SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN CHỮ VIẾT CHO HỌC SINH LỚP 1 - Pdf 27

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN CHỮ VIẾT CHO HỌC SINH LỚP 1
A . PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Như chúng ta đã biết giáo dục là quốc sách hàng đầu, nói đến giáo dục là nói
đến chất lượng bởi nó là then chốt, là mối quan tâm lớn nhất của bao nhiêu thế hệ.
Sung sướng biết bao khi các bậc phụ huynh nhìn thấy con mình biết đọc, biết viết
những nét chữ đầu tiên trên trang giấy trắng. Bởi vậy vấn đề rèn chữ viết cho học
sinh Tiểu học là vô cùng quan trọng và cấp thiết. Để các em viết đúng quy trình, viết
đẹp và đều nét chữ không phải là dễ dàng và đây cũng là một quá trình học tập, rèn
luyện. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: “Chữ viết cũng là một biểu hiện của
nét người. Dạy cho học sinh viết đúng, viết cẩn thận, viết đẹp là góp phần rèn luyện
cho các em tính cẩn thận, lòng tự trọng đối với mình cũng như với thầy và bạn đọc
bài vở của mình ”. Đó là điều mà bấy lâu nay nhiều thế hệ thầy cô giáo đã trăn trở
góp nhiều công sức cải tiến phương pháp giảng dạy của mình cho phân môn tập viết.
Trong những năm gần đây ở Tiểu học chú trọng nhiều đến việc rèn chữ cho học sinh
qua phong trào “Vở sạch chữ đẹp”. Năm học 2012 - 2013 tỉnh Quảng Bình đã tổ chức
ngày hội thi viết chữ đẹp cấp Tiểu học.Tất cả giáo viên, học sinh và các bậc phụ
huynh đã hưởng ứng nhiệt tình cho ngày hội này.
Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy học sinh nói chung và học sinh lớp tôi nói
riêng chữ viết chưa đẹp, cỡ chữ, độ cao và khoảng cách chưa chính xác, còn hay sai,
bên cạnh đó tư thế để viết nhiều em chưa chú ý. Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến
chất lượng học Tiếng Việt nói riêng và các môn học khác nói chung.
Mặc dù hiện nay, vào thời điểm công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ. Tác
động không nhỏ tới đời sống mọi mặt xã hội, có thể không cần chữ viết đẹp vì đã có
máy tính. Nhưng với những ý nghĩa giáo dục như đã nêu trên thì việc rèn chữ cho học
sinh ngày càng cần thiết, nó góp phần vào việc giáo dục toàn diện cho học sinh.
Chính vì vậy trong quyết định ban hành quy định về chuẩn nghề nghiệp giáo viên
Tiểu học của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ngày 4/5/2007 số 14/2007/QĐ - BGDĐT cũng
đã nêu rất rõ yêu cầu giáo viên tiểu học phải viết đúng mẫu, biết cách hướng dẫn học
sinh “Giữ vở sạch, viết chữ đẹp”.

trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định cụ thể như sau:
2
- Lớp 1: Tập viết đúng tư thế, hợp vệ sinh. Viết các chữ cái cỡ vừa và nhỏ, tập ghi
dấu thanh đúng vị trí, làm quen với chữ hoa cỡ lớn và cỡ vừa theo mẫu chữ quy định,
tập viết các số đã học.
- Ở lớp Một việc dạy Tập viết được phối hợp nhịp nhàng với dạy học vần. Học sinh
luyện tập viết chữ dưới hai hình thức chủ yếu đó là: Luyện tập viết chữ trong các tiết
học âm, chữ ghi âm, vần và tập viết theo các yêu cầu kỹ thuật trong các tiết tập viết.
Ngoài ra, việc rèn luyện kỹ năng tập viết còn được triển khai trong các giờ học chính
tả.
- Khi học tập viết, học sinh được quan sát trực tiếp chữ mẫu và cách viết mẫu của
giáo viên, nghe giáo viên phân tích cách viết để hình thành biểu tượng chữ viết. Sau
đó học sinh được luyện tập nhiều lần được sửa chữa rồi mới viết vào vở. Do vậy, hoạt
động của giáo viên và học sinh có cao hay không phụ thuộc nhiều vào điều kiện về
cơ sở vật chất như lớp học, ánh sáng, bàn ghế: phải đảm bảo các điều kiện sau:
1. Ánh sáng phòng học: Phòng học phải có đủ ánh sáng cho mọi học sinh ngồi
học theo quy định của vệ sinh học đường. Quy định của Bộ Giáo dục & Đào tạo: Độ
chiếu sáng trong không gian lớp học từ 200 – 500 lux (lux: đơn vị đo độ chiếu sáng
Quốc tế)
2. Bảng lớp: Bảng lớp được treo ở độ cao vừa phải, cạnh dưới của bảng ngang
tầm đầu của học sinh ngồi trong lớp.
3. Bàn ghế học sinh: Kích thước bàn ghế phải phù hợp với độ cao trung bình
của từng đối tượng học sinh.
4. Bảng viết của học sinh (Bảng con): Cần chú ý những điều kiện tối thiểu về
việc chuẩn bị bảng con của học sinh. Bảng làm bằng chất liệu mica màu trắng và
dụng cụ viết bằng bút dạ học sinh sẽ không chủ động khi viết chữ.
5. Phấn viết, khăn lau bảng và bút viết: Không cho học sinh dùng phấn cứng
quá hoặc phấn kém phẩm chất. Khăn lau bảng cần sạch sẽ, có độ ẩm, được gấp lại
nhiều lần, độ dày thích hợp. Giai đoạn đầu của lớp Một học sinh dùng bút chì đến
tuần 8 mới dùng bút kim mực.

hoàn cảnh kinh tế gia đình còn nhiều khó khăn nên cha mẹ chưa thật sự quan tâm đến
việc học tập của con em.
- Bản thân mỗi em chưa phát huy được tính tự học tự rèn ở trường cũng như ở nhà.
Mặt khác phụ huynh chưa đôn đốc nhắc nhở còn thơ ơ với việc học tập.
4
- Các em còn ham chơi hơn ham học.
- Học sinh chưa nắm được cấu tạo nét, điểm đặt bút, dừng bút của các nét cơ bản,
các con chữ … Chưa nắm được quy trình viết hay viết ngược chữ.
- Cầm bút chưa đúng cách, ngồi viết chưa đúng tư thế, chưa khoa học.
- Dụng cụ hoc tập còn thiếu ở một số em.
- Một số học sinh chưa được qua mẫu giáo.
III. THỜI GIAN, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
TÀI LIỆU PHỤC VỤ CHO VIỆC NGHIÊN CỨU VIẾT SÁNG KIẾN KINH
NGHIỆM.
1. Thời gian nghiên cứu:
- Tháng 9/ 2011 đến tháng 5/ 2012.
2. Đối tượng nghiên cứu:
- Đối tượng tác động trực tiếp là học sinh lớp 1D.
3. Phạm vi nghiên cứu:
- Trường Tiểu học Quảng Long
- Chương trình dạy tập viết lớp 1.
4. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp luyện tập
- Phương pháp so sánh, đối chứng
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
- Phương pháp thử nghiệm
- Phương pháp kiểm tra đánh giá.
5. Tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu viết sáng kiến kinh nghiệm:

thích hợp góp phần nâng cao chất lượng vở sạch chữ đẹp toàn diện cho học sinh.
6
b. Thực trạng chữ viết ở học sinh lớp 1 trường Tiểu học Quảng Long.
Nhiều em mới vào học còn đọc chớt (phát âm chưa chuẩn) cho nên dẫn đến
việc hay viết sai, ý thức tự luyện viết của các em rất hạn chế. Gia đình các em đa số
là nông dân, tuy còn nhỏ nhưng các em vẫn phải làm việc phụ giúp bố mẹ nên có
phần nào ảnh hưởng đến việc học tập của các em.
Ở trường, các em được thầy cô giáo giảng dạy chu dáo, tận tình đưa tay giúp
các em viết từng nét chữ, bằng nhiều hình thức, phương pháp dạy học. Nhưng do
thiết bị, đồ dùng dạy học cũng như kích cỡ bàn ghế, phòng học, ánh sáng chưa đúng
theo quy định nên cũng hạn chế việc hình thành kiến thức, kĩ năng cho các em.
II. YÊU CẦU CƠ BẢN, PHƯƠNG PHÁP VÀ BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
1/ Yêu cầu cơ bản của dạy tập viết ở lớp 1:
a. Kiến thức, kĩ năng:
+ Kiến thức: Giúp học sinh có được những hiểu biết về đường kẻ, dòng kẻ, độ cao,
cỡ chữ, hình dáng, tên gọi các nét chữ, cấu tạo chữ cái, khoảng cách giữa các chữ,
chữ ghi tiếng, cách viết các chữ viết thường, dấu thanh và chữ số.
+ Kỹ năng: Viết đúng quy trình - nét, viết chữ cái và liên kết các chữ cái tạo thành
chữ ghi tiếng theo yêu cầu liền mạch. Viết thẳng hàng các chữ trên dòng kẻ. Ngoài ra
học sinh còn được rèn luyện các kỹ năng như: tư thế ngồi viết, cách cầm bút, để vở…
bài kiểm tra cuối năm là bài tập chép một đoạn trong bài tập đọc (không mắc quá 5
lỗi chính tả).
- Muốn đổi mới phương pháp giảng dạy, giáo viên cần hiểu rõ ý đồ của vở tập viết.
Cấu trúc mỗi bài gồm phần tập viết chữ cái và từ ứng dụng.
Ở vở tập viết lớp 1 thì cứ sau bài học vần có một bài tập viết thêm để học sinh
rèn luyện cách viết các chữ vừa học.
- Các ký hiệu trong vở tập viết phải được học sinh nắm chắc như: đường kẻ ngang,
quy định độ cao chữ cái, dấu chấm là điểm đặt bút đầu tiên của chữ, ký hiệu luyện
viết ở nhà.
Vở tập viết của Bộ giáo dục phát hành giúp học sinh không ngừng nâng cao về

tựa là mép cùi của bàn tay. Cầm bút phải tự nhiên, đừng quá chặt sẽ khó vận động,
nếu lỏng quá sẽ không điều khiển được bút.
8
- Nếu các em cầm bút sai kỹ thuật bằng 4 đến 5 ngón tay, khi viết vận động cổ tay,
cánh tay thì các em sẽ mau mệt mỏi, sức chú ý kém, kết quả chữ viết không đúng và
nhanh được.
d. Đặc điểm đôi mắt trẻ khi viết:
- Trẻ tiếp thu hình ảnh chữ viết qua mắt nhìn. Vì vậy, nếu chữ viết được trình bày với
kích thước quá nhỏ hoặc ánh sáng kém thì các em phải cúi sát xuống để nhìn cho rõ
chữ, từ đó dẫn đến cận thị.
- Trong thời gian đầu, có thể các em nhận ra đúng hình chữ nhưng bàn tay chưa ghi
lại đầy đủ hình dáng của mẫu chữ. Chỉ sau khi luyện tập, số lần nhắc đi nhắc lại nhiều
hay ít tuỳ theo từng học sinh, thì các em mới chép đúng mẫu.
2/ Phương pháp thưc hiện:
a) Phương pháp trực quan:
Giáo viên khắc sâu biểu tượng về chữ cho các em bằng nhiều con đường: kết
hợp mắt nhìn, tai nghe, tay luyện tập. Điều này giúp các em chủ động phân tích hình
dáng, kích thước và cấu tạo theo mẫu chữ, tìm sự giống nhau và khác nhau của chữ
cái đã học trước đó trong cùng một nhóm bằng thao tác so sánh tương đồng.
Chữ viết mẫu là hình thức trực quan ở tất cả các bài tập viết. Đây là điều kiện
đầu tiên để các em viết đúng. Có các hình thức chữ mẫu: chữ mẫu in sẵn, chữ phóng
to trên bảng hoặc trên máy chiếu, chữ mẫu trong vở tập viết, hộp chữ mẫu… Tiêu
chuẩn cơ bản của chữ mẫu là phải đúng mẫu quy định, rõ ràng và đẹp.
Chữ mẫu có tác dụng:
- Chữ mẫu phóng to trên bảng hoặc trên máy chiếu sẽ giúp học sinh dễ quan sát, từ
đó tạo điều kiện để các em phân tích hình dáng và các nét chữ cơ bản, cấu tạo chữ cái
cần viết trong bài học.
- Chữ mẫu của giáo viên viết trên bảng sẽ giúp học sinh nắm được thứ tự các nét chữ
của từng chữ cái, cách nối các chữ cái trong 1 chữ nhằm đảm bảo yêu cầu viết liền
mạch, viết nhanh.

hoặc sau bước giải thích cách viết chữ, bước luyện tập viết chữ ở lớp. Từ đó, giáo
viên phát hiện những chỗ sai của học sinh để uốn nắn (sai về kích cỡ, hình dáng, thứ
tự các nét viết).
10
*Tập viết chữ vào bảng con của học sinh:
Học sinh luyện tập viết bằng phần (hoặc bút bảng) vào bảng con trước khi viết
vào vở. Học sinh có thể viết chữ cái, vần, chữ khó vào bảng. Khi sử dụng bảng, giáo
viên phải hướng dẫn học sinh cả cách lau bảng, cách giơ bảng, cách sử dụng và bảo
quản phấn…
*Luyện viết trong vở:
Muốn cho học sinh sử dụng có hiệu quả vở tập viết, giáo viên cần hướng dẫn tỉ
mỉ nội dung và yêu cầu về kĩ năng viết của từng bài (chữ mẫu, các dấu chỉ khoảng
cách giữa các chữ, dấu chỉ vị trí đặt bút, thứ tự viết nét…) giúp các em viết đủ, viết
đúng số dòng đầu tiên ở mỗi phần bài viết.
Sự nghiêm khắc của giáo viên về chất lượng ở tất cả các môn học là cần thiết.
Có như thế, việc luyện tập viết chữ mới được củng cố đồng bộ và thường xuyên. Việc
làm này yêu cầu người giáo viên ngoài những hiểu biết về chuyên môn còn cần có sự
kiên trì, cẩn thận và lòng yêu nghề - mến trẻ.
* Rèn nếp viết chữ rõ ràng sạch đẹp.
Chất lượng về chữ viết của học sinh không chỉ phụ thuộc vào điều kiện chủ
quan (năng lực cá nhân, sự luyện tập kiên trì, trình độ sư phạm của giáo viên…) mà
còn có sự tác động của những yếu tố khách quan (điều kiện, phương tiện phục vụ cho
việc dạy và học Tập viết). Do vậy, muốn rèn cho học sinh nếp viết rõ ràng, sạch đẹp,
giáo viên cần quan tâm hướng dẫn, nhắc nhở các em thường xuyên.
Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh được thực hành luyện viết thông
qua 2 hình thức: viết trên bảng (bảng cá nhân – bảng con, bảng lớp) bằng phấn và
viết trong vở tập viết (tài liệu học tập chính thức do Bộ GD&ĐT qui định đối với lớp
1) bằng bút chì, bút mực. Do vậy, để thực hành luyện viết đạt kết quả tốt, học sinh
cần có ý thức chuẩn bị và sử dụng có hiệu quả một số đồ dùng học tập thiết yếu sau:
- Chuẩn bị bảng con, phấn, khăn lau đúng qui định:

của nét chữ cùng với mép bàn sẽ tạo thành một góc vuông 90 độ. Như vậy, dù viết
theo kiểu chữ đứng hay kiểu chữ nghiêng, nét chữ luôn thẳng đứng trước mặt (chỉ
khác nhau về cách để vở).
- Cách trình bày bài: Học sinh nhìn và viết đúng theo mẫu trong vở tập viết; viết theo
yêu cầu được giáo viên hướng dẫn tránh viết dở dang chữ ghi tiếng hoặc viết chòi ra
12
mép vở không có dòng kẻ li; khi viết sai chữ, không được tẩy xoá mà cần để cách
một khoảng ngắn rồi viết lại.
3/ Những biện pháp thực hiện:
Từ tình hình thực tế của lớp, nguyên nhân và trên cơ sở lý luận đã đưa ra, bản
thân tôi đã cố gắng cải tiến, áp dụng các phương pháp giảng dạy của mình với mục
tiêu rèn học sinh viết được, viết đúng và viết đẹp hơn. Qua quá trình nghiên cứu tôi
đã tìm ra một số biện pháp rèn chữ viết và vân dụng vào thực tế như sau:
- Tập cho các em tô các nét cơ bản bằng bút chì (giai đoạn đầu của lớp một)
- Cung cấp đầy đủ kiến thức về các nét cơ bản: nét ngang, sổ thẳng, xiên phải, xiên
trái, móc xuôi, móc ngược, móc hai đầu, cong hở trái, cong hở phải, cong kín, khuyết
trên, khuyết dưới, nét thắt …. Cho học sinh nắm thật vững học sinh nào viết các nét
chưa đúng, chưa đẹp yêu cầu rèn ngay tại lớp hoặc ở nhà đến khi viết được mới thôi.
Qua phần rèn viết âm, tiếng, từ các em chỉ cần ghép các nét đã học viết tạo thành âm,
tiếng dễ dàng hơn.
- Giáo viên hướng dẫn kĩ phần cấu tạo nét chẳng hạn: Con chữ a gồm nét cong c
(cong trái) và nét l (móc ngược). Chữ b gồm nét khuyết trên và nét
ϑ
(nét thắt trên).
- Cho học sinh xác định được độ cao từng con chữ mà Quyết định 31/2002/QĐ-
BGD&ĐT ngày 14/6/2002 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo quy định. Mẫu chữ
cái viết thường: Các con chữ: h, b, g, y, l được viết với chiều cao 2,5 đơn vị (tức 5 ô
li).
+ Chữ cái t được viết với chiều cao 1,5 đơn vị (3 ô li vở)
+ Chữ cái r, s được viết với chiều cao 1,25 đơn vị

- Học sinh viết sai giáo viên sửa ngay tại lớp.
- Về nhà giáo viên cần định hướng rõ phần bài viết ở nhà để các em tự rèn ở nhà dễ
dàng hơn.
14
- Mặt khác cho học sinh thi đua viết giữa bạn này với bạn kia hoặc tổ này với tổ kia
để tạo sự thích thú học tập cho học sinh.
- Giáo viên thường xuyên uốn nắn, nhắc nhở, cầm tay học sinh viết yếu, viết chưa
được nhằm giúp các em cố gắng rèn chữ viết.
- Giáo viên thường xuyên kiểm tra bài viết ở nhà của học sinh để xem học sinh tự học
đến mức độ nào để cho giáo viên giúp đỡ và rèn luyện thêm.
- Kết hợp với gia đình, phụ huynh học sinh, giúp phụ huynh học sinh hiểu được tầm
quan trọng của chữ viết. Mặt khác, giáo viên phải tìm hiểu hoàn cảnh gia đình của
từng em. Thường xuyên đến thăm gia đình để kịp thời nắm bắt tình hình học tập ở
nhà của học sinh. Từ đó, giáo viên kịp thời phối hợp giữa nhà trường và gia đình để
có biện pháp rèn luyện tốt hơn.
- Giáo viên nắm chất lượng học tập ngay từ đầu năm để sắp xếp chỗ ngồi cho hợp lý.
Em có chữ viết đẹp ngồi cạnh em viết chưa đẹp tạo điều kiện học bạn.
- Đưa em viết chưa được, chưa đẹp lên ngồi bàn đầu để giáo viên cầm tay, uốn nắn,
nhắc nhở thuận tiện hơn.
- Hằng ngày, giáo viên phải uốn nắn nhiều đến học sinh viết chưa được, chưa đẹp.
- Giáo viên khắc sâu biểu tượng về chữ cho các em bằng nhiều con đường: kết hợp
mắt nhìn, tai nghe, tay luyện tập. Điều này giúp các em chủ động phân tích hình
dáng, kích thước mẫu chữ, tìm sự giống và khác nhau giữa chữ cái đang học với chữ
cái đã học trước đó trong cùng một nhóm. Chẳng hạn khi dạy chữ cái h giáo viên có
thể đặt câu hỏi: “Chữ h cấu tạo bằng những nét nào? (nét khuyết trên và nét móc 2
đầu), chữ cái h có độ cao mấy đơn vị chữ? (cao 2,5 đơn vị), chữ cái h giống chữ cái l
đã học ở nét nào? (giống nét khuyết trên) …”. Vai trò của người giáo viên ở đây là
người tổ chức hướng dẫn học sinh phân tích cấu tạo chữ cái để học sinh nắm được
chắc chắn sau đó tiến hành luyện viết dễ dàng hơn.
- Giáo viên cần chú ý đến những giai đoạn của quá trình tập viết chữ. Việc hướng dẫn

trên lớp việc tự rèn, tự học khi ở nhà. Sử dụng tốt đồ dùng dạy học nhất là bộ chữ
mẫu kết hợp chữ viết đúng mẫu rõ ràng và đẹp của giáo viên. Từng bước cải tiến
được phương pháp giảng dạy, mạnh dạn sử dụng ling hoạt các phương pháp áp dụng
ngay vào tình hình thực tế học sinh của lớp mình đang phụ trách.
C. PHẦN KẾT LUẬN
16
Tóm lại, muốn học sinh lớp 1 viết được chữ, viết đúng cỡ chữ và kỹ năng viết
đẹp đòi hỏi người giáo viên cần phải:
- Giáo viên có đức tính kiên trì, chịu khó, hết lòng vì học sinh, u nghề mến trẻ với
phương châm: “ Tất cả vì học sinh thân u”.
- Cho học sinh xác định được tầm quan trọng của chữ viết, chịu khó rèn luyện kỹ
năng viết cho học sinh bằng nhiều hình thức khả thi nhất đối với học sinh lớp mình.
- Giáo viên phải vận dụng phương pháp quan sát và phương pháp thực hành là chủ
yếu
- Giáo viên dùng hình thức nêu gương em viết chữ đẹp ở lớp, ở khối cho học sinh
biết. Từ đó, học sinh xác định động cơ học tập đúng đắn của mình. Mặt khác, tự tạo
mọi điều kiện để học bạn.
- Giáo viên thường xun nhận xét, tun dương sự tiến bộ về chữ viết của học sinh
trong từng bài viết để học sinh thấy sự tiến bộ của mình dù chỉ là một tiến bộ nhỏ. Từ
đó học sinh tích cực rèn luyện nhiều hơn nữa.
- Giáo viên phải mẫu mực sư phạm, chữ viết đúng chuẩn, rõ ràng, đẹp.
- Phát huy cơng tác chủ nhiệm lớp, tìm hiểu rõ ngun nhân vì sao học sinh viết chưa
đẹp để giáo viên có biện pháp thích hợp, dạy nâng dần chất lượng chữ viết của lớp
lên.
- Giáo viên tạo điều kiện phối hợp mơi trường giáo dục giữa nhà trường và gia đình
học sinh.
Trên đây là một số biện pháp rèn chữ viết đẹp cho học sinh lớp 1. Là một giáo
viên chủ nhiệm lớp, nếu như chúng ta thực hiện đảm bảo các nội dung, chương trình
và biện pháp đã nêu trên, Tơi tin tưởng rằng chúng ta sẽ đạt được những kết quả như
mong muốn để kế thừa vẻ đẹp của chữ viết truyền thống dân tộc. Đào tạo những học

Đánh giá của HĐKH nhà trường: Chủ tịch HĐKH
Đánh giá của HĐKH Phòng GD&ĐT Quảng Trạch:
Chủ tịch HĐKH
19
20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status