luận văn kỹ thuật môi trường Nghiên cứu thực nghiệm ảnh hưởng của một số yếu tố đến hiệu quả xử lý nước thải sản xuất bia bằng hệ thống Aeroten - Pdf 27

Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 1 Ngành: Kỹ thuật môi
trường
MỞ ĐẦU
• Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay nền kinh tế đang trên đà phát triển, thu nhập của con người dần được
cải thiện và nâng cao. Chính vì vậy nhu cầu sử dụng các loại đồ uống ngày càng tăng,
đặc biệt là bia, do bia là loại đồ uống mát, bổ, độ cồn thấp, có hương vị đặc trưng
riêng. Loại đồ uống này đang được sử dụng rộng khắp trên thế giới và sản lượng của
chúng ngày càng gia tăng. Công nghiệp sản xuất bia đang là ngành tạo ra nguồn thu
lớn cho ngân sách nhà nước và có hiệu quả kinh tế cao. Do đó, trong những năm gần
đây nền sản xuất bia đó cú những bước phát triển khá nhanh.
Với sự xuất hiện ngày càng nhiều nhà máy bia như hiện nay thỡ cỏc loại chất
thải phát sinh từ quy trình sản xuất bia cũng gia tăng đáng kể, đặc biệt là số lượng nước
thải rất lớn. Các loại nước thải này chứa hàm lượng các chất lơ lửng, BOD và COD cao
dễ gây ô nhiễm môi trường. Chớnh vỡ vậy, việc xử lý nước thải của quy trình sản xuất
bia trước khi thải ra môi trường là vấn đề cần được quan tâm.
Hiện nay đã có nhiều phương pháp để xử lý nước thải sản xuất bia. Nhìn chung
với nồng độ ô nhiễm chất hữu cơ cao và dễ phân hủy thì xử lý sinh học là phương pháp
thích hợp nhất để xử lý đối tượng nước thải này, trong đó phương pháp bùn hoạt tính
vẫn là phương pháp truyền thống được ưa chuộng do nó có nhiều ưu điểm như dễ vận
hành, hiệu quả xử lý nhanh, thể hiện rõ quá trình loại bỏ chất hữu cơ trong nước thải
nhờ hoạt động của vi sinh vật. Đề tài “Nghiên cứu thực nghiệm ảnh hưởng của một
số yếu tố đến hiệu quả xử lý nước thải sản xuất bia bằng hệ thống Aeroten” sẽ tập
trung khảo sát các đặc tính của một số yếu tố đối với nước thải sản xuất bia bằng hệ
thống Aeroten. Trên cơ sở đó sẽ đưa ra những kết luận về sự ảnh hưởng của các yếu tố
đó đến quá trình xử lý sinh học hiếu khí nước thải bia phục vụ cho quá trình lựa chọn
các thông số trong thiết kế hệ thống xử lý nước thải.
• Mục đích của đồ án
- Tìm hiểu đặc trưng của nước thải bia và nghiên cứu xử lý nước thải bia bằng hệ
thống Aeroten. Thông qua nghiên cứu đề tài này sẽ củng cố và hoàn thiện kiến thức
về xử lý nước thải, đặc biệt là phương pháp xử lý sinh học hiếu khí.

- Chương 3: Nghiên cứu xử lý nước thải sản xuất bia bằng hệ thống Aeroten
- Kết luận và kiến nghị
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT BIA VÀ
CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG
1.1. HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ BIA Ở VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thùy Liên Lớp:
49MT
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 3 Ngành: Kỹ thuật môi
trường
Việt Nam là nước thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, với dân số trên 80
triệu người hứa hẹn một thị trường tiêu thụ bia đầy tiềm năng. Ngành công nghiệp sản
xuất bia đã phát triển với lịch sử trên 100 năm. Xưởng sản xuất bia đầu tiên được đặt
tên là xưởng sản xuất bia Chợ Lớn, do một người Pháp mở vào năm 1875, là tiền thân
của nhà máy bia Sài Gòn, nay là Tổng công ty Bia – Rượu – Nước giải khát Sài Gòn.
Ở miền Bắc vào năm 1889, một người Pháp tên là Hommel đã mở một xưởng sản xuất
bia tại làng Đại Yên, Ngọc Hà, sau trở thành nhà máy bia Hà Nội, nay là Tổng công ty
Bia – Rượu – Nước giải khát Hà Nội. Trong quá trình hình thành và phát triển, ngành
sản xuất bia có những bước phát triển về quy mô và công nghệ nờn đó đạt được bước
tăng trưởng cao.
 Về năng lực sản xuất
Theo thống kê năm 2004 cả nước có khoảng 469 cơ sở sản xuất bia tổng hợp
với công suất thiết kế khoảng 1200 triệu lớt/năm. Cũng theo số liệu tổng hợp của Bộ
công nghiệp năm 2004 thì giá trị sản xuất công nghiệp của toàn bộ ngành Rượu – Bia –
Nước giải khát trên cả nước đã đạt 15281,5 tỷ đồng, doanh thu đạt 17950 tỷ đồng, tạo
việc làm và thu nhập ổn định cho trên 20000 lao động.
Theo Báo cáo tổng hợp tình hình sản xuất kinh doanh rượu bia của Bộ Công nghiệp
năm 2006, các nhà máy bia được phân bố tại 49/64 tỉnh thành của cả nước tập trung chủ yếu
tại khu vực Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Hồng, Trung và Nam Trung bộ. Các khu vực
Tõy Nguyờn, Đồng bằng sông Cửu Long, trung du miền núi phía Bắc, năng lực sản xuất bia ở
mức thấp. Năng lực sản xuất bia tập trung tại những thành phố trực thuộc trung ương như

300 320
+ Địa phương
200 270
+ Các thành phần kinh tế khác
100 50
Tổng cộng
1200 1500
Ước tính đến năm 2011 cả nước sẽ sản xuất được 2,8 tỷ lít bia. Theo đánh giá
quý I năm 2011, do ảnh hưởng của giỏ nguyờn – nhiên liệu đầu vào tăng, ảnh hưởng
đến giá thành sản phẩm nên trong quý I, một số sản phẩm bia các loại đã phải điều
chỉnh tăng giá, việc tăng giá sản phẩm đã ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh, sức tiêu
thụ sản phẩm của ngành. Sản lượng bia các loại ước đạt 534 triệu lít, tăng 9,5% so với
cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, tình hình sản xuất và tiêu thụ bia, rượu, nước giải khát
quý I năm 2011 ổn định. Trong dịp Tết Nguyên Đán, các doanh nghiệp ngành rượu bia
đã cung cấp đủ lượng bia rượu ra thị trường, không có biến động lớn về giá. Để tăng
năng lực sản xuất, Tổng công ty Bia – Rượu – Nước giải khát Sài Gũn đó đưa nhà máy
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thùy Liên Lớp:
49MT
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 5 Ngành: Kỹ thuật môi
trường
bia Sài Gòn – Sông Lam, công suất 100 triệu lớt/năm vào hoạt động nhằm cung ứng
sản phẩm ra thị trường trong mùa hè năm 2011.
Hiện nay hầu như các doanh nghiệp quốc doanh Trung ương đã dần tiến tới cổ
phần hóa, huy động vốn sẵn có của các thành viên trong công ty và nguồn vốn trong
nhân dân. Ban đầu tuy còn nhiều bỡ ngỡ, khó khăn nhưng đã được khắc phục và từng
bước đi đến thành công.
 Về chủng loại bia
Tại Việt Nam thường có 3 loại: Bia lon, bia chai và bia hơi. Tỷ lệ sản xuất các
loại bia biến đổi rất khác nhau do nhu cầu của người tiêu dùng, năm 1995 tỷ lệ bia của
từng nhà máy lớn như sau:

chính để sản xuất bia bao gồm: Malt đại mạch, hoa Houblon, men, nước với một quy
trình công nghệ khá đặc biệt. Ngoài ra để tăng hiệu quả kinh tế cũng như đa dạng hóa
sản phẩm, các nhà máy bia cũn dựng một số loại nguyên liệu thay thế như đại mạch
chưa nảy mầm, gạo, ngụ đó tỏch phụi… Do nước ta không trồng được đại mạch và hoa
Houblon nờn cỏc nguyên liệu này được nhập từ nước ngoài về. Ngày nay tùy theo
phương pháp thực hiện, loại nguyên liệu, và nấm men sử dụng… mà có rất nhiều loại
bia khác nhau. Mỗi loại được đặc trưng bởi mùi, vị, màu sắc, độ rượu khác nhau.
 Malt đại mạch
Malt đại mạch là nguyên liệu chính trong sản xuất bia. Đó là các hạt đại mạch
được nẩy mầm trong những điều kiện nhân tạo ở điều kiện nhiệt độ và độ ẩm thích
hợp. Trong quá trình nảy mầm, một lượng lớn các enzim hình thành và tích tụ trong hạt
đại mạch, trong đó chủ yếu là nhóm enzim amylaza, ngoài ra cũn cú enzim proteaza và
các enzim khỏc. Cỏc enzim trong malt đại mạch là các tác nhân phân giải các hợp chất
gluxit, protein trong malt thành các loại đường, peptit, các axit amin tự do và các hợp
chất hữu cơ khỏc… trong đó có pectin, đường được sử dụng để lên men etanol[1]. Bia
sản xuất từ malt đại mạch có mùi vị và tính chất công nghệ hơn hẳn so với bia được
sản xuất từ malt của các loài hòa thảo khác.
Thành phần hóa học trung bình của Malt bia tính theo phần trăm chất khô được thể
hiện theo bảng 1.2.
Bảng 1.2. Thành phần hóa học của Malt [1]
Thành phần (%) Tỷ lệ % trong Malt
Tinh bột 58
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thùy Liên Lớp:
49MT
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 7 Ngành: Kỹ thuật môi
trường
Chất béo 2,5
Khoáng 2,5
Đường khử 4
Protein 10

Tinh dầu thơm 0,3 – 1
Xenluloza 12 – 14
Các hợp chất khác 26 – 28
 Nước
Trong bia thành phẩm hàm lượng nước chiếm khoảng 85 – 90%. Trong nhà
máy, nước được dùng với nhiều mục đích khác nhau như xử lý nguyên liệu, nấu
nguyên liệu, làm lạnh bán thành phẩm, thanh trùng, vệ sinh sát trùng thiết bị… Do đó
lượng nước dùng trong quá trình sản xuất rất lớn. Lượng nước dùng để nấu bia đòi hỏi
có đầy đủ tiêu chuẩn của nước uống mà cũn cú những yêu cầu riêng đáp ứng cho công
nghệ sản xuất bia như sau [1]:
- Tính chất lý hóa: Không có mùi lạ, trong suốt.
pH = 6ữ8
Hàm lượng sắt < 0.3 mg/l
NH
3
và muối của và không có.
- Tính chất vi sinh: Nước không chứa mầm bệnh
E.Coli : không có, Vi sinh vật < 100 tế bào/1ml
 Gạo tẻ
Để tận dụng lượng enzim amilaza có trong malt và để hạ giá thành sản phẩm,
gạo tẻ thường được sử dụng làm thế liệu. Tỷ lệ này trong bia chiếm khoảng 30%. Yêu
cầu gạo phải sạch, không tạp chất, không mối mọt, lượng amylopectin thấp. Thành
phần hóa học của gạo (tính theo phần trăm chất khô) (bảng 1.4)
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thùy Liên Lớp:
49MT
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 9 Ngành: Kỹ thuật môi
trường
Bảng 1.4. Thành phần hóa học của gạo tẻ [1]
Thành phần Tỷ lệ % trong gạo tẻ
Tinh bột 70 – 75

- Quy trình ở phân xưởng nấu
- Quy trình ở phân xưởng lên men
- Quy trình lọc bia
- Quy trình ở phân xưởng chiết
Nguyên liệu chuẩn bị gồm malt và gạo được rửa, ngâm, nghiền và định lượng sẵn cho
từng mẻ nấu.
1.2.1.1. Quy trình ở phân xưởng nấu
Quá trình nấu gồm 4 công đoạn[2]:
- Hồ hóa và đường hóa: nguyên liệu sau khi xay nghiền được chuyển tới thiết bị hồ
hóa và đường hóa bằng cách điều chỉnh hỗn hợp ở các nhiệt độ khác nhau.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thùy Liên Lớp:
49MT
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 11 Ngành: Kỹ thuật môi
trường

Nước cấp để rửa Nước mềm Malt Gạo
Sàn thiết bị

Hơi nước
Phụ gia Hoa Houblon
Hơi nước Glycol hay nước đá
sục khí
Hình 1.1. Quy trình công nghệ sản xuất bia
Hệ enzim thích hợp chuyển hóa các chất dự trữ có trong nguyên liệu thành dạng
hòa tan trong dịch: các enzim thủy phân tinh bột tạo thành đường, thủy phân các
chất protein thành axit amin và các chất hòa tan khác, sau đó được đưa qua lọc hèm
để tách đường và các chất hòa tan khỏi bã bia.
- Lọc dịch đường: dịch hèm được đưa qua máy lọc nhằm tỏch bó hốm ra khỏi nước
nha. Thiết bị lọc dịch đường phổ biến có 2 loại là nồi lọc lắng hoặc máy ép lọc
khung bản.
- Đun sôi với hoa Houblon: dịch đường sau khi lọc được nấu với hoa Huoblon và
được đun sôi 60 – 90 phút. Mục đích của quá trình nhằm ổn định thành phần của
dịch đường, tạo cho sản phẩm có mùi thơm đặc trưng của hoa Houblon.
- Lắng nóng dịch đường: dịch sau khi nấu được đưa qua bồn lắng xoáy nhằm tách
cặn trước khi chuyển vào lên men.
Quá trình nấu sử dụng nhiều năng lượng dưới dạng nhiệt năng và điện năng cho
việc vận hành các thiết bị, hơi nước phục vụ mục đích gia nhiệt và đun sôi.
1.2.2.2. Quy trình ở phân xưởng lên men
- Làm lạnh và bổ sung oxy: dịch đường sau lắng có nhiệt độ khoảng 90 – 95
0
C
được hạ nhiệt độ nhanh đến 8 – 10
0
C và bổ sung oxy với nồng độ 6 – 8 mg O
2
/lít.
Quá trình làm lạnh nhanh được thực hiện trong các thiết bị trao đổi nhiệt với môi
chất là nước lạnh với nhiệt độ 1 – 2
0
C.
- Chuẩn bị men giống: Nấm men được nuôi cấy trong phòng thí nghiệm, sau đó
được nhân trong các điều kiện thích hợp để đạt được mật độ nấm men cần thiết.

tính ổn định của bia, người ta có thể sử dụng thờm cỏc enzim hoặc chất bảo quản
được phép sử dụng trong sản xuất bia.
- Pha bia: Trong công nghệ sản xuất bia gần đây các nhà sản xuất tiến hành lên
men bia nồng độ cao (phổ biến trong khoảng 12,5 – 16 độ plato) để tăng hiệu suất
thiết bị và tiết kiệm năng lượng. Trong quá trình lọc và hoàn thiện sản phẩm họ sẽ
pha loãng bia về độ mong muốn theo tiêu chuẩn sản phẩm trên những thiết bị
chuyên dùng. Quá trình pha loãng bia luôn yêu cầu nước tiêu chuẩn cao trong đó
hàm lượng oxy hòa tan dưới 0,05 ppm.
- Bão hòa CO
2
: Bia trong và sau khi lọc được bão hòa thêm CO
2
để đảm bảo tiêu
chuẩn bia thành phẩm trước khi đóng chai, lon.
- Lọc bia vô trùng: Có nhều nhà máy trang bị hệ thống lọc màng để sản xuất bia
tươi đóng chai/lon không thanh trùng.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thùy Liên Lớp:
49MT
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 14 Ngành: Kỹ thuật môi
trường
Như vậy hệ thống lọc bia trong nhà máy sản xuất bia có nhiều cấp độ khác
nhau. Tùy theo mục đích mà nhà sản xuất trang bị thiết bị đến mức cần thiết[2].
1.2.2.4. Quy trình ở phân xưởng chiết
Để đáp ứng nhu cầu khác nhau của người tiêu dùng và đảm bảo việc vận chuyển
bia đến nơi tiêu thụ, các nhà sản xuất bia phải tiến hành khâu bao gói. Các bao bì phải
được rửa sạch sẽ, tiệt trùng trước khi chiết rút. Khõu rửa bao bì tốn nhiều hóa chất và
năng lượng kèm theo nước thải với tải lượng BOD cao.
Bia được chiết vào chai, lon, két bằng các thiết bị chiết rót. Tùy theo yêu cầu
của thị trường mà việc kiểm soát tốt các thông số trong quá trình chiết như hàm lượng
oxy/khụng khớ trong chai/lon đòi hỏi nghiêm ngặt và như vậy cần phải lựa chọn tốt

Đơn vị
tính
Công nghệ
truyền
thống
Công nghệ
trung bình
Công nghệ
tốt nhất
Mức hiện
tại ở Việt
Nam
Malt/ nguyên liệu
thay thế
kg 18 16 15 14 - 18
Nhiệt MJ 390 250 150 250– 350
Nhiên liệu (tính
theo dầu FO)
lít 11 7 4 4 – 8,5
Điện kWh 20 16 8 – 12 10 - 30
Nước m
3
20 – 35 7 – 15 4 6 – 20
NaOH kg 0,5 0,25 0,1 0,2 – 0,4
Bột trợ lọc g 570 255 80 100– 400
 Malt và nguyên liệu thay thế: mức tiêu hao phụ thuộc vào loại bia mà nhà máy sản
xuất; hiệu suất sử dụng và mước độ hao phí nguyên liệu trong quá trình sản xuất.
Thường để sản xuất 1000 lít bia cần 150 kg malt và nguyên liệu thay thế. Tỷ lệ
nguyên liệu thay thế có thể chiếm đến 30%.
 Nấm men: Nấm men sinh khối trong quá trình lên men được sử dụng lại một phần

Truyền nhiệt Lít 0,7
Khác Lít 1,6
Tổng cộng 6,5 lít trong đó đến 45% lượng nước dùng cho vệ sinh
 Các nhiên liệu thường được sử dụng là than (than cám, than củi…), dầu (DO,
FO…) để đốt lò hơi cung cấp hơi nước cho quá trình sản xuất. Định mức than cho
1000 lít bia từ 70 – 75 kg.
 Các nguyên liệu phụ
- Bột trợ lọc dùng trong lọc bia khoảng 1 – 3 kg/1000 lít bia phụ thuộc vào loại
nấm men, loại bia, thời gian và nhiệt độ lên men.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thùy Liên Lớp:
49MT
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 17 Ngành: Kỹ thuật môi
trường
- Xỳt: dùng vệ sinh thiết bị và rửa chai. Mức dùng từ 5 – 10 kg xút 30%/1000 lít
bia. Mức tiêu thụ xút cao chứng tỏ việc thu hồi xút từ quá trình vệ sinh kém hoặc do
trình rửa chai.
- CO
2
: trong quá trình lên men, đường được nấm men chuyển hóa thành etanol và
CO
2
. CO
2
được sử dụng cho quá trình bão hòa CO
2
và chiết chai. Thông thường
CO
2
lấy từ quá trình lên men, có thể thu được 3 – 4 kg CO
2

mùi của các hóa chất được sử dụng, mùi sinh ra trong quá trình nấu và của các chất thải
hữu cơ như bó hốm, men… chưa được xử lý kịp thời.
- Trong quá trình lên men chính: CO
2
tạo ra rất nhiều và là một sản phẩm của quá
trình lên men. Khí CO
2
sinh ra có thể góp phần gây hiệu ứng nhà kính. Tuy nhiên do
khí khá sạch nên thường được tận thu nhờ thiết bị thu hồi, sau đó được tinh chế để sử
dụng cho công đoạn nén bia…
- Quá trình nấu sôi dịch nha với hoa Houblon: Trong quá trình sụi, cỏc protein sẽ
tạo keo tụ và lắng xuống cùng với bã hoa và các chất chát (tamin). Đây là công đoạn
tiêu thụ năng lượng nhiều nhất. Nếu nồi hơi đun bằng than đá hay dầu thì việc sử dụng
nhiều hơi sẽ dẫn đến phát thải nhiều CO
2
, SO
2,
NO
x
và các hiđrocacbon thơm đa vòng
(PAHs). Cỏc khớ CO
2
, SO
2
và NO
x
trong quá trình lắng đọng từ khí quyển có thể góp
phần gây ra mưa axit, do đó gây nên những tác động không nhỏ cho ngành nông
nghiệp, suy giảm chất lượng nước, ảnh hưởng đến các vật liệu và công trình kiến
trỳc… Trong khi đó, PAHs là một trong những chất hữu cơ ô nhiễm phổ biến nhất.

49MT
CHUẨN BỊ
Nghiền
NẤU
Hồ hóa, đường hóa
Lọc dịch đường
Nấu hoa
Lắng nóng
LÊN MEN
Làm lạnh
Lên men chính
Lên men phụ
HOÀN THIỆN
Lọc bia
Ổn định, bão hòa CO
2
Pha bia
Lọc vô trùng
ĐÓNG CHAI, LON,

THANH TRÙNG
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 20 Ngành: Kỹ thuật môi
trường
Hình 1.2. Quy trình sản xuất bia kốm dũng thải
- Do sử dụng các loại dầu FO làm nhiên liệu cho lò hơi nên khí thải thường chứa các
khí độc hại : NO
2
, SO
2
, CO

Các tác nhân ô nhiễm trong chất thải (bã malt và chất trợ lọc, dầu mỡ…) là cỏc
hoỏ chất độc hại thâm nhiễm vào môi trường đất, tồn tại trong đất và đi vào chuỗi thức
ăn, qua đó xâm nhập và tích tụ trong cơ thể người. Ở một liều lượng nhất định, các tác
nhân này sẽ gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ con người như gây ngộ độc, các bệnh
liên quan đến hệ tiờu hoỏ như tiêu chảy, giun sán , các bệnh truyền nhiễm như viêm
gan; ngộ độc thực phẩm; các bệnh về mắt, da liễu, phụ khoa
Bó hèm và bã hoa Houblon thường ít được sử dụng cho chăn nuôi vì có vị đắng,
chứa hàm lượng lớn chất hữu cơ, nếu không được thu gom và xử lý mà xả thẳng ra
cống làm tăng tải lượng ô nhiễm của nước thải.
Plastic, kim loại, vỏ chai vỡ, xỉ than… tạo ra tải lượng chất thải cao, yêu cầu bãi
chứa lớn. Nếu không giải quyết kịp thời sẽ làm mất mỹ quan cơ sở, có thể gây tai nạn
cho người vận hành.
Thông thường các nhà máy có thể xử lý bằng nhiều cách khác nhau để giảm đến
mức tối thiểu các tác động của chất thải rắn đối với môi trường. Lượng cặn sinh khối
chứa nhiều vitamin, protein, chất béo và khoỏng nờn có thể sử dụng vào mục đích làm
thức ăn gia súc, thức ăn nuôi cá ở dạng tươi hay sấy khô. Trong quá trình lên men, để
giảm tổn thất bia và tận dụng sinh khối men, có thể lắp một máy li tâm để tách sinh
khối men và bia tươi. Sau đó thu hồi bia tươi về thiết bị lên men còn sinh khối men thì
được sử dụng lại hoặc sấy khô để làm thức ăn gia súc. Ngoài ra, xỉ than có thể được tận
dụng sản xuất vật liệu xây dựng, làm đường. Các chất thải rắn khác như chất trợ lọc, vỏ
chai vỡ sẽ thu gom cùng với rác thải sinh hoạt…
1.3.3. Nước thải
Có thể nói ô nhiễm do nước thải là vấn đề đáng quan tâm nhất trong công
nghiệp sản xuất bia. Nước thải có thành phần, tính chất và nhiệt độ không ổn định, phát
sinh từ nhiều nguồn khác nhau như: nước làm lạnh, nước ngưng tụ, nước vệ sinh các
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thùy Liên Lớp:
49MT
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 22 Ngành: Kỹ thuật môi
trường
thiết bị lên men, thùng nấu, bể chứa, đường ống, sàn nhà,… nước thải từ bồn lên men,

5 M5 7000 4450 - -
6 M6 4375 2000 29,14 0,0147
7 M7 2900 1550 - -
8 M8 3470 2290 12,88 -
(Nước thải công ty Cổ phần bia Nghệ An 5/2010- Viện KH & CN Môi trường-ĐHBK)
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thùy Liên Lớp:
49MT
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 23 Ngành: Kỹ thuật môi
trường
Trong đó:
M1: Nước thải rửa thiết bị lên men
M2: Nước thải rửa thiết bị lọc – rửa bã
M3: Nước thải từ phân xưởng chiết, đóng chai
M4: Nước thải từ phân xưởng chiết keg
M5: Xả tank lên men 117 m
3

M6: Nước rửa thiết bị lọc
M7: Nước rửa thiết bị chứa thành phẩm
M8:Nước thải cống chung cuối cùng
Tuy nhiên, hàm lượng các chất ô nhiễm biến động tùy thuộc vào công nghệ sản
xuất, nguyên liệu, chế độ sử dụng nước và thải nước của từng cơ sở sản xuất mới. Tùy
thuộc vào hệ thống thoát nước mà dòng thải có đặc trưng khác nhau về màu sắc, mùi
và độ pH. Nếu thông thoát tốt, nước thải có màu vàng sáng đặc trưng của sản xuất bia.
Điều quan trọng trong sản xuất bia là đặc trưng nước thải sản xuất bia biến động
theo mùa vụ, theo thời điểm trong ngày. Ngoài vụ sản xuất (từ tháng 11 đến tháng 3
năm sau) khối lượng nước thải chỉ bằng 30 – 50 %. Vào ngày nghỉ hoặc ban đêm khối
lượng nước thải có khi chỉ còn khoảng 20 – 30% và nước thải có độ ô nhiễm thấp hơn.
Nhìn chung, nước thải từ sản xuất bia nếu không được xử lý trước khi thải ra
môi trường sẽ có những tác động chính như sau:

trình khử trùng cú dựng chất khử trùng là hợp chất clo. Nước rửa chai có tính kiềm
mạnh (pH có thể lớn hơn 12) nên khi thải vào dòng thải sẽ gây vị khó chịu, ảnh hưởng
đến các hoạt động sinh học trong nước, phá vỡ cấu trúc ổn định của các hệ sinh vật, từ
đó gây bệnh hoặc làm chết chúng.
Ngoài ra, nước làm lạnh, nước ngưng, nước làm mỏt cỏc động cơ và nước phục
vụ sinh hoạt cho công nhân, nước mưa cú dũng thải không lớn, có thể thải trực tiếp ra
cống thải.
 Ảnh hưởng đến môi trường đất:
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thùy Liên Lớp:
49MT
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 25 Ngành: Kỹ thuật môi
trường
Nước ô nhiễm chưa qua xử lý khi thấm vào đất làm thay đổi đặc tính (lý, hóa học)
của đất; phá vỡ liên kết giữa các hạt keo và cấu trúc đất; vai trò đệm, tính oxy hóa, tính
dẫn điện, dẫn nhiệt của đất bị thay đổi mạnh; thành phần chất hữu cơ giảm nhanh làm
giảm khả năng giữ nước và thoát nước của đất. Nếu tưới bừa bãi nước đã bị ô nhiễm
thì có thể đưa các chất có hại trong nguồn nước vào đất, ảnh hưởng tới người và gia
súc khi ăn sản phẩm và uống nước ở khu vực đất bị ô nhiễm.
Như vậy, đối với các chất thải của nhà máy bia thì khí thải và bã thải không phải là
vấn đề nghiêm trọng. Nguồn ô nhễm lớn nhất cần được quan tâm là nước thải. Để thực
hiện phát triển bền vững, hướng tới một nền công nghiệp xanh đòi hỏi các cơ sở sản
xuất phải có biện pháp xử lý để giảm thiểu ô nhiễm do nước thải, hạn chế tối đa tác
động đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng. Do đó, nước thải sản xuất bia phải
được xử lý đạt yêu cầu loại B của QCVN 24:2009/BTNMT trước khi thải ra nguồn tiếp
nhận.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thùy Liên Lớp:
49MT

Trích đoạn Các công trình xử lý nước thải bằng phương pháp lọc – dớnh bỏm Các công trình xử lý nước thải bằng phương pháp bùn hoạt tính Sơ đồ và nguyên tắc hoạt động Vi sinh vật (bùn hoạt tính hay bụng bựn). Các dạng Aeroten
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status