã kích thích
hứng thú, sự tìm tòi độc lập sáng tạo của học sinh.
Bằng tài liệu quan sát được từ thí nghiệm do giáo viên biểu diễn hoặc bản
thân học sinh tự tiến hành, giúp học sinh có thể phân tích, so sánh, thiết lập mối
quan hệ nhân quả, trả lời các câu hỏi để đi tới các kết luận khái quát, phản ánh bản
chất của vấn đề hay hiện tượng sinh học.
Như vậy, với phương pháp này, học sinh ở vị trí của người nghiên cứu,
chủ động hành động giành lấy kiến thức nên sự lĩnh hội kiến thức của học sinh
được sâu sắc hơn, đầy đủ hơn.
Thực trạng vấn đề:
Từ thực tế điều kiện dân trí và kinh tế của xã hội, điều này dẫn tới học
sinh cũng gặp rất nhiều khó khăn trong việc thực hiện 1 tiết thực hành. Giáo viên
cũng gặp khó khăn trong giảng dạy. Nguyên nhân dẫn đến kết quả của các bài thực
hành chưa đạt được đến mức mong muốn là do: Thiếu đồ dùng, trang thiết bị thiết
yếu cho một số tiết thực hành, học sinh khó khăn về kinh tế nên chưa chuẩn bị tốt
các mẫu vật theo yêu cầu.
Mặt khác môn sinh học là một khoa học thực nghiệm, môn khoa học mở,
luôn luôn mới và rất trừu tượng.
Các em phải tự làm thí nghiệm để tìm kiến thức, qua phương pháp hoạt
động nhóm, học sinh phải tích cực để tìm tòi, làm thí nghiệm để đi đến kết luận,
giải quyết các vấn đề đặt ra một cách độc lập sáng tạo, làm được báo cáo thu hoạch
theo yêu cầu tránh những hạn chế trong học tập. Tuy nhiên không phải tất cả các
em đều làm được thí nghiệm, đều viết được báo cáo, không phải giáo viên nào cũng

Bước 1: Đặt vấn đề.
Thông báo đề tài nghiên cứu, nêu mục tiêu, yêu cầu nghiên cứu để kích
thích sự tự giác và hứng thú ban đầu của người học.
Bước 2: Phát hiện vấn đề.
Nêu mục đích cụ thể hơn, vạch rõ những thành phần cấu thành chủ đề
nghiên cứu để có sự định hướng cụ thể.
Bước 3: Đề xuất giả thiết của đề tài, dự đoán các phương án giải quyết,
vạch ra kế hoạch giải quyết.
Bước 4: Thực hiện kế hoạch giải quyết.
Bước 5: Đánh giá việc thực hiện kế hoạch.
Nếu kết quả thực hiện kế hoạch không phù hợp với giả thiết khoa học đã
nêu ra thì quay lại bước 3, đề xuất giả thiết khác.
Nếu việc thực hiện kế hoạch đưa đến kết quả chính xác, xác nhận giả thiết
đúng thì chuyển sang bước 6.
Bước 6: Phát biểu kết luận.
Ví dụ: bài thực hành: tính xác suất xuất hiện các mặt của đồng kim loại.
Giáo viên nêu mục tiêu và yêu cầu của bài thực hành, chia lớp thành các
nhóm thực hiện theo yêu cầu.
Cho mỗi nhóm hai đồng kim loại.
Sau đó tiến hành thực hành, gieo một đồng kim loại rồi tiếp gieo hai đồng
kim loại cùng một lúc, mỗi lần gieo 100 lần, rồi ghi lại kết quả thí nghiệm.
Từ kết quả gieo một đồng kim loại, liên hệ kết quả này với tỉ lệ các gieo
tử sinh ra từ con lai F
1
: Aa.
Từ kết quả gieo hai đồng kim loại, liên hệ với tỉ lệ kiểu gen ở F
2
trong lai
một cặp tính trạng, giải thích sự tương đồng.
Qua đó từ kết quả thực hành thí nghiệm đòi hỏi học sinh phải tư duy để


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status