Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS Trần Thị Thanh Mai
TÓM LƯỢC
Công ty cổ phần nghiên cứu và phát triển công nghệ giáo dục được thành lập
năm 2008, hoạt động với chức năng chính là cung ứng và sản xuất thiết bị giáo dục.
Tuy thành lập chưa lâu nhưng tên tuổi của công ty đang được thị trường biết tới như
một doanh nghiệp có chất lượng dịch vụ tốt, đáp ứng được nhu cầu của khách hàng.
Trong quá trình thực tập tại công ty cổ phần nghiên cứu và phát triển công nghệ
giáo dục, qua tìm hiểu về quá trình, cách thức cung ứng và sản xuất thiết bị giáo dục
của công ty em thấy việc nâng cao chất lượng thiết bị giáo dục là rất cần thiết, đặc biệt
có vai trò rất lớn trong việc tạo dựng văn hóa doanh nghiệp nhằm xây dựng và phát
triển thương hiệu cho công ty. Vì thế đã mạnh dạn chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao
chất lượng thiết bị giáo dục trong xây dựng và phát triển thương hiệu của công ty cổ
phần nghiên cứu và phát triển công nghệ giáo dục” làm đề tài khoá luận cho mình.
Nội dung tốt nghiệp gồm có 4 phần:
Phần mở đầu: tập trung vào việc nêu ra tính cấp thiết của việc nâng cao thiết bị
giáo dục, xác lập và tuyên bố mục tiêu nghiên cứu; đề ra phương pháp nghiên cứu; xây
dựng đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Chương 1: Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng sản phẩm trong quá trình phất
triển và bảo vệ thương hiệu.
Chương 2:Phân tích và đánh giá thực trạng chất lượng sản phẩm thiết bị giáo
dục của công ty cổ phần nghiên cứu và phát triển công nghệ giáo dục.
Nội dung của chương 2 tập trung giới thiệu về công ty cổ phần nghiên cứu và
phát triển công nghệ giáo dục, kết quả hoạt động kinh doanh trong 3 năm gần đây.
Đưa ra thực trạng hoạt động nâng cao thiết bị giáo dục của công ty cùng việc đưa ra
kết quả phân tích xử lý dữ liệu của phiếu điều tra cũng như dữ liệu thứ cấp, từ đó rút ra
những thành công, hạn chế và nguyên nhân.
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng thiết bị giáo dục trong quá trình phát
triển và bảo vệ thương hiệu của công ty cổ phần nghiên cứu và phát triển công nghệ
giáo dục.
Đưa ra phương hướng phát triển của công ty trong thời gian tới cũng như định
hướng về việc nâng cao chất lượng thiết bị giáo dục từ đó đưa ra một số đề xuất về
tập tại công ty cũng như làm khoá luận.
Em xin chân thành cảm ơn!
SVTH: Lưu Thị Năm Lớp: K47T5
2
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS Trần Thị Thanh Mai
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 2
5.1. Phương pháp thu thập dữ liệu 6
Phương pháp quan sát tổng hợp: Đây là phương pháp dựa trên những quan sát tổng hợp của người
điều tra. Những quan sát này có được trong quá trình tham gia vào các công việc thực tế của công
ty. Nhận biết được thái độ làm việc, ý thức thực hiện, tuân thủ các bước của quy trình, hiệu quả từ
đó phán đoán và đưa ra những giải pháp nhằm cải tiến cách thức thực hiện nhằm đem lại hiệu quả
cao nhất góp phần tạo dựng, phát triển thương hiệu cho công ty 7
5.2. Phương pháp phân tích, xử lý dữ liệu 7
3.3.2 Kiến nghị giúp nâng cao chất lượng thiết bị nhằm tăng cường và phát triển thương hiệu
của công ty cổ phần nghiên cứu và phát triển công nghệ giáo dục 32
Đối với nhà nước 32
KẾT LUẬN 33
SVTH: Lưu Thị Năm Lớp: K47T5
3
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS Trần Thị Thanh Mai
DANH MỤC BẢNG BIỂU,SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Bảng 1: Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty từ năm 2012-2014
Biểu hình 1: Nguồn biết đến thiết bị giáo dục của công ty
Biểu hình 2: Thang điểm đánh giá các tiêu chí chất lượng sản phẩm của doanh
nghiệp
Biểu hình 3: Biểu đồ đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng đối với việc nâng
cao chất lượng thiết bị giáo dục của công ty
Danh mục sơ đồ, hình vẽ
Sơ đồ 1: cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần Nghiên cứu và phát triển công nghệ
bị giáo dục trong xây dựng và phát triển thương hiệu của công ty cổ phần Nghiên cứu
và phát triển công nghệ giáo dục” làm đề tài khóa luận.
2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Có một số công trình nghiên trong nước cũng như quốc tế liên quan đến việc
nâng cao chất lượng sản phẩm như là: “Biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm ở nhà
máy bia Đông Nam Á”, “Quản lý chất lượng sản phẩm ở công ty cổ phần may Hưng
Yên và một số giải pháp góp phần làm nâng cao chất lượng sản phẩm”, “Các giải pháp
nâng cao chất lượng sản phẩm trong sản xuất, phương pháp áp dụng các biện pháp
quản lý chất lượng toàn diện TQM tại công ty TNHH NatSteel Vina”… Hay một số
công trình liên quan đến phát triển thương hiệu như là : “Xây dựng và phát triển
thương hiệu VNGAS cho công ty Shinpetrol”, “Xây dựng và phát triển thương hiệu
cho nông sản xuất khẩu Việt Nam”… Những đề tài nghiên cứu trên đều đưa ra những
SVTH: Lưu Thị Năm Lớp: K47T5
5
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS Trần Thị Thanh Mai
vấn đề lý luận cơ bản về vấn đề nâng cao chất lượng sản phẩm và phát triển thương
hiệu của công ty thực tập và từ đó đã đưa ra được các giải pháp, đề xuất và kiến nghị
nhằm hoàn thiện về chất lượng sản phẩm để phát triển thương hiệu bền vững hơn. Tuy
nhiên, cũng chưa có một công trình nào Nghiên cứu về việc nâng cao chất lượng sản
phẩm thiết bị giáo dục cho công ty cổ phần nghiên cứu và phát triển công nghệ giáo
dục trong quá trình phát triển và bảo vệ thương hiệu.
3. Mục đích nghiên cứu
Với đề tài “Giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm thiết bị giáo dục trong quá
trình xây dựng và phát triển của công ty cổ phần Nghiên cứu và phát triển công nghệ
giáo dục”, mục đích nghiên cứu là:
Khái quát một số vấn đề lý luận cơ bản về thương hiệu, những phương pháp
nâng cao chất lượng sản phẩm.
Phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng sản phẩm thiết bị giáo dục tại công ty
cổ phần Nghiên cứu và phát triển công nghệ giáo dục.
Đưa ra các giải pháp giúp nâng cao chất lượng sản phẩm và phát triển thương
nhằm cải tiến cách thức thực hiện nhằm đem lại hiệu quả cao nhất góp phần tạo dựng,
phát triển thương hiệu cho công ty.
5.2. Phương pháp phân tích, xử lý dữ liệu
Do số lượng tập mẫu điều tra không lớn nên các phiếu điều tra đều được xử lý
đơn giản bằng tính toán, tổng hợp thông thường không xử dụng công cụ, phần mềm hỗ
trợ nào khác. Các phương pháp phân tích số liệu được sử dụng trong đề tài.
Phương pháp so sánh: Áp dụng phương pháp này để so sánh kết quả năm này so
với năm trước về tình hình tăng giảm các chỉ tiêu, qua đó công ty có những hướng giải
quyết cụ thể trong tương lai. Phương pháp này được tiến hành thông qua việc tổng hợp
các số liệu và đem ra đối chiếu để thấy sự thay đổi giữa các năm.
Phương pháp phân tích tổng hợp: Dùng phương pháp này để có cái nhìn tổng
quan nhất về quá trình nâng cao chất lượng thiết bị dạy học của công ty từ đó rút ra
được những thành công, tồn tại và nguyên nhân, hướng đề xuất trong thời gian tới của
công ty.
6. Kết cấu
Ngoài phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, đề tài khóa luận
được chia làm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng sản phẩm trong quá trình
phất triển và bảo vệ thương hiệu.
Chương 2:Phân tích và đánh giá thực trạng chất lượng sản phẩm thiết bị
giáo dục của công ty cổ phần nghiên cứu và phát triển công nghệ giáo dục.
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng thiết bị giáo dục trong quá trình
phát triển và bảo vệ thương hiệu của công ty cổ phần nghiên cứu và phát triển
công nghệ giáo dục.
SVTH: Lưu Thị Năm Lớp: K47T5
7
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS Trần Thị Thanh Mai
CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SẢN
PHẨM TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU
1.1. Các khái niệm cơ bản
Khái niệm thương hiệu được đề cập đến trong quyển: “Thương hiệu với nhà
quản lý” của 2 tác giả PGS.TS Nguyễn Quốc Thịnh và Nguyễn Thành Trung :
“Thương hiệu trước hết là một thuật ngữ dùng nhiều trong marketing; là tập hợp các
dấu hiệu để phân biệt hàng hóa dịch vụ của cơ sở sản xuất kinh doanh (gọi là doanh
nghiệp) này với hàng hóa, dịch vụ cung loại của doanh nghiệp khác; là hình tượng về
SVTH: Lưu Thị Năm Lớp: K47T5
8
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS Trần Thị Thanh Mai
một loại, một nhóm hàng hóa,dịch vụ hoặc về doanh nghiệp trong tâm trí khách hàng.”
Thương hiệu là hình thức thể hiện bên ngoài, tạo ra ấn tượng, thể hiện cái bên trong
(cho sản phẩm hoặc doanh nghiệp). Thương hiệu tạo ra nhận thức và niềm tin của
người tiêu dùng đối với sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp cung ứng. Đồng thời
những cảm nhận, đánh giá của người tiêu dùng và công chúng cũng là yếu tố tạo nên
thương hiệu cho sản phẩm và doanh nghiệp. Giá trị của một thương hiệu là triển vọng
lợi nhuận mà thương hiệu đó có thể đem lại cho doanh nghiệp trong tương lai. Nói
cách khác, thương hiệu là tài sản vô hình nhưng đem lại giá trị hữu hình cho doanh
nghiệp.
• Vai trò của thương hiệu
Thương hiệu không chỉ đơn thuần là các dấu hiệu để nhận biết và phân biệt sản
phẩm như các nhãn hiệu hàng hóa, mà cao hơn nó còn là hình tượng về sản phẩm và
doanh nghiệp trong tâm trí công chính. Ở đây ngoài những dấu hiệu trực giác đơn
thuần còn có những dấu hiệu tri giác (như sự cảm nhận về uy tín, đẳng cấp, giá trị cảm
nhận của con người…) Đôi khi các dấu hiệu vô hình tri giác lại đóng vai trò rất quan
trọng , đưa đến quyết định mua sắm của khách hàng.Tất nhiên các dấu hiệu tri giác sẽ
được truyền tải thông qua các dấu hiệu trực giác. Thiếu cá dấu hiệu trực giác sẽ không
thể có dược sự liên tưởng và nhận biết đối với các dấu hiệu tri giác.
Từ tiếp cận trên đây có thể nhận thấy thương hiệu đóng vai trò cực kì quan
trọng trong chiến lược cạnh tranh và phát triển của doanh nghiệp. Cạnh tranh bằng
thương hiệu đang được các nhà quản trị doanh nghiệp quan tâm và triển khai trên
những quy mô và cấp độ khác nhau, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế quốc tế ngày càng
tác kinh doanh, cung cấp nguyên liệu và hàng hóa cho doanh nghiệp. Thương hiệu
luôn là tài sản vô hình và có giá của doanh nghiệp.Như vậy sẽ tạo ra một môi trường
thuận lợi cho doanh nghiệp trong kinh doanh, góp phần giảm giá thành sản phẩm và
nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa.
*Quá trình phát triển thương hiệu
Nhu cầu tối thượng của loài người là mong muốn sản phẩm có chất lượng ngày
càng cao hơn. Sự cam kết chất lượng được pháp lý hóa thành khái niệm Trade-mark.
Hàng nghìn năm trước khi chưa có khái niệm Trade-mark con người con người đã có
những khái niệm tương tụ như vấn đề này. Chính sự tiếp cận khái niệm thương
hiệu( Brand) từ Trade-mark của không ít người trong giới maketing đã dẫn đến những
quan điểm sai lầm rất phổ biến, xem brand chỉ là “ một tập hợp các dấu hiệu để nhận
biết hình ảnh, tính cách, thương hiệu…” trong giới branding tạo những khái niệm
không đầy đủ về brand.
“ Sự tiến hóa sản phẩm” song hành với quá trình tiến hóa của loài người, từ
khái niệm sản phẩm trở thành một thực thể đầy đủ hơn đó là Brand- Thương hiệu.
Ngày xưa con người thụ hưởng sản phẩm, ngày nay con người thụ hưởng thương
hiệu(trong đó có sản phẩm). Trong cái thực thể mà con người thị hưởng ngày nay, bên
cạnh nhóm lợi ích lý tính cơ bản còn có những nhu cầu theo những nấc cao hơn đối
với cùng một sản phẩm mà Maslow đã mô tả rất cụ thể qua tháp nhu cầu 5 bậc rất dễ
hiểu.
Sản phẩm tồn tại trong một vòng đời rất cụ thể, điều này được khẳng định bằng
lý thuyết maketing cơ bản. Thương hiệu là một chuỗi các sản phẩm nối tiếp nhau, và
vì vậy có khả năng tồn tại lâu hơn, thậm chí là mãi mãi nếu nó nắm bắt được xu hướng
phát triển của con người đối với từng nhu cầu cụ thể.
SVTH: Lưu Thị Năm Lớp: K47T5
10
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS Trần Thị Thanh Mai
1.2. Nội dung nâng cao chất lượng trong xây dựng và phát triển thương hiệu
1.2.1 Sự cần thiết nâng cao chất lượng trong xây dựng và phát triển thương hiệu
Nâng cao chất lượng để tăng doanh thu:
tiến nâng cao chất lượng sản phẩm.
Chất lượng sản phẩm là pham trù trừu tượng vừa có tính chủ quan vừa có tính
khách quan. Tính chủ quan của sản phẩm thể hiện thông qua chất lượng nhận thức của
khách hàng và phụ thuộc vào năng lực trình độ thiết kế sản phẩm. Tính khách quan thể
hiện thông qua các thuộc tính vốn có trong sản phẩm. Nhờ tính khách quan này chất
SVTH: Lưu Thị Năm Lớp: K47T5
11
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS Trần Thị Thanh Mai
lượng có thể đo lường đánh giá thông qua các tiêu chuẩn, chỉ tiêu cụ thể. Tính khách
quan của chất lượng phụ thuộc chặt chẽ vào tính chất đặc điểm và trình độ công nghệ,
trình độ tổ chức quản lý, sản xuất của các doanh nghiệp. Xem xét chất lượng sản phẩm
trong mối liên hệ giữa tính chủ quan và tính khách quan đòi hỏi các doanh nghiệp phải
xác định rõ những yếu tố cần hoàn thiện quá trình trước và quá trình sau, giữa nghiên
cứu triển khai và giữa sản xuất, kiểm tra và sử dụng.
Chất lượng sản phẩm chỉ thể hiện đúng trong những điều kiện tiêu dùng cụ thể
tương ứng với mục đích cụ thể đặt ra. Một sản phẩm có chất lượng tốt khi sử dụng
đúng mục đích, biết sử dụng đúng cách và giữ gìn bảo quản theo đúng quy định. Các
doanh nghiệp cần phải đảm bảo cung cấp đầy đủ, chính xác những thông tin về sản
phẩm và dịch vụ đi kèm cho người tiêu dùng để khai thác hết giá trị gia tăng sản phẩm
tạo ra.
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng sản phẩm
Khi nói đến chất lượng phải xem xét thông qua các chỉ tiêu đặc trưng mới
khách quan và chính xác được. Mỗi sản phẩm được đặc trưng bởi các tính chất, đặc
điểm là những nhũng đặc tính khách quan của sản phẩm trong quá trình hình thành và
sử dụng sản phẩm đó. Những đặc tính khách quan này phụ thuộc rất lớn vào trình độ
thiết kế quy định cho sản phẩm đó. Mỗi tính chất được biểu hiện bởi các chỉ tiêu cơ lý
hóa nhất định có thể đo lường đánh giá được. Vì vậy nói đến chất chất lượng sản phẩm
phải đánh giá thông qua hệ thống chỉ tiêu, tiêu chuẩn cụ thể. Đặc điểm này khẳng định
những quan diểm sai lầm cho rằng chất lượng sản phẩm là cái không thể đo lường,
đánh giá được. Hệ thống chỉ tiêu đó bao gồm:
Tính kinh tế của sản phẩm: Đây là yếu tố rất quan trọng đối với những sản
phẩm khi vận hành cần sử dụng tiêu hao nguyên liệu, năng lượng. Tiết kiệm nguyên
liệu, năng lượng trong sử dụng trở thành một trong những yếu tố quan trọng phản ánh
chất lượng và khả năn canh của sản phẩm trên thị trường.
Các chỉ tiêu này không tồn tại độc lập , tách rời mà có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau. Vai trò, ý ngĩa của từng chỉ tiêu rất khác nhau đối với mỗi sản phẩm khác nhau.
Mỗi loại sản phẩm cụ thể sẽ có những chỉ tiêu mang tính trội và quan trọng hơn
những chỉ tiêu khác. Mỗi doanh nghiệp phải lựa chọn và quyết định những chỉ tiêu
quan trọng nhất làm cho sản phẩm của mình mang sắc thái riêng, phân biệt với những
sản phẩm đồng loại trên thị trường. Hiện nay một sản phẩm được coi là có chất lượng
cao ngoài các chỉ tiêu an toàn đối với người sử dụng và xã hội, môi trườn ngày càng
quan trọng trở thành bắt buộc đối với cá doanh nghiệp. Đặc biệt là những sản phẩm có
tác động trực tiếp đối với sức khỏe và cuộc sống con người.
Để sản xuất kinh doanh một mặt hàng nào đó, doanh nghiệp phải xây dựng tiêu
chuẩn chất lượng sản phẩm, phải đăng ký và được các cơ quan quản lý nhà nước ký
duyệt. Tùy theo từng loại sản phẩm, từng điều kiện của doanh nghiệp mà xay dựng
tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm. Chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp phải đạt
được mức chất lượng đã đăng ký, đó là cơ sở kiểm tra, đánh giá, sản phẩm sản xuất.
* Ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng sản phẩm
Nâng cao chất lượng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong giai đoạn hiện
nay.Nâng cao chất lượng là cơ sở giúp cho doanh nghiệp hay tổ chức có khả năng
hoàn thiện hơn chất lượng của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ cũng như các hoạt động
khác. Nâng cao chất lượng giúp cho doanh nghiệp và tổ chức có thể tiết kiệm được chi
phí do rút ngắn được thời gian, các thao tác và các hoạt động hay sản phẩm hỏng trong
quá trình.
SVTH: Lưu Thị Năm Lớp: K47T5
13
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS Trần Thị Thanh Mai
Bất kì một doanh nghiệp nào cũng luôn mong muốn nâng cao được chất lượng,
sản phẩm dịch vụ của mình để thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của khách hàng và từ đó thu
với tiến bộ khoa học công nghệ trên thế giới. Bắt đầu từ cuộc cách mạng khoa học
công nghệ lần thứ nhất , chủng loại, chất lượng sản phẩm không ngừng thay đổi với
tốc độ hết sức nhanh. Tiến bộ của khoa học công nghệ có tác dụng như lực đẩy tạo khả
năng to lớn đưa chất lượng sản phẩm không ngừng tăng lên. Nhờ khả năng to lớn của
tiến bộ khoa học công nghệ sáng chế những sản phẩm mới, tạo ra và đưa vào sản xuất
những sản phẩm mới, tạo ra và đưa vào sản xuất những công nghệ mới có tác dụng chỉ
SVTH: Lưu Thị Năm Lớp: K47T5
14
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS Trần Thị Thanh Mai
tiêu kinh tế cao hơn, thay thế nguyên vật liệu mới, tôt, rẻ hơn, hình thành phương pháp
và phương tiện kỹ thuật quản trị tiên tiến góp phần giảm chi phí nâng cao chất lượng
sản phẩm.
• Cơ chế quản lý của Nhà nước
Khả năng cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm của mỗi doanh nghiệp phụ
thuộc vào cơ chế quản lý của Nhà nước. Cơ chế quản lý vừa là môi trường vừa là điều
kiện cần thiết tác động đến phương hướng, tốc độ cải tiên và nâng cao chất lượng sản
phẩm của các doanh nghiệp. Thông qua cơ chế và các chính sách Quản lý của Nhà
nước tạo điều kiện thuận lợi kích thích:
+ Tính độc lập, tự chủ sáng tạo trong cải tiến chất lượng của doanh nghiệp.
+ Hình thành môi trường thuận lợi cho huy động công nghệ mới, tiếp thu ứng
dụng những phương pháp quản trị chất lượng hiện đại.
+ Sự cạnh tranh lành mạnh, công bằng, xóa bỏ sức ỳ, tâm lý ỷ lại, không ngừng
phát huy sáng kiến cải tiến hoàn thiện chất lượng
• Điều kiện tự nhiên:
+Khí hậu: Các doanh nghiệp cần quan tâm đến khí hậu, phân tích mức độ ảnh
hưởng khí hậu từng mùa đến từng loại sản phẩm của mình.
+Bức xạ mặt trời: ảnh hưởng của các tia hồng ngoại trong ánh sáng của mặt
trời, những tia này có thể làm thay đổi mùi vị màu sắc của sản phẩm.
+Mưa, gió bão: Làm cho sản phẩm bị ngấm nước, độ âm cao, quá trình oxy hóa
mạnh hơn dẫn đến biến đổi chất lượng sản phẩm.
loạt. Trình độ công nghệ của các doanh nghiệp không thể tách rời trình độ công nghệ
trên thế giới. Muốn sản phẩm có chất lượng cao, đủ khả năng cạnh tranh trên thị
trường, đặc là thị trường quốc tế mỗi doanh nghiệp cần có chính sách công nghệ phù
hợp cho phép sử dụng những thành tựu khoa học công nghệ của Thế giới, đông thời
khai thác tối đa nguồn công nghệ nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng cao với chi phí
hợp lý.
• Vật tư nguyên liệu và hệ thống tổ chức đảm bảo nguyên vật liệu của doanh
nghệp.
Nguyên vật liệu là một yếu tố tham gia trực tiếp vào việc cấu thành nên sản
phẩm. Những đặc tính của nguyên liệu sẽ được đưa vào sản phẩm, vì vậy chất lượng
nguyên liệu ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm sản xuất ra. Không thể có
chất lượng cao từ nguyên liệu có chất lượng tồi. Chủng loại, cơ cấu, tính đồng bộ và
chất lượng nguyên liệu thích ứng tạo trên cơ sở tạo dựng mối quan hệ lâu dài, tạo hiểu
biết và tin tưởng lẫn nhau giữa người sản xuất và người cung ứng đảm bảo khả năng tổ
chức cung ứng đầy đủ kịp thời, chính xác đúng nơi cần thiết.
• Trình độ tổ chức quản lý và tổ chức sản xuất của doanh nghiệp
Trình độ quản trị nói chung và trình độ quản trị chất lượng nói riêng là một
trong những nhân tố cơ bản góp phần đẩy nhanh tốc độ cải tiến hoàn thiện chất lượng
sản phẩm của các doanh nghiệp, các chuyên gia quản trị chất lượng đồng tình rằng
trong thực tế có tới 80% những vấn đề về chất lượng là do quản trị gây ra. Vì vậy nói
đến quản trị chất lượng ngày nay người ta cho rằng trước hết đó là chất lượng của
quản trị. Các yếu tố sản xuất như nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, dây chuyền sản
xuất và người lao động dù ở trình độ cao nhưng nếu không biết tổ chức quản lý hợp lý
tạo ra sự đồng bộ, nhịp nhàng giữa các khâu, các yếu tố của quá trình sản xuất thì
không thể tạo ra sản phẩm có chất lượng cao được. Thậm chí trình độ quản lý tồi còn
làm giảm sút chất lượng sản phẩm, gây lãng phí nguồn lực sản xuất dẫn đến giảm hiệu
quả sản xuất kinh doanh. Chất lượng sản phẩm phụ thuộc rất lớn vào cơ cấu và cơ chế
quản trị, nhận thức, hiểu biết về chất lượng và trình độ chất lượng của cán bộ quản trị:
SVTH: Lưu Thị Năm Lớp: K47T5
16
phục vụ cho việc kinh doanh của công ty. Trong ba năm doanh thu của công ty đã tăng
đáng kể.
Từ năm 2010 đến nay là thời kì phát triển và đổi mới của công ty: công ty đã và
đang tiếp tục đổi mới công nghệ thiết bị, mở rộng sản xuất để đáp ứng nhu cầu ngày
càng cao của ngành giáo dục.Hiện nay công ty đặt trụ sở kinh doanh tại: B12, Lô 12,
khu đô thị mới Định Công, Quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội, Việt Nam. Mã số
thuế: 0103242995
Công ty cổ phần nghiên cứu và phát triển công nghệ giáo dục là doanh nghiệp tư
nhân, hạch toán kinh doanh độc lập, tự chủ về tài chính, có tư cách pháp nhân và chịu sự
quản lý của pháp luật, các Bộ ngành liên quan đến lĩnh vực hoạt động của công ty.
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của công ty nghiệp
Chức năng chính của công ty là sản xuất và cung ứng( kể cả nhập khẩu) đồ
dùng dạy học, các thiết bị nhà trường nhằm đáp ứng nhu cầu giảng dạy học tập trong
nhà trường, tổ chức tiếp nhận lưu động, phân phối các loại thiết bị vật tư chuyên dùng
theo chỉ tiêu của công ty đặt ra, tổ chức nghiên cứu ứng dụng triển khai công nghệ,
đưa nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tổ chức thực hiện các hoạt động
chuyên môn nghiệp vụ thuộc lĩnh vực thiết bị giáo dục. Ngoài ra công ty còn tổ chức
SVTH: Lưu Thị Năm Lớp: K47T5
18
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS Trần Thị Thanh Mai
thực hiện các dự án thuộc chương trình mục tiêu của ngành, các dự án hợp tác đầu tư
trong và ngoài nước.
*Cơ cấu tổ chức
Sơ đồ 1: cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần nghiên cứu và phát triển công nghệ
giáo dục
*Ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh chính
Ngành nghề sản xuất kinh doanh của công ty bao gồm: Sản xuất thiết bị dạy
học và cung ứng thiết bị dạy học. Ngoài ra, công ty còn sản xuất thiết bị vât chất khác
và có dịch vụ cho thuê nhà làm việc.
vụ
Phòng
nhân sự
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS Trần Thị Thanh Mai
Với chất lượng, mẫu mã, đa dạng về chủng loại, sản phẩm của công ty đã mang
lại niềm tin cho khách hàng.
2.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần Nghiên cứu và phát
triển công nghệ giáo dục
Là một doanh nghiệp khá non trẻ mới được thành lập 5 năm, tuy nhiên công ty
đã có những kết quả hoạt động kinh doanh khá tốt, đánh dấu những bước đi vững chắc
đầu tiên, tạo tiền đề cho sự phát triển lớn mạnh trong thời gian tới.
Kết quả hoạt động kinh doanh được công ty thể hiện thông qua bảng số liệu sau:
Đơn vị: triệu đồng
Stt Chỉ tiêu 2012 2013 2014
So sánh
2013/2014
1 Tổng doanh thu 9320,5 15378,2 20883,7 35,8
2 Lợi nhuận trước thuế 5146,5 8530,6 14920,5 74,9
3 Thuế nộp cho nhà nước 1132,23 1876,732 3282,51 74,9
4 Lợi nhuận sau thuế 4014,27 6683,868 11637,98 74,9
5 Mức lương bình quân của nhân viên
15,23 17,4 20,2 16,09
(Nguồn: Phòng tài chính kế toán)
Bảng 1: Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty từ năm 2012-2014
Từ kết quả như trên có thể thấy tổng doanh thu cũng như lợi nhuận trước thuế,
thuế nộp và lợi nhuận sau thuế của công ty đều tăng trên 35,8% từ năm 2013 tới năm
2014. Bảng số liệu cho thấy hoạt động kinh doanh của công ty đều đạt hiệu quả cao
qua các năm.
Điều này là có được một phần bởi đội ngũ nhân viên chất lượng ngoài ra còn
phải nói tới môi trường kinh doanh vô cùng thuận lợi, có rất nhiều cơ hội mở ra cho
hình….
Nhóm thiêt bị dạy môn toán tiểu học: bàn tính, tranh, bảng tính
Nhóm thiết bị dạy môn tiếng việt : bảng chữ, tranh….
Nhóm thiết bị trợ giúp giảng dạy: bảng, ghế, bảng, phòng thí nghiệm….
Do sản phẩm có khối lượng lớn và đa dạng nên quy trình chế tạo công nghệ cũng
khác nhau. Vì điều kiện và khả năng còn hạn chế nên trong bài khóa luận của mình em
xin phép đi trình bày sâu vào một thiết bị của công ty là “thước kẻ”. Thiết bị phục vụ
cho quá trình giảng dạy và học tập.
- Quy trình sản xuất thước kẻ
Xem bản vẽ kỹ thuật đúc phôi nấu nhựa đổ nhựa vào
khuôn tạo các thanh thước dài đưa các thanh thước vào máy vạch đơn vị
cắt thành các thước nhỏ đóng gói sản phẩm.
2.2.2 Thực trạng chất lượng của thiết bị giáo dục của công ty cổ phần Nghiên
cứu và phát triển công nghệ giáo dục
Do hạn chế về mặt thời gian và không gian, để đánh giá được chất lượng thiết bị
dạy học thời điểm hiện tại cũng như tiến hành triển khai việc cải tiến chất lượng trong
thời gian sắp tới, công ty cổ phần nghiên cứu và phát triển công nghệ giáo dục đã tiến
hành điều tra trắc nghiệm. Đối tượng điều tra là 50 khách hàng của công ty trên địa
bàn Hà Nội. Sau khi tổng hợp kết quả điều tra thông qua bảng câu hỏi, có thể rút ra
một số nhận xét khách quan như sau:
SVTH: Lưu Thị Năm Lớp: K47T5
21
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS Trần Thị Thanh Mai
Biểu hình 1: Nguồn biết đến thiết bị giáo dục của công ty
Qua kết quả điều tra cho thấy khách hàng viết đến thiết bị giáo dục của công ty
cổ phần nghiên cứu và phát triển công nghệ giáo dục qua các nguồn thông tin khá đa
dạng.Khách hàng biết dến công ty qua các cuộc hội thảo giới thiệu sản phẩm tại từng
trường của công ty chiếm 30%.Công ty thường xuyên tổ chức các cuộc hôi thảo giới
thiệu sản phẩm tại các trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông trên khu
những điều chỉnh tích cực để sản phẩm ra những sản phẩm mới có tính uengs dụng
khoa học và hiệu quả hơn.
“ Những tiêu chí nào mà anh/chị đánh giá cao về chất lượng sản phẩm của
công ty cổ phần nghiên cứu và phát triển công nghệ giáo dục”
Dưới đây là biểu đồ thể hiện mức thang điểm cho các tiêu chí dược tổng hợp
được của cả 50 khách hàng được nghiên cứu:
Biểu hình 2: Thang điểm đánh giá các tiêu chí chất lượng sản phẩm của doanh
nghiệp
Trong đó
A:Thiết bị đảm bảo tuổi thọ và độ bền chắc
B: Thiết bị được thiết kế đẹp mắt khoa học
C: Thiết bị dễ sử dụng
D: Thiết bị có độ an toàn cao
E: Thiết bị có chi phí hợp lý
SVTH: Lưu Thị Năm Lớp: K47T5
23
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS Trần Thị Thanh Mai
Kết quả này được tổng hợp từ sự đánh giá của 50 khách hàng được nghiên cứu
điều tra. Theo như biểu đồ thì tiêu chí mà khách hàng đánh giá cao về chất lượng sản
phẩm của công thì tiêu chí “Thiết bị dễ sử dụng” được đánh giá cao nhất, tiêu chí xếp
thứ 2 là “ Thiết bị có chi phí hợp lý” và “Thiết bị có độ an toàn cao”, xếp thứ 3 là tiêu
chí “ thiết bị đảm bảo tuổi thọ và độ bên chắc” và cuối cung là tiêu chí “ Thiết bị được
thiết kế đẹp mắt khoa học”. Như vậy, qua điều tra khảo sát có thể thấy sản phẩm của
công ty được đánh giá khá cao về tính dễ sử dụng và chi phí hợp lý. Công ty cần tiếp
tục phát huy những ưu điểm này của sản phẩm cũng như cần cải tiến và khắc phục
những tiêu chí chưa được đánh giá cao như độ bền chắc và thiết kế kkoa học đẹp mắt.
Để làm được điều đó công ty cần có những chính sách phát triển lâu dài và đặt mục
tiêu cụ thể để khuyến khích sự sáng tạo nhiết tình của cán bộ công nhân viên trong
công ty.
“ Kể từ khi gia nhập đến nay, bạn đánh giá thế nào về việc nâng cao chất lượng
Công ty đã tạo lập và khẳng định vị thế tốt đối với tập khách hàng và thị trường
hiện hữu, đồng thời đã bước đầu gây dựng được sự chú ý đối với khách hàng mới và
thị trường mục tiêu.
- Trong những năm gần đây thông qua nhiều biện pháp cạnh tranh khác nhau
công ty đã tạo dựng được long tin đối với những nhóm khách hàng tiêu dùng
Số lượng đơn đặt hàng ngày càng tăng, tuy khối lượng của mỗi đơn đặt hàng
không lớn nhưng điều này khẳng định thiết bị dạy học của công ty đã có chỗ đứng và
khả năng cạnh tranh trên thị trường. Với tính khắt khe của khách hàng trong nhu cầu
tiêu dùng, đặc điểm hệ thống chính sách, mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt nhưng
công ty và thiết bị dạy học của mình vẫn giữ được lượng kháh hàng đáng kể do mang
lại giá trị gia tăng nhiều hơn cho khách hàng bằng những lợi thế riêng, vì vậy thị phần
của sản phẩm tăng lên. Đây là một trong những kết quả cầ phải khẳng định vì trong
điều kiện kết cấu hạ tầng kinh tế còn lạc hậu, trình độ quản lý còn thấp kém, việc
chiếm giữ được một thị phần trên thị trường như hiện nay là một thành công bước đầu
đối với sản phẩm thiết bị dạy học của công ty.
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân
Bên cạnh những kết quả đạt được về năng lực canh tranh trên thị trường nội địa
về sản phẩm thiết bị dạy học như đã trình bày ở trên, công ty nghiên cứu và phát triển
công nghệ giáo dục còn một số hạn chế nhất định. Những hạn chế này không chỉ làm
ảnh hưởng mà còn là thách thức to lớn đối với việc nâng cao chất lượng sản phẩm
trong dài hạn. Cụ thể là:
- Thiếu định hướng chiến lược phát triển thị trường
SVTH: Lưu Thị Năm Lớp: K47T5
25