Khóa luận tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một chính sách cơ bản trong hệ thống an sinh
xã hội của mỗi quốc gia. Với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị
trường, trình độ dân trí được nâng cao, người lao động càng ngày càng nhận
thức rõ được tầm quan trọng của BHXH. Tuy nhiên, không phải người lao động
nào cũng có đủ điều kiện được tham gia BHXH bắt buộc. Cùng với BHXH bắt
buộc, BHXH tự nguyện được hình thành theo quy định của Luật BHXH 2006 và
triển khai từ 1/1/2008 góp phần làm đầy đủ, hoàn thiện hơn pháp luật bảo hiểm
xã hội nước ta, bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật về bảo hiểm xã hội
cho mỗi người lao động, là điều kiện, yếu tố khuyến khích nền kinh tế nhiều
thành phần phát triển.
Quan điểm về việc xây dựng và thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện để
đảm bảo quyền được tham gia bảo hiểm xã hội của mọi người lao động đã được
Đảng và Nhà nước ta quan tâm từ rất sớm. Ngay từ khi xây dựng Bộ Luật Lao
động năm 1994, tại Điều 140 Chương XII của Bộ Luật Lao động được Quốc hội
khoá IX thông qua năm 1994, đã quy định “các loại hình bảo hiểm xã hội bắt
buộc hoặc tự nguyện được áp dụng đối với từng loại đối tượng và từng loại
doanh nghiệp để bảo đảm cho người lao động được hưởng các chế độ bảo hiểm
xã hội thích hợp”. Vì vậy, dù mới được triển khai nhưng trên phương diện
nghiên cứu khoa học đã có khá nhiều đề tài nghiên cứu, các công trình khoa học
và bài viết về BHXH tự nguyện. Tuy nhiên, do chưa có nhiều thời gian kiểm
nghiệm thực tế nên hầu hết các tác giả mới chỉ nghiên cứu BHXH tự nguyện ở
góc độ lý luận, chưa nghiên cứu tập trung thống nhất, đánh giá một cách tổng
quan nhất về loại hình BHXH này.
Bên cạnh sự phát triển của xã hội, theo yêu cầu hoàn thiện pháp luật luôn
được đặt ra. Nghiên cứu thực trạng pháp luật hiện hành về BHXH tự nguyện
trên cơ sở những kết quả đạt được, những tồn tại, bất cập từ đó hoàn thiện và
nâng cao hiệu quả thực hiện quy định pháp luật về BHXH tự nguyện luôn phải
được thực hiện rộng rãi. Trải qua gần 4 năm thi hành, đến nay chúng ta đã có
điều kiện kiểm nghiệm, đánh giá BHXH một cách thực tế nhất. Bởi vậy, tôi đã
thầy cô giá và các bạn để tôi có điều kiện nghiên cứu vấn đề này một cách sâu
sắc hơn trong thời gian tới. Xin trân trọng cảm ơn !
Trần Thị Huyền Lê KT33B
Khóa luận tốt nghiệp
Chương 1 : Khái quát chung về BHXH tự nguyện
1. Khái niệm BHXH tự nguyện
1.1.Khái niệm BHXH
Trong cuộc sống, con người muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi phải thỏa
mãn các nhu cầu tối thiểu về vật chất và tinh thần hay nói cách khác con người
phải lao động để tồn tại. Trong thực tế không phải lúc nào cuộc sống và lao
động cũng đều thuận lợi, thu nhập thường xuyên, sức khỏe ổn định mà luôn tiềm
ẩn những nguy hiểm, rủi ro như thiên tai, lũ lụt, ốm đau, tai nạn, những biến
động xã hội. Không ai tránh khỏi quy luật sinh – lão – bệnh – tử , không ai
lường trước được những khó khăn rủi ro sẽ xảy ra. Trong những trường hợp đó,
thu nhập cá nhân mất hoặc giảm sút, khả năng lao động cũng hạn chế nhưng các
nhu cầu cấp thiết của cuộc sống không hề mất đi mà còn tăng lên đáng kể, thậm
chí đòi hỏi các nhu cầu mới như ốm đau cần được chữa bệnh, tai nạn cần người
phục vụ…Điều này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới bản thân và gia đình mỗi
người mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển chung của toàn xã hội. Bởi vậy,
muốn tồn tại con người và xã hội phải tìm ra những biện pháp khắc phục.
BHXH là một biện pháp tỏ rõ sự ưu việt, có “sự bảo vệ của cộng đồng xã hội
đối với các thành viên của mình thông qua sự huy động các nguồn đóng góp vào
quỹ bảo hiểm xã hội để trợ cấp trong các trường hợp ốm đau, tai nạn, thương tật,
già yếu, thất nghiệp. Đồng thời chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông
con để ổn định đời sống của thành viên và đảm bảo an toàn của xã hội”.
Vậy BHXH là gì ?
Theo Từ điển Tiếng Việt, BHXH là sự “ bảo đảm những quyền lợi vật chất
cho công nhân, viên chức khi không làm việc được vì ốm đau, sinh đẻ, già yếu,
bị tai nạn lao động” [ ]
Dưới góc độ kinh tế, “BHXH là phạm trù kinh tế tổng hợp, là sự đảm bảo
BHXH cho mỗi người lao động.
“Tự nguyện là theo yêu cầu, đề nghị của chính mình, xuất phát từ ý muốn
của bản thân” [ tr 1675]. Ta có thể hiểu bản chất tự nguyện của BHXH thể hiện
Trần Thị Huyền Lê KT33B
Khóa luận tốt nghiệp
ở sự tự do ý chí của người tham gia, việc tham gia BHXH xuất phát từ nhu cầu,
nguyện vọng của chính bản thân người lao động mà không có sự bắt ép hay
cưỡng chế từ bất cứ chủ thể nào khác.
Theo từ điển giải thích thuật ngữ Luật học: “ BHXH tự nguyện là loại hình
BHXH hình thành trên cơ sở kết hợp giữa việc tổ chức, bảo trợ của Nhà nước
với sự tham gia tự nguyện của người lao động có nhu cầu bảo hiểm [tr87].
Theo Luật BHXH 2006, BHXH tự nguyện là loại hình BHXH mà người lao
động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù
hợp với thu nhập của mình để hưởng BHXH ( Khoản 3 Điều 3 Luật BHXH )
Nhìn chung, căn cứ vào mục tiêu an sinh xã hội của BHXH nói chung, tính
chất đặc thù luôn bảo đảm tính tự nguyện cho người tham gia, có thể hiểu một
cách tổng quát: BHXH tự nguyện là một hình thức bảo hiểm xã hội được áp
dụng cho những người lao động có nhu cầu, nguyện vọng tham gia theo cơ chế
tự nguyện. Trong đó xác định các mức và phương tiện đóng BHXH tự nguyện
khác nhau, tạo điều kiện cho người lao động tham gia bảo hiểm phù hợp với
khả năng, điều kiện thực tế.
2. Đặc điểm BHXH tự nguyện.
BHXH tự nguyện là một hình thức tham gia của BHXH bên cạnh BHXH
bắt buộc. Do vậy, BHXH tự nguyện cũng mang đầy đủ các đặc điểm của BHXH
nói chung:
- BHXH luôn có một bên tham gia là cơ quan BHXH do nhà nước thành
lập và quản lý.
- BHXH mang tính chất tương trợ cộng đồng giữa những người lao động
trong phạm vi quốc gia.
- BHXH nhằm mục đích an sinh xã hội. thông qua các chế độ trợ cấp bảo
thu nhập của đối tượng này khá khó khăn và phức tạp nên để tạo điều kiện thuận
lợi, khuyến khíc việc tham gia BHXH tự nguyện thì các quy định pháp luật đã
linh hoạt trong việc cho phép người nào động lựa chọn, thay đổi mức thu nhập
cũng như phương thức đóng BHXH tự nguyện.
Trần Thị Huyền Lê KT33B
Khóa luận tốt nghiệp
Bên cạnh đó, xét về mặt lý luận, người lao động tham gia BHXH còn có
thể lựa chọn tham gia một số chế độ bảo hiểm xã hội phù hợp với nhu cầu của
mình. Hiện nay, ở hình thức BHXH bắt buộc đang thực hiện các chế độ sau: ốm
đau; thai sản; TNLĐ, bệnh nghề nghiệp; hưu trí và tử tuất; thất nghiệp. Trong
chính sách BHXH ở nhiều quốc gia có quy định nhiều chế độ khác nhau cho
NLĐ lựa chọn tùy thuộc vào khả năng và nguyện vọng của họ. Xuất phát từ
hoàn cảnh kinh tế, xã hội của đất nước mà ở Việt Nam hiện nay. BHXH tự
nguyện mới thực hiện 2 chế độ hưu trí và tử tuất. Với sự mở rộng, gia tăng các
chế độ BH khác thì trong tương lai không xa, tin chắc NLĐ thêm nhiều lựa chọn
khi tham gia BHXH tự nguyện, tính chất tự nguyện của loại hình BH này sẽ
ngày càng thể hiện rõ nét.
Thứ hai, BHXH tự nguyện có đối tượng áp dụng rộng rãi:
Mọi đối tượng trong xã hội, không phân biệt thành phần kinh tế, vùng
miền, mức thu nhập nếu có nhu cầu và điều kiện đều có thể tham gia BHXH tự
nguyện. Đối tượng mà BHXH tự nguyện hướng tới là những người lao động
thuộc khu vực không chính thức, những người lao động không thuộc diện tham
gia BHXH bắt buộc. Những đối tượng này chiếm đông đảo trong xã hội, theo số
liệu năm 2010, cả nước có trên 48 triệu người trong độ tuổi lao động lao động
thì có tới 33 triệu người lao động hoạt động trong khu vực phi chính thức, chưa
kể tới số lượng lao động gia tăng mỗi năm. Bên cạnh đó là nhu cầu tham gia
BHXH tự nguyện của những hiện nay đã tưng tham gia BHXH bắt buôc. Có thể
nói, BHXH tự nguyện hướng tới đông đảo người lao động trong xã hội.
Thứ ba, Quỹ BHXH tự nguyện hình thành trên cơ sở đóng góp của người
lao động, không có sự tham gia của người sử dụng lao động, ngoài ra còn có sự
nên đa dạng hơn, mức sống của người lao động thuộc các thành phần kinh tế đều
tăng lên, thu nhập của họ không những trang trải được các nhu cầu sinh hoạt
hàng ngày mà còn có tích lũy, dự phòng. Đồng thời Sự phát triển đó đã tạo điều
kiện cho thị trường lao động phát triển hơn, số người lao động tăng lên, sự
chuyển dịch lao động giữa các thành phần kinh tế tăng cao, đặc biệt số lượng lao
động trong khu vực phi chính thức tăng nhanh chóng. Như vậy, số lượng lao
Trần Thị Huyền Lê KT33B
Khóa luận tốt nghiệp
động thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc sẽ ít đi, thay vào đó là một lượng lớn
lao động tự do luôn phải đối mặt với những biến cố rủi ro, sự đào thải của “ thị
trường”. Giải quyết những vấn đề của thị trị lao động, mặt trái của hội nhập phát
triển kinh tế, ổn định xã hội thông qua hệ thống BHXH là một công cụ hữu hiệu.
Trong đó cần thiết quy định một loại hình bảo hiểm dành cho người lao động ở
khu vực phi chính thức như BHXH tự nguyện.
Đồi với người lao động : Bất kì người lao động nào khi tham gia quá trình
lao động sản xuất đều mong muốn thu nhập của mình được đảm bảo, có được sự
ổn định, an toàn cho cuộc sống. Nếu như người lao động ở khu vực chính thức,
có được sự hỗ trợ, đảm bảo thông qua BHXH bắt buộc thì người lao động tự do,
ở khu vực phi chính thức càng cần có sự đảm bảo cho những rủi ro, bất trắc mà
họ có thể gặp phải. BHXH tự nguyện sẽ góp phần đảm bảo điều kiện vật chất và
tinh thần cho người lao động khi thu nhập họ bị giảm hoặc mất đi do tuổi già
hoặc những biến cố trong cuộc sống. Không chỉ vậy, khi tham gia BHXH tự
nguyện, người lao động trong khu vực phi chính thức sẽ có được sự bình đẳng
trong tham gia BHXH với lao động trong khu vực chính thức, từ đó họ càng có
sự an tâm, tin tưởng trong cuộc sống.
Đối với xã hội, với sự hỗ trợ của quỹ BHXH tự nguyện, Nhà nước giảm bớt
gánh nặng những chi phí khi cuộc sống người dân gặp khó khăn, tạo sự chủ
động về tài chính. Mặt khác, sự bình đẳng giữa mọi người lao động ở các khu
vực, các thành phần kinh tế khác nhau trong việc đều được tham gia BHXH
chính là một yếu tố thúc đẩy sự phát triển bền vững của thị trường lao động, sự
thu nhập không thường xuyên và định kì, rất khó xác định thu nhập hàng tháng
của họ theo một con số cụ thể. Bởi vậy, nếu như người tham gia BHXH bắt
buộc, BH thất nghiệp có thể dựa trên cơ sở tiền lương, tiền công hàng tháng làm
căn cứ xác định mức đóng BH thì mức đóng BHXH tự nguyện lại dựa trên cơ sở
mức thu nhập mà người tham gia lựa chọn, thay đổi theo khả năng của họ ở từng
thời kì.
Tuy linh hoạt trong việc lựa chọn mức đóng nhưng việc lựa chọn mức đóng
đó luôn phải đảm bảo phù hợp với giới hạn tối thiểu và tối đa: thấp nhất bằng
Trần Thị Huyền Lê KT33B
Khóa luận tốt nghiệp
mức lương tối thiểu chung và cao nhất bằng 20 tháng lương tối thiểu chung.
Việc khống chế mức sàn là cần thiết nhằm bảo đảm mức đóng và hưởng không
quá thấp, bảo đảm BHXH tự nguyện có thể phát huy tác dụng của nó. Đồng
thời việc khống chế mức trần có thể tránh sự chênh lệch quá lớn về đời sống của
những người hưởng bảo hiểm và tránh gây xáo trộn, khó khăn cho quỹ BH khi
phải chi trả mức bảo hiểm quá cao so với mức chung.
Nguyên tắc đảm bảo sự liên thông giữa BHXH bắt buộc và BHXH tự
nguyện.
Nguyên tắc đã được khẳng định rõ tại Điều 4 Luật BHXH, theo đó: “Người
lao động vừa có thời gian đóng BHXH bắt buộc vừa có thời gian đóng BHXH tự
nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất trên cơ sở tổng thời gian
đóng BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện”
Đối tượng tham gia BHXH tự nguyện là những người thuộc diện không
tham gia BHXH bắt buộc. Tuy nhiên, với sự phát triển của kinh tế thị trường, sự
thay đổi cơ cấu ngành nghề, nhu cầu phát triển của cá nhân kéo theo sự chuyển
dịch của thành phần lao động, những người làm việc ở khu vực phi chính thức
có thể trở thành lao động tự do, làm việc khu vực phi chính thức và ngược lại. Ở
lại hình nào, người lao động đều có quyền tham gia BHXH đúng loại để bảo vệ
quyền lợi của mình. Nếu không có sự lien thông giữa 2 loại hình BH sẽ thực sự
thiệt thòi, không công bằng cho những người lao động khi bị gián đoạn, mất
nhiệm vụ nghiên cứu, xây dựng và trình ban hành loại hình BHXH tuổi già tự
nguyện đối với nông dân và lao động nông thôn.
Thực hiện nhiệm vụ này, từ năm 1997 đến nay, Bộ Lao động – Thương
binh và Xã hội đã nhiều lần trình Chính phủ về việc ban hành Điều lệ BHXH tự
nguyện. Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc thực hiện BHXH tự nguyện là rất khó
khăn do phần lớn đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội đều có thu nhập thấp,
không ổn định, khả năng đóng hạn chế. Vì vậy, Chính phủ đã có chỉ đạo hoàn
thiện chính sách BHXH tự nguyện và đưa vào Luật BHXH.
Trước những tác động của hội nhập kinh tế cùng với cam kết của Chính
Trần Thị Huyền Lê KT33B
Khóa luận tốt nghiệp
phủ trong việc gia nhập WTO về chính sách an sinh xã hội và với sự chin muồi
về nhận thức, về điều kiện kinh tế xã hội đất nước, về nhu cầu của đời sống xã
hội, ngày 29/6 /2006 tại kì họp Quốc hội khóa XI, nước ta đã thông qua Luật
BHXH có hiệu lực từ ngày 1/1/ 2007 nhưng đối với loại hình BHXH tự nguyện
có hiệu lực từ ngày 1/1/2008. Các quy định liên quan đến các chế độ, mức đóng,
mức hưởng của bảo hiểm xã hội tự nguyện được quy định tại Chương IV từ
Điều 69 đến Điều 79 và mục 2 Chương VI từ Điều 98 đến Điều 101 của Luật
Bảo hiểm xã hội. Đây là căn cứ pháp lý quan trọng để các Bộ, ngành liên quan
nghiên cứu, xây dựng, trình Chính phủ ban hành các văn bản hướng dẫn việc tổ
chức và thực hiện loại hình BHXH tự nguyện ở nước ta như Nghị định
190/2007/ NĐ- CP hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH tự
nguyện, Thông tư 02/2008/ TT- BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện một số điều
của Nghị định 190/ 2007/ NĐ- CP …
Như vậy ở Việt Nam, BHXH tự nguyện đã được quy định cụ thể tại các văn
bản pháp lý có giá trị cao. Với sự chuẩn bị kĩ lưỡng mọi điều cần thiết, thực tiễn
4 năm triển khai sẽ cho ta những kinh nghiệm, bài học để hoàn thiện pháp luật
BHXH tự nguyện và triển khai hiệu quả loại hình bảo hiểm này.
1. Chủ thể tham gia quan hệ BHXH tự nguyện
Quan hệ BHXH tự nguyện là quan hệ xã hội, phát sinh trong quá trình tổ
( Điều 2 Nghị định 190/ 2007/ NĐ- CP)
Việc xác định người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc không
thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc cần được phân biệt thật rõ để
thuận lợi trong tổ chức thực hiện và tránh việc doanh nghiệp “lách luật”, không
đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động, mà hướng người lao động
tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện để trốn tránh trách nhiệm của người sử
dụng lao động trong việc đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc. Việc quy định các
nhóm đối tượng tham gia như trên tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức, thực
hiện BHXH tự nguyện có hiệu quả và phù hợp với đặc điểm của từng đối tượng.
Đồng thời, theo quy định của pháp luật đã cho thấy đối tượng tham gia
BHXH tự nguyện đã hướng tới gần hết lực lượng lao động trong cả nước. Tính
Trần Thị Huyền Lê KT33B
Khóa luận tốt nghiệp
đến 2011 Việt Nam có tới 46, 48 triệu người trong độ tuổi lao động, nếu thực
hiện tốt BHXH tự nguyện thì sẽ có trên 50% dân số được thụ hưởng BHXH;
trong đó đã phần là những người mà trước đây chưa có điều kiện được tham gia
BHXH bắt buộc như nông dân, lao động tự do, người tự tạo việc làm Điều này
đã giảm bớt sự bất bình đẳng quyền lợi và nghĩa vụ giữa người lao động trong
các thành phần kinh tễ xã hội, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường đầy biến
động, cơ hội và rủi ro chia đều cho mọi người lao động.
Thực tế, theo báo cáo của BHXH Việt Nam BHXH tự nguyện, triển khai
thực hiện từ 1/1/2008 có khoảng 63.000người tham gia, trong đó có đến 80%
đối tượng tham gia là người đã có thời gian đóng BHXH bắt buộc nay có nhu
cầu tiếp tục tham gia để có điều kiện hưởng lương hưu.
Đến 31/6/ 2009, cả nước có khoảng 12390 người tham gia BHXH tự
nguyện, tăng hơn 2 lần so với năm 2008. Tính đến cuối năm 2009, lượng người
tham gia BHXH tự nguyện đã tăng lên một cách đáng kể là 41.193 người. Tuy
nhiên, trong đó có một lượng lớn là số BHXH nông dân Nghệ An chuyển sang
và trên 70% số người trước đó đã có thời gian tham gia BHXH bắt buộc
BHXH tự nguyện năm 2010 ước thực hiện là 61.689 người, tăng 49,8% so
nhau, trong mối liên hệ thống nhất, chặt chẽ theo quy định của pháp luật. Trong
đó vai trò của người lao động là quan trọng nhất và cần thiết còn Nhà nước chỉ
đóng vai trò hỗ trợ cho hoạt động BHXH tự nguyện. Tuy nhiên, trong mọi
trường hợp, sự tác động qua lãi lẫn nhau giữa các chủ thể tham gia quan hệ
BHXH tự nguyện luôn ảnh hưởng to lướn đến hoạt động của BHXH tự nguyện.
1.1.3. Đối tượng quản lý, thực hiện BHXH tự nguyện.
Người thực hiện BHXH tự nguyện là cơ quan BHXH do Nhà nước thành
lập. Do tính chất phức tạp và đặc thù trong quản lý và nghiệp vụ bảo hiểm nên
việc thực hiện BHXH đòi hỏi một cơ quan chuyện môn chứ không chỉ là cơ
quan quản lý chung. Cơ quan BHXH là một tổ chức sự nghiệp phục vụ lợi ích
công, có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản, trụ sở riêng. Đây là một trong số
tổ chức có quy mô lớn, mạng lười rộng khắp cả nước, là cơ quan có chức năng
Trần Thị Huyền Lê KT33B
Khúa lun tt nghip
v vai trũ quan trng trong h thng cỏc c quan nh nc. H thng c quan
BHXH c thnh lp thng nht t trung ng n a phng.
Quyn v trỏch nhim ca t chc BHXH c quy nh ti iu 19, iu
20 Lut BHXH v c th húa ti iu 8 Ngh nh 190/ 2007/ N- CP. Theo ú,
c quan BHXH cú chc nng qun lý, t chc thc hin BHXH t nguyn, chu
trỏch nhim t chc thu v phõn b phớ BHXH vo cỏc qu ti chớnh tp trung
chi tr cho cỏc ch BHXH t nguyn. ng thi l c quan cú chc nng
quan trng trong vic qun lý qu BHXH, t chc chi tr y , thun tin,
ỳng thi hn cỏc khon tr cp BHXG cho ngi tham gia khi cú iu kin
hng; xõy dng v t chc cỏc d ỏn v bin phỏp duy trỡ v phỏt trin qu,
tin hnh kim tra, thanh tra vic thc hin cỏc ch chớnh sỏch BHXH.
Nh vy, c quan BHXH l c quan thc hin BHXH t nguyn. C quan
ny hot ng trong khuụn kh phỏp lut, chu trỏch nhim trc Nh nc v
vic thc hin BHXH t nguyn i vi ngi lao ng theo quy nh ca phỏp
lut v chu trỏch nhim vt cht vi ngi c bo him khi h cú iu
kin theo quy nh ca phỏp lut.
Khóa luận tốt nghiệp
- L
min
: mức lương tối thiểu chung;
- m: là số nguyên, ≥ 0.
Mức thu nhập làm cơ sở để tính đóng BHXH được thay đổi tuỳ theo khả
năng của người lao động ở từng thời kỳ, nhưng thấp nhất bằng mức lương tối
thiểu chung và cao nhất bằng 20 tháng lương tối thiểu chung.
( Điều 26 Nghị định 190/ 2007/ NĐ- CP )
Theo quy định của Luật BHXH, mức đóng hằng tháng với BHXH tự
nguyện bằng 16% mức thu nhập người lao động lựa chọn đóng BHXH, từ năm
2010 trở đi, cứ hai năm một lần đóng thêm 2% cho đến khi đạt mức đóng là
22%. Cụ thể :
- Từ tháng 01 năm 2008 đến tháng 12 năm 2009 bằng 16%;
- Từ tháng 01 năm 2010 đến tháng 12 năm 2011 bằng 18%;
- Từ tháng 01 năm 2012 đến tháng 12 năm 2013 bằng 20%;
- Từ tháng 01 năm 2014 trở đi bằng 22%.
Việc thay đổi tỷ lệ đóng BHXH tự nguyện như trên để phù hợp với lộ
trình tăng mức đóng của BHXH bắt buộc, tạo điều kiện thuận lợi cho người lao
động trong quá trình di chuyển lao động. Cùng với việc tăng mức đóng BHXH
bắt buộc thì việc quy định tăng mức đóng BHXH tự nguyện là cần thiết. Bởi quỹ
BHXH cần có sự cân đối thu chi, bổ sung vào nguồn quỹ nhằm đảm bảo sự ổn
định và phát triển của quỹ phù hợp với mức chi trả các chế độ bảo hiểm. Nhìn
chung, với lộ trình tăng dần dần trong thời gian dài, trong mối tương quan với
BHXH bắt buộc thì quy định về mức đóng BHXH tự nguyện như vậy là phù hợp
và tương xứng với mức đóng góp của người tham gia BHXH bắt buộc.
Tuy nhiên, với mức đóng góp theo quy định, hiện nay là 20% , đối với
những người sống ở vùng nông thôn, đa phần là nông dân, người lao động có
thu nhập thấp và không ổn định nên việc tham gia BHXH tự nguyện bằng cách
chắt bóp thu nhập vốn ít ỏi hàng tháng của mình là rất khó khăn. Theo số liệu
mình.
•
Về phương thức đóng:
Theo quy định tại Điều 100 Luật BHXH và Điều 26 Nghị định 190/ NĐ-
Trần Thị Huyền Lê KT33B
Khóa luận tốt nghiệp
CP thì Người lao động được lựa chọn một trong các phương thức đóng hằng
tháng hoặc hằng quý hoặc sáu tháng một lần để phù hợp với điều kiện của mình.
Trong trường hợp đóng hàng tháng thì đóng vào 15 ngày đầu tháng; trong
trường hợp đóng hằng quý thì đóng vào 45 ngày đầu với phương thức đóng hàng
quý; đóng vào 3 tháng đầu với phương thức đóng 6 tháng một lần.
Tuy nhiên, do đây là một trong những ưu tiên đối với người tham gia bảo
hiểm xã hội tự nguyện nên nếu lựa chọn đóng 3 tháng một lần hoặc sáu tháng
một lần đều không phải đóng tiền lãi do đóng chậm hơn hàng thàng hay phải bù
chênh lệch số tiền đã đóng theo mức lương tối thiểu chung nếu Chính phủ có sự
điều chỉnh mức lương tối thiểu chung, cụ thể:
Mức đóng 3 tháng (hoặc 6 tháng) = Mức đóng hằng tháng x 3 (hoặc x 6 )
Người tham gia nếu có nguyện vọng được đăng kí lại mức đóng và phương
thức đóng với tổ chức BHXH tự nguyện nhưng ít nhất là sau 6 tháng kể từ lần
đăng kí trước. Thời điểm áp dụng mức đóng và phương thức đóng mới được
thực hiện từ tháng hoặc quý hoặc sáu tháng liền kề tùy thuộc vào phương thức
đóng mà NLĐ lựa chọn. Tuy nhiên, để đảm bảo thuận lợi trong quá trình thực
hiện thì việc lựa chọn mức thu nhập này nên được tiến hành để người lao động
đăng ký từ đầu năm và thực hiện ổn định trong suốt năm đó.
3. Chế độ BHXH tự nguyện
Hiện nay, chính sách BHXH bắt buộc thực hiện 6/9 chế độ bảo hiểm xã hội
theo khuyến nghị tại Công ước 102 của Tổ chức Lao động Quốc tế. Tuy nhiên,
đối với loại hình BHXH tự nguyện do nhu cầu, khả năng, trình độ quản lý, tổ
chức thực hiện không thể thực hiện ngay cả 6 chế độ như BHXH bắt buộc mà
chỉ thực hiện các chế độ BHXH dài hạn, đó là chế độ hưu trí và tử tuất.
Cũng như BHXH bắt buộc, về tuổi đời để hưởng chế độ hưu trí hàng tháng
của BHXH tự nguyện quy định “Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi”, tuổi nghỉ hưu
này được giảm tối đa là 5 tuổi, cụ thể là đủ 55 tuổi đối với nam và đủ 50 tuổi đối
với nữ trong các trường hợp người lao động có đủ 15 năm làm nghề hoặc công
việc nặng nhọc độc hại, có đủ 15 năm làm việc nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ
0.7 trở lên ( Điều 9 Nghị định 190/ 2007/ NĐ- CP). Quy định này về cơ bản đã
Trần Thị Huyền Lê KT33B
Khóa luận tốt nghiệp
phù hợp với thực tế và tương đồng với các nước trên thế giới. Tuy nhiên, đến
tuổi nghỉ hưu nhiều người lao động( đặc biệt là lao động nữ) vẫn đủ khả năng,
sức khỏe để làm việc. Ngoài ra, với sự đa dạng ngành nghề của đối tượng tham
gia BHXH tự nguyện, phần lớn là người lao động chân tay, công việc nặng nhọc
có thể không thể tiếp tục làm việc đến khi đủ tuổi theo quy định. Vì vậy, pháp
luật Việt Nam cần có sự điều chỉnh độ tuổi về hưu phù hợp cho người lao động
tham gia BHXH tự nguyện, cũng như đảm bảo sự bình đẳng khi xem xét tuổi về
hưu giữa lao động nam và lao động nữ.
Về thời gian đóng BHXH, cũng như BHXH bắt buộc, người lao động tham
gia BHXH tự nguyện phải đóng đủ 20 năm mới được hưởng lương hưu hàng
tháng. Việc quy định điều kiện này nhằm mục đích cân đối tài chính trong quá
trình đóng và hưởng, đảm bảo hợp lý giữa cống hiến, đóng góp và hưởng thụ
của những người tham gia BHXH tự nguyện. Ngoài ra, để đảm bảo cho người
lao động khi nghỉ việc nhưng thời gian đóng BHXH còn thiếu được hưởng chế
độ hưu trí hàng tháng, pháp luật quy định: “ Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi
nhưng thời gian đóng BHXH còn thiếu không quá 5 năm mới đủ 20 năm, kể cả
những người có đủ 15 năm đóng BHXH bắt buộc trở lên mà chưa nhận BHXH
một lần có nhu cầu tham gia BHXH tự nguyện thì được đóng tiếp cho đến khi đủ
20 năm”. Điều này rất có lợi cho đông đảo đội ngũ lao động làm việc ở cấp xã
như cán bộ đài truyền thanh, trạm y tế, dân số - kế hoạch hóa gia đình có thời
gian dài đóng BHXH bắt buộc, nhưng lúc nghỉ công tác thường chỉ được hưởng
chế độ một lần do chưa đủ tháng đóng BHXH để hưởng chế độ hưu trí. Có
không xác định mức lương tối thiểu thấp nhất trên cơ sở mức tiền lương tối thiểu
chung mà căn cứ vào mức bình quân thu nhập hàng tháng đóng BHXH tự
nguyện. Bởi, với tính chất tự nguyện của loại hình BH này, người lao động tự
xác định mức thu nhập đóng BHXH hàng tháng. Tuy nhiên, với cách tính như
vậy, mức hưởng lương hưu đối với người tham gia BHXH tự nguyện ( không kể
đến những người có thời gian tham gia BHXH bắt buộc ) là tương đối thấp, mức
lương hưu có thể thấp hơn mức lương tối thiểu chung, không đảm bảo hỗ trợ
cho người lao động khi về già, hạn chế khả năng lao động. Mức hưởng lương
Trần Thị Huyền Lê KT33B
Khúa lun tt nghip
hu thp l mt trong nhng lớ do khin BHXH t nguyn cha thc s hp dn
ngi lao ng.
Vic tớnh mc bỡnh quõn thu nhp thỏng úng BHXH t nguyn ó c
hng dn c th ti iu 16, iu 17 Ngh nh 190/2007/ N- CP v Thụng
t 02/2008/ TT- BLTBXH
Mc bỡnh quõn thu nhp thỏng úng BHXH c tớnh theo cụng thc sau:
Mc bỡnh quõn Tng s thu nhp ca cỏc thỏng úng BHXH t
nguyn
thu nhp thỏng úng =
BHXH t nguyn Tng s thỏng úng BHXH
i vi ngi va cú thi gian tham gia bo him xó hi bt buc, va cú
thi gian tham gia bo him xó hi t nguyn, khi ú mc bỡnh quõn thu nhp
tớnh hng bo him xó hi c tớnh bng cụng thc:
Mc bỡnh quõn tin lng, tin cụng v thu nhp thỏng úng
bo him xó hi c tớnh theo cụng thc sau:
Trong ú mc bỡnh quõn tin lng, tin cụng thỏng úng bo him xó hi
bt buc c tớnh theo quy nh Lut Bo him xó hi, Ngh nh 152/2006/
N- CP hng dn mt s iu ca Lut BHXH bt buc v Ngh nh
68/2007/ N- CP hng dn mt s iu ca Lut BHXH v BHXH bt buc
Mức trợ cấp được tính theo số năm đóng bảo hiểm xã hội kể từ năm thứ 31
trở đi đối với nam và năm thứ 26 trở đi đối với nữ. Cứ mỗi năm đóng BHXH thì
được tính bằng 0,5 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội.
( Khoản 2 Điều 72 Luật BHXH )
Ngoài ra người tham gia BHXH tự nguyện khi hưởng lương hưu hàng
tháng sẽ được hưởng bảo hiểm y tế do quỹ BHXH tự nguyện bảo đảm và nếu họ
chết thì thân nhân của họ sẽ được hưởng chế độ tử tuất.
Tạm dừng hưởng lương hưu hàng tháng:
Cũng như BHXH bắt buộc, người lao động đang hưởng lương hưu, trợ cấp
BHXH hàng tháng bị tạm dừng hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng khi
thuộc một trong các trường hợp sau:
- Chấp hành hình phạt tù nhưng không được hưởng án treo;
- Xuất cảnh trái phép;
- Bị Tòa án tuyên bố là mất tích.
3.1.2. Chế độ hưu trí 1 lần
Mục đích của việc tham gia bảo BHXH tự nguyện là để góp phần ổn định
cuộc sống cho người tham gia khi hết tuổi lao động. Với mục đích này, Nhà
nước khuyến khích người lao động tham gia đến khi đủ điều kiện để hưởng chế
độ hưu trí hàng tháng, tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan,
người lao động không thể tiếp tục đóng BHXH tự nguyện thì được nhận trợ cấp
BHXH một lần.
Điều kiện hưởng
Điều 73 Luật Bảo hiểm xã hội quy định về BHXH một lần đối với người
không đủ điều kiện hưởng lương hưu hàng tháng khi thuộc một trong các trường
hợp sau
Trần Thị Huyền Lê KT33B