Bài thuyết trình các nhóm vi sinh vật gây bệnh thường gặp trong môi trường nước vi sinh vật chỉ thị, ý nghĩa của vi sinh vật chỉ thị - Pdf 27


Trường Đại Học Dân Lập Phương Đông
Đề tài: Các nhóm vi sinh vật gây bệnh
thường gặp trong môi trường nước. Vi sinh
vật chỉ thị, ý nghĩa của vi sinh vật chỉ thị
Khoa CNSH và MT

Danh sách thành viên:
1.Trần Như Quyết (TN) -513303065
2. Bạch Hải Ninh -513303055
3. Lê Duy Khánh -513303034
4. Phan Hồng Sơn -513303068
5. Trần Như Khánh -513303035

I. Vi sinh vật
Vi sinh vật là những sinh vật đơn bào có kích thước nhỏ, không quan
sát được bằng mắt thường mà phải sử dụng kính hiển vi có độ phóng
đại từ vài chục lần.
Thuật ngữ vi sinh vật không tương đương với bất kỳ đơn vị phân loại
nào trong phân loại khoa học. Nó bao gồm cả virus, vi khuẩn, vi nấm, vi
tảo, động vật nguyên sinh v.v.v
2.Sự phân bố của VSV:
Chúng phân bố rất rộng rãi trong tự nhiên: trong đất, trong nước,
trong không khí thậm chí chúng sống cả trong cơ thể động vật và thực
vật.
Các nhóm VSV: Virus, vi khuẩn (Bacteria), xạ khuẩn (Actinomycetes),
vi khuẩn lam( Cyanobacteria), nấm mốc (Fungy), nấm men(Yeast), động
vật nguyên sinh(Protozoa, hay Protozoobacteria), tảo (Algae).
1. Khái niệm:

II. Vi sinh vật gây bệnh trong nước

gian gần đây là: các động vật nguyên sinh Giardia và Cryptosporidium, các
vi khuẩn Campylobacter, Salmonella, Shigella, Vibrio, và Mycobacterium,
các virus viêm gan A (có thể truyền bệnh qua nước còn loại B do truyền
máu) và Norwalk.

Vi sinh vật muốn gây bệnh phải phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Năng lực gây bệnh của vi sinh vật: Độc tố và sức xâm nhập của vi
sinh vật.
- Số lượng vi sinh vật: vi sinh vật gây bệnh phải có số lượng nhất định
mới có khả năng gây bệnh.
- Đường xâm nhập: Đường xâm nhập phải thích hợp, nếu không thì
không thể gây bệnh. Như trực khuẩn uốn ván chỉ gây bệnh khi xâm nhập
vào cơ thể qua vết thương ở da; trực khuẩn lỵ, thương hàn phải qua
đường tiêu hóa,…
- Yếu tố đề kháng của cơ thể.
- Yếu tố tự nhiên và xã hội.
Sự có mặt của vi sinh vật trong nước uống phải liên tục được giám
sát để đảm bảo rằng nước không chứa các tác nhân lây nhiễm.

Trong số những bệnh truyền nhiễm qua nước thì những bệnh đường
ruột chiếm nhiều nhất. Đa số các loài vi khuẩn gây bệnh đường ruột đều
giống nhau về hình thái, sinh lý và thuộc họ Enterobacteriaceae. Chúng là
loại trực khuẩn kích thước 1 - 3 x 0,5 - 0,6 μ, gram âm, không tạo ra bào tử
và không có giáp mạc. Các loài vi khuẩn của từng bệnh khác nhau về hoạt
tính men, khả năng vận động.
a. Vi khuẩn gây bệnh đường ruột cho người, gia súc, gia cầm
Trực khuẩn đường ruột (Escherichia), vi khuẩn bệnh thương hàn và phó
thương hàn - typhor và paratyphos (Saimonella), vi khuẩn bệnh lỵ Disenterie
(Shigella), vi khuẩn bệnh tả (Vibrio cholerae).
- Vi khuẩn Shigella: Xâm nhập vào cơ thể qua miệng rồi phát triển ở niêm mạc,

Amip lỵ thường gặp trong nước, đất và trong cơ thể người. Amip gây bệnh lỵ có
tên là Eltamoeba histolytica.
- Bệnh bại liệt - Polyomealit - thường xảy ra ở trẻ em. Bệnh do virut xâm nhập
vào các cơ quan hệ tiêu hoá. Loại virut này rất bền vững. Nó chịu đựng được
điều kiện khô ráo, nhiệt độ thấp, đun sôi tới 600C là chết trong vòng 15 đến 20
phút. Các chất sát trùng ở nồng độ thường dùng đều tiêu diệt được virut bại liệt.

- Bệnh Tularê : Bệnh này biểu hiện bề ngoài có điểm giống bệnh dịch hạch.
Tuy nhiên đó chỉ là bề ngoài mà thôi. Bệnh này truyền bằng nhiều đường
nhưng phần lớn truyền qua nước là chính. Nguồn truyền bệnh là chuột
cống, chuột đồng và chuột nhà.
- Bệnh viêm kết mạc: Thủ phạm gây ra viêm kết mạc chính là vi khuẩn
Chlamydia Trachomatis hay gặp trong nước. Viêm kết mạc cũng có
thể do hóa chất, do các loại vi khuẩn khác có mặt trong nước bể bơi
không được vệ sinh tốt.
c. Các bệnh truyền nhiễm do virus
Ngoài những bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn còn có nhiều bệnh khác truyền
qua nước do virus. Điển hình nhất là bệnh poliomielit. Bệnh bại liệt trẻ em hay
còn gọi là bệnh viêm tuỷ xám, bệnh do loại virus. Đó là loại virus rất bền vững.
Nó chịu đựng được cả nhiệt độ sấy nóng và nhiệt độ thấp. Tuy nhiên nếu tăng
nhiệt độ tới 600C thì hoạt tính của chúng giảm và trong vòng 15 -> 20 phút là
chúng bị tiêu diệt. Loại virus này có rất nhiều trong nước thải. Nhưng khi xử lý
nước thải trong bể aêrôten hoặc xử lý cặn trong bể mêtan thì chúng đều bị
tiêu diệt.

Các công trình xử lý nước cấp khử được hầu hết các loại virus này bằng
cách khử trùng nước cấp với Clo với nồng độ dư 0,2 - 0,5 mg/l.
Sau đây là hình ảnh về một số vi sinh vật gây bệnh:
Candida albicans (dạng lưỡng hình)
Gây bệnh “nhiễm nấm men” ở người

4. Các tiêu chí để lựa chọn vi sinh vật chỉ thị:
Cần xác định sinh vật đó là chỉ thị cho cái gì. Những sinh vật chỉ thị
môi trường thường được đề cập bởi tính chất sau:
- Vật chỉ thị dễ dàng định loại.
- Dễ thu mẫu ngoài thiên nhiên, dễ nuôi trồng trong điều kiện thí nghiệm.
- Dễ tích tụ chất ô nhiễm mà không bị chết.
- Có nhiều dẫn liệu về sinh thái cá thể của đối tượng nghiên cứu để đảm bảo
rằng chất ô nhiễm mà nó tích tụ có liên quan đến khu vực nghiên cứu.
- Có kích thước vừa phải để có thể cung cấp những mô đủ lớn cho việc
phân tích.
- Có phân bố rộng để có thể đối chiếu giữa các khu vực.
- Có đời sống dài để có thể lấy mẫu nhiều lần khi cần.
- Ít biến dị.

Trong thực tế, khó có loài sinh vật nào đáp ứng được tất cả các tiêu chí. Tuy
nhiên, những sinh vật được lựa chọn cho nghiên cứu phải đáp ứng được một
hoặc một vài tiêu chí trên.
5. Các loại vi sinh vật chỉ thị:
- Thực vật cỡ lớn: như bèo, lau, sậy, thường có mặt ở vùng nước tù hãm.
Thường dùng chỉ thị cho thực vật phú dưỡng (nguồn thải chứa N, P), kim
loại nặng. Có nhiều ưu điểm khi sử dụng đối tượng này: dễ lấy mẫu, dễ
phân biệt, số lượng nhiều, phân bố rộng, có khả năng chống chịu với mức
ô nhiễm cao.
-
Động vật nguyên sinh: là các loài động vật trong nước chỉ có 1 tế bào và
sinh sản theo cơ chế phân bào. Kích thước rất nhỏ (lớn nhất cũng chỉ vài
centimét). Chúng có khả năng thực hiện đầy đủ các hoạt động sống như một
cơ thể đa bào hoàn chỉnh, chúng có thể thu lấy thức ăn, tiêu hóa, tổng hợp,
hô hấp, bài tiết, điều hòa ion và điều hòa áp suất thẩm thấu, chuyển động và
sinh sản.

- Đặc điểm sinh lý của sinh vật chỉ thị: Mức độ tích tụ và đặc biệt là sự cân bằng
các chất trong cơ thể sinh vật phụ thuộc nhiều vào đặc điểm sinh lý của sinh vật
tích tụ. Các đặc điểm đó bao gồm: quá trình trao đổi chất, lượng mỡ dự trữ, khả
năng bắt mồi, khả năng sinh sản Những sinh vật có quá trình trao đổi chất mạnh
hơn (ví dụ như cá) thì có khả năng tích tụ nhanh hơn ngay cả trong điều kiện
nguồn thức ăn bị hạn chế.

- Tuổi và kích thước của sinh vật chỉ thị: nó có mối quan hệ chặt chẽ với
nồng độ các chất tích tụ trong cơ thể chúng. Đây là yếu tố ảnh hưởng lớn
đến kết quả đánh giá đặc biệt đối với cá.
- Sự ảnh hưởng giữa các chất: Trong môi trường tồn tại nhiều chất ô
nhiễm thì sẽ ảnh hưởng đến khả năng tích tụ của sinh vật, có thể làm
tăng hoặc giảm khả năng tích tụ.
- Sự biến đổi của môi trường: Những biến đổi này bao gồm sự thay đổi
nhiệt độ, độ cứng, độ mặn, độ đục Nhiệt độ không chỉ ảnh hưởng đến độ
tan của rất nhiều chất mà còn ảnh hưởng đến khả năng tích tụ của sinh vật.
Nước cứng làm giảm tính độc của một số kim loại nặng trong môi trường.
Độ mặn và độ đục là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến mức độ hấp thụ
của các sinh vật, đặc biệt ở vùng cửa sông.
- Bậc dinh dưỡng: Bậc dinh dưỡng cũng là một trong số các nhân tố quan trọng
ảnh hưởng đến nồng độ kim loại nặng tích tụ trong cơ thể sinh vật nhất là những
sinh vật hấp thụ qua thức ăn.

7. Ý nghĩa của vi sinh vật chỉ thị
a.Ý nghĩa của chỉ tiêu vệ sinh về trực khuẩn đường ruột
Trực khuẩn đường ruột là nguồn gốc đầu tiên gây ra các bệnh thương
hàn, phó thương hàn và lỵ. Trong quá trình tiến hoá của mình nó có khả năng
ký sinh vào vật thể sống đồng thời mất dần khả năng sử dụng trực tiếp các
chất hoá học khác làm thức ăn. Từ đó hình thành các loại trực khuẩn gây ra
các bệnh trên đây. Nhóm trực khuẩn đường ruột Escherichia Coli có rất nhiều


Có hai loại giun sán là : giun sán địa chất và giun sán sinh học. Giun
sán địa chất là loại giun sán mà trong quá trình phát triển không cần nhờ
vật chủ trung gian. Giun sán sinh học là loại phải sống nhờ vào hai hoặc
ba vật chủ trung gian.Giun địa chất gồm: Giun đũa, giun kim, giun tóc
Giun sinh học gồm giun búi, sán chỉ, sán xơ mít, giun xoắn Môi trường
bên ngoài (đất, nước) bị nhiễm bẩn bởi giun sán là do nhiễm phân chứa
giun sán.Con người bị nhiễm giun sán là do ăn phải trứng giun hoặc bọ ở
trong nước, trái cây, thức ăn, tươi sống.
Trong nước thải sinh hoạt và do đó nước sông hồ bị nhiễm bẩn bởi
nước thải nên cũng chứa nhiều loại giun như giun đũa , giun kim,
Trong ruột người, động vật chứa rất nhiều trứng giun, trứng giun này theo
phân ra môi trường bên ngoài - lẫn vào đất, nước, trái cây, rau tươi Từ
đó chúng lại xâm nhập vào người, động vật và gây ra không ít những
bệnh hiểm nghèo.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status